bài nhóm 1 sở hữu trí tuệ - Pdf 13

MỤC LỤC
1
ĐỀ BÀI
TÌNH HUỐNG SỐ 03
Ca sĩ H được công ty sản xuất băng đĩa X mời đến hát để ghi đĩa. Theo thỏa
thuận, mỗi bài hát được ghi âm cô H được trả 10 triệu đồng và tổng cộng Công ty
X đã ghi âm 1 đĩa bao gồm 16 bài hát do cô H thể hiện. Nhà mạng S ký hợp đồng
với công ty X để được sử dụng 25 băng đĩa do Công ty X thực hiện ( trong đó có
đĩa nhạc do cô H thể hiện) để phục vụ cho khách hàng của nhà mạng làm nhạc
chuông, nhạc chờ. Khi thấy nhà mạng S sử dụng các bài hát do mình thể hiện để
làm nhạc chuông, nhạc chờ, cô H rất bức xúc và yêu cầu nhà mạng S phải chấm
dứt ngay và bồi thường thiệt hại cho cô do xâm phạm quyền của người biểu diễn;
nếu muốn tiếp tục sử dụng thì phải trả tiền cho cô. Cô H cũng khẳng định rằng cô
chưa bao giờ cho phép Công ty X sử dụng các bài hát do cố thể hiện để làm nhạc
chuông, nhạc chờ điện thoại. Ngược lại, Công ty X và nhà mạng S cho rằng Công
ty X là chủ sở hữu bản ghi âm trên nên họ có quyền chuyển giao quyền khai thác
bản ghi âm này cho nhà mạng S.
Bằng những kiến thức đã học, các bạn hãy phân tích tình huống trên và đưa
ra phương án giải quyết.
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thưởng thức các giá trị nghệ thuật và làm phong phú đời sống văn hóa, tinh
thần là nhu cầu cơ bản của con người và đó cũng là một yếu tố xuyên suốt lịch sử
loài người. Tuy nhiên, việc ghi nhận và bảo hộ quyền của những người đóng góp
sáng tạo trí tuệ của mình cho sự thỏa mãn nhu cầu cơ bản ấy dường như vẫn là một
vấn đề mới mẻ. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam mới tham gia và sân chơi WTO-
một trong những trụ cột của WTO là Sở hữu trí tuệ, Luật Sở hữu trí tuệ của chúng
ta ra đời còn khá sớm, non trẻ, lịch sử hình thành lại khá đặc biệt khi có sự “phát
tiển ngược”. Vì vậy, trên thực tế, do các quy định của pháp luật còn chưa thực sự
đồng bộ, có nhiều điểm chồng chéo nhau, việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ gặp khá nhiều khó khăn. Trong bài tập này, nhóm số 3 lớp

2. Người biểu diễn
Người biểu diễn là người sử dụng tác phẩm của người khác một cách sang
tạo trong sẹ thể hiện các tác phẩm văn học nghệ thuật, bao gồm diễn viên, ca sĩ ,
4
nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học nghê thuật.
nếu người biểu diễn tự mình đầu tư tiền cũng như cơ sở vật chất để thực hiện cuojc
biểu diễn thì họ đồng thời là chủ sở hữu của quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn
đó.; nếu như họ không phải là người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất như trên thì họ
chỉ đơn thuần là người biểu diễn, còn tổ chức- cá nhân đã đầu tư chính là chủ sử
hữu của quyền liên quan.
Quyền nhân thân là những quyền gắn liền với người biểu diễn, bao gồm:
- Được giới thiệu tên biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng
cuộc biểu diễn
- Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa,
cắt xén, xuyên tạc dưới bất cứ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và
uy tín người biểu diễn.
Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực
hiện các quyền sau đây ( điều 29, khoản 3 Luật SHTT)
- Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình.
- Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình trong bản ghi âm,
ghi hình.
- Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của
mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường
hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng.
- Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình
thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kì phương tiện kĩ
thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
Ngoài các quyền nói trên thì NBD cũng có các nghĩa vụ như: phải xin phép
tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm trước khi sử dụng tác phẩm của họ để trình diễn
và chỉ được biểu diễn khi có sự đồng ý của tác giả- chủ sở hữu tác phẩm trong

