LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, hệ thống doanh nghiệp nhà nước ở nước ta có vai trò hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chưa đảm đương tốt
vai trò đó do trong nó còn tồn tại nhiều bất hợp lý do các giai đoạn phát triển trước
kia để lại. Chính vì thế, bước vào giai đoạn đổi mới về kinh tế, vấn đề cơ cấu lại hệ
thống DNNN đã được đặt ra. Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng đã
khẳng định cần phải đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nươc, trong đo đổi mới kinh
tế là nhiệm vụ trọng tâm và đổi mới hệ thống doanh nghiệp Nhà nước là khâu quyết
định.
Như chúng ta đã biết sau ngày giải phóng đất nước, nhân dân Việt Nam đứng
trước một cơ hội mới để xây dựng và phát triển kinh tế vì có thuận lợi cơ bản là
tiềm năng kinh tế của hai miền có thể bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, do xuất phát
điểm của nền kinh tế thấp kém lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cùng với những
vấp váp, sai lầm trong các chính sách kinh tế nên đến nam 1985, kinh tế nước ta
đã rơi vào khủng hoảng và vòng xoáy của lạm phát.
Kinh tế tăng trưởng thấp, từ năm 1976 đến năm 1985, tổng sản phẩm xã hội
mỗi năm chỉ tăng 4,6%. Đã thế, sản xuất kinh doanh lại kém hiệu quả, chi phí vật
chất cao lên chiếm 41,9% tổng sản phẩm xã hội, năm 1985 tăng lên 44,1% . Dân số
cả nước từ 1975 – 1985 tăng bình quân mỗi năm 2,3% như vậy để đảm bảo đủ việc
làm và thu nhập của dân cư không giảm thì it nhất nền kinh tế phải tăng 7% mỗi
năm. Nhưng trên thực tế nền kinh tế không đạt mức tăng đó nên sản xuất trong
nước luôn luôn không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tối thiểu.
Thu nhập quốc dân sản xuất trong nước chỉ bằng 80-90% nhu cầu sử dụng.
Tích luỹ nhỏ bé, nhưng toàn bộ quỹ tích luỹ và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa
vào nguồn nước ngoài. Trong những năm 1976-1980, thu vay nợ và viện trợ nước
ngoài bằng 38,2% tổng thu ngân sách bằng 61,9% tổng số thu trong nước. Nếu so
với tổng số chi ngân sách thì bằng 37,3%. Ba chỉ tiêu tương ứng của thời kỳ 1981-
1985 lần lượt là 22,4%, 28,9% và 18,6%. Tính đến năm 1985, nợ nước ngoài đã lên
tới 8,5% tỷ rúp và 1,9 tỷ U SD . Bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1% và năm 1985
xuất và dịch vụ quan trọng. Nhìn chung, hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước
đã đóng một vai trò quan trọng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, bằng chính
nội lực của nền kinh tế là chủ yếu.
Trong những năm tới, Việt Nam sẽ đẩy mạnh quá trình hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới với việc thực thi các cam kết về khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA). Hiệp dịnh thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và đàm phán để gia
nhập tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Do đó, các doanh nghiêp Việt Nam, đặc
biệt là doanh nghiệp Nhà nước với tư cách vừa là đối tượng, vừa là động lực chủ
yếu của quá trình phát triển kinh tế, cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình, phải được đảm bảo bằng những chiến luợc cạnh tranh hữu hiệu trên cơ sở
phát huy những lợi thế cạnh tranh. Đây là một nhân tố chính, quyết định sự phát
triển bền vững của bản thân doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế nước ta trong
quá trình hội nhập quốc tế.
Với ý nghĩa như vậy em chọn đề tài “Phương án sắp xếp đổi mới, cơ cấu
lại doanh nghiệp Nhà nước Công ty muối Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp
cao cấp lý luận chính trị.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung đánh giá quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự tồn tại,
phát triển và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước công ty Muối Nam Định thời gian
qua, Một số giải pháp và kiến nghị tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý công ty Muối
Nam Định.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Doanh nghiệp Nhà nước và tính tất yếu khách quan của việc sắp
xếp lại doanh nghiệp Nhà nước qua thực tế công ty Muối Nam Định.
Chương 2: Quá trình đổi mới tổ chức sắp xếp lại công ty Muối Nam Định.
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý công ty muối
Nam Định.
CHƯƠNG I:
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA
nguồn lực để phát triển kinh tế Nhà nước trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu.
Như vây, ở nước ta các DNNN có vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế. DNNN là
bộ phận cơ bản của kinh tế Nhà nước, là lực lượng kinh tế mạnh để Nhà nước giũ
vững ổn định vĩ mô cũng như thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước.
Vai trò quan trọng của DNNN được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau :
- DNNN giữ vững vị trí then chốt nhất của nền kinh tế đảm đương sứ mệnh
bánh lái, đài chỉ huy trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Dựa trên cơ sở tiềm
năng, trình độ công nghệ, tổ chức quản lý của mình DNNN phải tạo ra chuyển biến
có tính chất đột phá về tăng trưởng kinh tế, đồng thời gánh vác vai trò định hướng
chính trị – xã hội cho toàn bộ nền kinh tế.
- DNNN giữ vị trí chủ lực cung ứng những hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cho
sản xuất và tiêu dùng hàng ngày của nhân dân mà các thành phần khác không đảm
đương nổi như cung cấp nước sạch., xây dựng đường xá, vệ sinh môi trường, sản
phẩm cho quốc phòng, an ninh
Ngoài ra DNNN còn phải đảm nhận những nhiệm vụ xã hội rất lớn trong
việc phát triển kinh tế vùng căn cứ cách mạng, vùng sâu, vùng xa nhiều khó khăn,
thực thi các công việc nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, xoá đói giảm nghèo
- DNNN giữ vai trò to lớn thúc đẩy toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Do nguồn vốn xây dựng các cơ sở công nghiệp hiện đại hoá đất
nước. Do nguồn vốn xây dựng các cơ sở công nghiệp hiện đại là rất lớn nên nhà
nước phải trực tiếp đầu tư xây dựng các DNNN công nghiệp lớn, có khả năng cung
cấp trang thiết bị cho các thành phần kinh tế khác để hiện đại hoá, tạo điều kiện để
các thành phần kinh tế khác vươn lên trong quá trình phát triển. Các DNNN là tấm
gương về trình độ tổ chức cao, kỹ thuật hiện đại, quản lý tiên tiến, là nơi đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ quản lý, lao động, kỹ thuật cho các thành phần kinh tế khác.
-DNNN trực tiếp là đối tác liên doanh, hợp tác, thu hút vốn, kỹ thuật, công
nghệ tiên tiến của nước ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế.
- DNNN là các cơ sở sản xuất kinh doanh đóng góp phần lớn cho ngân sách
Nhà nước. Theo con số thống kê năm 2000, các DNNN đã đóng góp 39,9% tổng
sản phẩm, 39,2% tổng thu ngân sách và hơn 50% kim ngạch xuất khẩu; Các doanh
Bước vào thập kỷ 90 khi nước ta chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị
trường định huớng xã hội chủ nghĩa, thì hệ thống DNNN có sẵn tỏ ra không thể
thích ứng nếu không được tái cơ cấu lại. Chính vì thế, từ Đại hội VII của Đảng
cộng sản Việt Nam vấn đề tổ chức sắp xếp lại DNNN đã được đề ra một cách cấp
bách.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, từ năm 1990 hệ thống
DNNN đã bắt đầu được tổ chức sắp xếp lại. Từ đó đến nay, số lượng doanh nghiệp
đã giảm đáng kể từ 12.300 doanh nghiệp (năm 1991) còn 4.250 doanh nghiệp (năm
2.005). Nhờ vậy trình độ tích tụ và tập trung vốn trong DNNN được nâng lên, số
DNNN có vốn dưới 1 tỷ đồng đã giảm từ 50% ( năm 1991) xuống còn 18,2%
( Năm 2.000), tương tự số DNNN có vốn trên 10 tỷ đồng tăng từ 10% lên 25%.