danh của tác giả, trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, đảm bảo sự toàn
vẹn của tác phẩm. Đối với tác phẩm đã được công bố, nhà sản xuất bản ghi âm
không phải xin phép tác giả nhưng vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ trên.
Thứ hai, khi sử dụng chương trình của người biểu diễn để sản xuất bản ghi
âm, nhà sản xuất bản ghi âm phải giao kết hợp đồng với chủ sở hữu quyền liên
quan đối với cuộc biểu diễn, phải nêu tên thật của người biểu diễn và phải trả thù
lao cho họ.
II. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Tóm tắt tình huống
 Về chủ thể:
- Ca sĩ H là người được công ty sản xuất băng đĩa X mời đến hát để ghi đĩa.
Ca sĩ H dã thể hiện giọng hát cũng như các kĩ thuật thanh nhạc của mình để
trình bày 16 ca khúc( đã được ghi âm trong đĩa nhạc), vậy trong trường hợp
này thì ca sĩ H là người biểu diễn. Tuy nhiên: ca sĩ H được công ty X mời
đến hát, sau đó được trả thù lao, chứ không phải H bỏ tiền từ đầu đến cuối
để thực hiện đĩa nhạc đó. Vậy: ca sĩ H là người biểu diễn nhưng không đồng
thời là nhà đầu tư.
- Công ty sản xuất băng đĩa X: là người đã mời ca sĩ H đến hát để ghi đĩa,
công ty cũng đã trả tiền thù lao cho ca sĩ với mức 10 triệu đồng cho một bài
hát ghi âm được, đĩa nhạc có tổng cộng 16 bài, số tiền công ty X phải thanh
toán cho H khi mời ca sĩ này đến hát là 10 000 000 x 16= 160 000 000 ( một
trăm sáu mươi triệu đồng). Như vậy: để có được sản phẩm là đĩa nhạc: công
ty X đã phải bỏ ra một khoản tiền khá lớn để thuê ca sĩ H thể hiện các ca
khúc, đồng thời, các chi phí khác liên quan đến cơ sở vật chất (phòng thu,
7
thiết bị kĩ thuật, kĩ thuật viên hỗ trợ việc ghi âm,…) để thực hiện việc ghi âm
công ty này cũng phải bỏ ra. Như vậy: công ty X là nhà đầu tư, đồng thời là
nhà sản xuất bản ghi âm trong tình huống này.
- Nhà mạng S: là tổ chức sử dụng bản ghi âm đã được công bố trong hoạt
động kinh doanh, thương mại. Theo hướng dẫn tại điều 35, khoản 2 Nghị

xác định đó là căn cứ để giải quyết vì nó sẽ mất đi tính khách quan. Vì vậy: để giải
quyết tình huống này, nhóm chúng em giải quyết tình huống theo khả năng có thể
xảy ra. Cụ thể như sau:
2.1. Trường hợp 1: trong hợp đồng, ca sĩ H đồng ý sẽ không đòi hỏi
thêm quyền lợi vật chất - không đòi hỏi thêm thù lao từ cá nhân,
tổ chức sử dụng bản ghi âm.
Thứ nhất: việc công ty X kí hợp đồng cho phép nhà mạng S sử dụng 25 đĩa
nhạc, trong đó có đĩa nhạc mà ca sĩ H thể hiện để làm nhạc chuông, nhạc chờ là
không hề xâm phạm đến quyền của người biểu diễn- ca sĩ H. Bởi như đã phân tích
ở trên: công ty X là chủ đầu tư, đồng thời là nhà sản xuất bản ghi âm nên họ có các
quyền tài sản như quy định tại điều 30 Luật SHTT 2005. Việc nhà mạng S sử dụng
các bản ghi âm đó làm nhạc chuông, nhạc chờ điện thoại cũng có thể coi là việc
phân phối bản sao bản ghi âm đến công chúng, công ty X là chủ đầu tư đồng thời
là nhà sản xuất bản ghi âm cho nên có quyền cho phép tổ chức cá nhân khác thực
hiện quyền này, trong tình huống là nhà mạng S.
Thứ hai: theo điều 33, khoản 2 Luật SHTT thì ca sĩ H có quyền được nhận
thù lao từ phía các tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm vào mục đích kinh doanh
thương mại. Nếu ca sĩ H trong hợp đồng xác lập trước khi thực hiện việc ghi âm đã
thể hiện ý chí rõ ràng là sẽ không đòi hỏi thêm thù lao từ các tổ chức, cá nhân sử
dụng bản ghi âm; thì trong trường hợp này chỉ cần thực hiện theo đúng sự thỏa
9
thuận đó, đương nhiên là với điều kiện các bên phải cung cấp được chứng cứ xác
thực- là bản hợp đồng giữa công ty X và ca sĩ H.
2.2. Trường hợp 2: trong hợp đồng, công ty X và ca sĩ H thỏa thuận
về việc trả thù lao cho ca sĩ khi có tổ chức cá nhân sử dụng bản
ghi âm theo quy định của pháp luật.
Tại điều 35, khoản 2 Nghị định 100/2006/NĐ-CP có hướng dẫn việc thực
hiện Luật sở hữu trí tuệ về việc trả thù lao trong trường hợp tổ chức cá nhân sử
dụng bản ghi âm vào mục đích kinh doanh thương mại. Theo đó: việc hưởng tiền
thù lao của người biểu diễn trong trường hợp bản ghi âm, ghi hình được sử dụng