Vốn bình quân của 1 doanh nghiệp đã tăng từ 3,3 tỷ đồng lên 22 tỷ đồng. Sản xuất
kinh doanh đã có sự phát triển và hiệu quả đã được cải thiện. Năm 1999 các DNNN
đã làm ra 40,2% GDP, trên 50% giá trị xuất khẩu và đóng góp 39,2% tổng nộp
ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, vào nửa cuối thập kỷ 90 những thành tựu mà
DNNN đã đạt được chưa đủ để thực hiện vai trò của nó. Bản thân trong hệ thống
DNNN bắt đầu bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế, thể hiện qua các mặt sau:
Một là: các DNNN còn nhỏ bé về quy mô và dàn trải về ngành nghề. Số
doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 59,8% (trong đó vốn từ 1 tỷ trở
xuống chiếm 18,2%), số doanh nghiệp có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm dưới
15,2%. Số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng chiếm tới 25%, nhiều doanh nghiệp
cùng loại hoạt động trong tình trạng chồng chếo về ngành nghề kinh doanh, cấp
quản lý và trên cùng một địa bàn, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. DNNN
cũng còn dàn trải trên tất cả các ngành nghề từ sản xuất đến thương mại, du lịch,
dịch vụ gây tình trạng phân tán, manh mún về vốn trong khi tiềm năng dầu tư của
nhà nước rất hạn chế, làm xé lẻ các nguồn lực nên không thể tập trung cho những
ngành, lĩnh vực then chốt.
Hai là: Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, dẫn đến năng lực cạnh tranh
kém và thua thiệt trong hội nhập kinh tế khu vực quốc tế. Hầu hết các DNNN được
trang thiết bị máy móc , thiết bị từ nhiều nước và thuộc nhiều thế hệ, chủng loại
doanh nghiệp ở địa phương có tỷ lệ cao khoảng từ 27 đến 32%. Phần lớn người lao
động trong các DNNN không được đào tạo hoặc đào tạo lại, ảnh hưởng đến năng
suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Năm là: Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất doanh
nghiệp trong cácDNNN đang có xu hướng giảm dần. Tốc độ tăng trưởng của các
DNNN tử năm 1991 – 2000 đạt bình quân 11%/ năm so với tốc độ phát triển bình
quân của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 14%/năm. Hiệu quả sử dụng vốn
giảm: Năm 1995 cứ 1 đồng vốn Nhà nước tạo ra được 3,46 đồng vốn doanh thu và
0,19 đồng lợi nhuận. Năm 1998 các chỉ tiêu tương ứng chỉ đạt 2,9 đồng và 0,14
đồng. Năm 1998 theo đánh giá chung số DNNN thực sự có hiệu quả chỉ chiếm
khoảng 40%, số bị lỗ liên tục chiêm tới 20% ( Nếu tính đủ khấu hao tài sản cố định
thì tỷ lệ này còn lớn hơn) còn lại 40% là nhưng doanh nghiệp nằm trong tình trạng
lỗ, khi lãi và lãi cũng chỉ là tượng trưng, nói chung là không có hiệu quả.
Sáu là: DNNN đã qua nhiều lần sắp xếp lại nhưng chưa có chuyển biến đáng
kể. Phạm vi DNNN còn rộng, có một số lĩnh vực không cần thiết phải có DNNN.
Cơ chế quản lý của Nhà nước đối với DNNN còn bất cập thiếu chiến lược quy
hoạch dẫn đến việc chồng chéo trùng lặp về nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh , còn
nhiều độc quyền, đặc quyền, vẫn còn hiện tượng bao cấp khoanh nợ, dãn nợ, xoá
nợ, thiếu cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Từ thực trạng nêu trên, việc tiếp tục tổ chức sắp xếp đổi mới DNNN trở
thành nhiệm vụ cấp bách nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
DNNN, đồng thời làm lành mạnh nền tài chính quốc gia, tạo ra chất lượng mới cho
nền kinh tế.