công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm của mình thong qua hình thức bán, cho
thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể
tiếp cận được. Công ty X có quyền cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào sử dụng bản
ghi âm này của mình. Cụ thể trong tình huống này thì công ty X có quyền ký hợp
đồng với nhà mạng S cho phép nhà mạng này được sử dụng 25 bản ghi âm do
mình thực hiện (trong đó có đĩa nhạc do cô H thể hiện) để nhà mạng này được
phép khai thác bản ghi âm. Hợp đồng giữa công ty X và nhà mạng S là hợp pháp.
Do đó, việc nhà mạng S sử dụng những bài hát do cô H thể hiện trong đĩa nhạc để
làm nhạc chuông, nhạc chờ là hoàn toàn hợp pháp, không hề xâm phạm đến quyền
của người biểu diễn. Vì vậy, việc cô H cho rằng nhà mạng S xâm phạm đến quyền
của người biểu diễn là không có căn cứ, cô H không có quyền yêu cầu nhà mạng S
chấm dứt việc sử dụng các bài hát do cô thể hiện làm nhạc chuông, nhạc chờ, đồng
thời việc cô yêu cầu nhà mạng S bồi thương thiệt hại cho mình là không có cơ sở,
11
bởi việc sử dụng các bài hát này của nhà mạng S là hợp pháp do đã được chủ sở
hữu của bản ghi âm đó là công ty X cho phép.
Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 33 LSHTT 2005 quy định: “Tổ chức, cá nhân sử
dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại
không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thoả thuận cho
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi
hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thoả thuận được thì
thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định
của pháp luật.”. Nếu chiếu theo Điều 29 thì cô H chỉ có các quyền nhân thân,
nhưng theo quy định này thì cô H còn có thêm quyền tài sản đó là quyền được
hưởng thù lao khi cá nhân, tổ chức sử dụng bản ghi âm của cô vào mục đích kinh
doanh, thương mại. Do nhà mạng S sử dụng các bài hát trong đĩa do cô D thể hiện
để phục vụ cho khách hàng của nhà mạng làm nhạc chuông, nhạc chờ là nhằm mục
đích kinh doanh, thương mại (theo hướng dẫn tại điều 35, khoản 2, Nghị định
100/2006/NĐ-CP) nên nhà mạng S tuy không phải xin phép cô H khi sử dụng các
bài hát này nhưng vẫn phải trả cho thù lao cho cô H.

nhau. Người biểu diễn trong qui định tại điều 29 chỉ có các quyền nhân thân nhưng
theo điều 33, khoản 2 lại có thêm cả quyền tài sản: được nhận thù lao từ phía các
tổ chức cá nhân sử dụng bản ghi âm ghi hình. Và khi trả tiền thù lao, thì các tổ
chức, cá nhân sử dụng quyền liên quan vừa phải trả thù lao cho người biểu diễn
vưà phải trả thù lao cho chủ đầu tư, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức
phát song. Thoạt đầu thì có vẻ điều luật nghiêng về phía bảo vệ quyền của người
biểu diễn khi cho họ hưởng thêm quyền lợi về tài sản- vật chất nhưng xét về thực
13
tế, nó để lại không ít hệ lụy. Bởi khi người biểu diễn không đồng thời là nhà đầu te,
thì họ chỉ có một công việc duy nhất đó là: biểu diễn theo thỏa thuận và được nhận
tiền công xứng với công sức, tài năng của mình. Người biểu diễn không đồng thời
là chủ đầu tư thì họ không mất chi phí, cũng không phải chịu rủi ro từ việc kinh
doanh; quan hệ giữa ca sĩ với nhà đầu tư chỉ đơn thuần là quan hệ hợp đồng, với
công sức họ bỏ ra thì họ đã nhận được giá trị vật chất xứng đáng theo hợp đồng. Vì
vậy; theo quan điểm của nhóm thì trong trường hợp này, việc để cho người biểu
diễn có quyền nhận thù lao là sẽ gây khó khăn hơn cho cá nhân, tổ chức sử dụng
bản ghi âm, ghi hình khi họ sẽ phải trả tiền nhiều lần, cho nhiều chủ thể quyền
khác nhau; trong nhiều trường hợp, tranh chấp phát sinh và kéo dài dai dẳng cũng
làm ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội khác.
Mặt khác: việc quy định cho người biểu diễn(không đồng thời là chủ đầu tư)
cũng được hưởng quyền tài sản sẽ làm cho việc xác định bản chất ai là chủ sở hữu
của bản ghi âm, ghi hình trở nên rắc rối và nảy sinh mâu thuẫn giữa lí luận và thực
tế.
Do đó, pháp luật cần có qui định cụ thể về vấn đề này. Pháp luật nên qui
định tiền thù lao sẽ được trả cho chủ đầu tư, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình hay
tổ chức phát sóng. Hoặc trong trường hợp có sự thỏa thuận đồng chủ sở hữu thì
người biểu diễn, nhà sản xuất hoặc tổ chức phát sóng phải đồng được hưởng thù
lao theo thỏa thuận để tránh tranh chấp xảy ra.
 Rắc rối trong cách thức và thứ tự ưu tiên trả tiền thù lao
Có một câu hỏi cần đặt ra: với những quy định của Điều 33 Luật SHTT sửa

hiện trong điều 29, 30 và 33 Luật sở hữu trí tuệ, theo hướng đó là: thống nhất lại
quyền của người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư. Theo quan điểm của
nhóm thì nên loại trừ quyền tài sản của chủ thể này, đương nhiên là các quyền nhân
15
thân của họ vẫn được tôn trọng bảo vệ. Lí do mà nhóm đưa ra để bảo vệ ý kiến này
như sau:
- Người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì họ không phải bỏ tiền
của, tài sản, công sức để thực hiện cuộc biểu diễn, sản xuất bản ghi âm, ghi
hình. Họ đơn thuần chỉ là được thuê đến để biểu diễn, tiền thù lao của họ đã
được nhà đầu tư thanh toán trên cơ sở sự thỏa thuận ý chí. Quyền và nghĩa
vụ của nhà đầu tư với người biểu diễn chỉ nên được xác lập trên cơ sở phạm
vi điều chỉnh của hợp đồng.
- Người biểu diễn không phải gánh chịu rủi ro trong hoạt động kinh doanh-
sản xuất, lại đã được hưởng thù lao biểu diễn trước đó vì thế; những lợi ích
vật chất phát sinh sau này từ việc cho phép người khác sử dụng bản ghi âm,
ghi hình thì chỉ nên để cho nhà đầu tư/ nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình
hưởng.
- Việc quy định như vậy cũng góp phần bảo vệ lợi ích của các tổ chức cá nhân
sử dụng bản ghi âm, ghi hình và có phần hợp lí hơn.
Mặt khác, nếu có sự thỏa thuận về đồng chủ sở hữu thì người biểu diễn, nhà
sản xuất hoặc tổ chức phát sóng đồng được hưởng thù lao theo thỏa thuận… để
tránh tình trạng tranh chấp.
Thứ hai: chính phủ cần có quy định cụ thể, rõ ràng và hợp lí hơn về cách thức
trả tiền thù lao theo quy định tại điều 33 Luật SHTT. Hơn nữa, về thù lao trả cho
chủ thể quyền hiện nay cũng là một vấn đề khá mở, chủ yếu dựa theo sự thỏa thuận
của các bên nhưng, theo quan điểm của nhóm thì cơ quan quản lí nên có một định
mức để cho sự thỏa thuận của các bên được dễ dàng hơn và hạn chế việc mâu
thuẫn nhau.
Cuối cùng, theo quan điểm của nhóm thì Luật SHTT cũng như các văn bản
pháp luật liên quan nên quy định cụ thể và rõ ràng về việc các bên, cụ thể là người

• Trường đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân Giáo trình
Luật sở hữu trí tuệ (2009)
3. Tài liệu khác:
Bộ bài tập môn Luật sở hữu trí tuệ của Bộ môn Luật sở hữu trí tuệ, Trường
đại học Luật Hà Nội
19


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status