1.2. Quá trình thành lập Công ty Muối Nam Định – Những thuận lợi và khó
khăn
Tỉnh Nam định có 72 km bờ biển, với 980 ha ruộng muối, là tỉnh có sản
lượng muối lớn thứ ba trên toàn quốc, sản lượng muối trung bình mỗi năm trên
dưới 100 ngàn tấn muối .nghề muối ở Nam định hình thành và phát triển trên một
trăm năm nay với trên 2 vạn lao động hầu hết là đồng bào thiên chúa giáo định cư ở
3 huyện Hải Hậu; Giao thuỷ và Nghĩa Hưng.
người hợp đồng với thời hạn không xác định và trên 30 lao động hợp đồng có thởi
hạn Trong đó số lao đông tuổi cao sức khoẻ yếu chiếm tỷ trọng lớn, phần đông lao
động không có chuyên môn nghiệp vụ, chất lượng lao động thấp. Lực lượng cán bộ
quản lý được hình thành từ thời bao cấp, tính năng động không cao, chưa đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ mới trong nền kinh tế thị trường.
Thiết bị, công nghệ của công ty tại thời điểm hợp nhất đã được đầu tư và
khai thác từ lâu, trong đó có nhiều tài sản cố định lạc hậu, không sử dụng được,
không còn phù hợp với tình hình và cơ chế mới.
Vốn lưu động của công ty cộng gộp của cả hai đơn vị cũ là 4,53 tỷ đồng,
trong đó lỗ bàn giao của công ty Muối I là: 998 triệu đồng, công nợ khó đòi 876
triệu đồng, chưa đáp ứng cho nhu cầu vốn lưu động để đơn vị hoạt động bình
thường nên trong sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay do đó chi phí rất
lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của đơn vị.
1.3. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Muối Nam Định và
tính tất yếu đổi mới tổ chức quản lý của công ty muối Nam Định
1.3.1. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Muối Nam Đinh
Sau khi hợp nhất, công ty Muối hoạt động với mô hình bộ máy quản lý như
sau:
GIÁM ĐỐC
Phó giám đốc 1 Phó giám đốc 2
Phòng
tài
chính
kế
toán
Phòng
nghiệp
vụ
kinh
doanh
trong đời sống xã hội. Song trên thực tế giá trị thành tiền của sản phẩm muối lại
rất nhỏ. Trong nền kinh tế tập trung bao cấp ngành muối được bao cấp quá lớn, khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường ngành muối vẫn còn đan xen cả hai hình thức
nửa bao cấp, nửa kinh tế thị trường, do vậy lợi thế kinh doanh thựôc về những đơn
vị, những địa phuơng có trợ cước vận chuyển, trợ giá, còn những đơn vi kinh
doanh theo cơ chế thị trường thì hết sức khó khăn. Công ty Muối Nam Định là đơn
vị hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị truờng, trên địa bàn cạnh tranh hết sức quyết
liệt, đây là vấn đề hết sức bức súc đối với công ty Muối Nam Định.
Sau khi hợp nhất, công ty muối Nam Định đi vào hoạt động tử tháng 7/2001,
trong 3 năm qua tuy gặp nhiều khó khăn trở ngại nhưng công ty thấm nhuần lời dạy
của Chủ Tịch Hồ Chí Minh toàn đơn vị đoàn kết thống nhất thực hiện nhiệm vụ
chính trị của đơn vị. từng bước tháo gỡ khó khăn xác định nhiệm vụ chính trị, thực
hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, chuyên môn triển khai thực hiện Nghị quyết của
Đảng uỷ. Chính vì vậy trên ba năm qua Công ty đã thể hiện được vai trò chủ đạo
của doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt quyết định 80CP của
Chính phủ, phối kết hợp bốn nhà tổ chức đầu tư, thu mua sản phẩm của người làm
muối như sau:
- Năm 2002 công ty thu mua được: 36.337 tấn trong đó có 15.000 tấn muối
nhập khẩu, thu mua trên địa bàn tỉnh 21.337 tấn/62000 tấn đạt 34% sản lượng
- Năm 2003 công ty thu mua được: 30.090 tấn /85.000 tấn chiếm 35% sản
lượng sản xuất kinh doanh
- Năm 2004 công ty thu mua được: 24.500 tấn /70.000 tấn chiếm 35% sản
lượng SX.
Với sự nỗ lực hết sức mình, công ty là địa chỉ tin cậy và là đơn vị tiêu thụ
sản phẩm lớn trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã lấy nhiệm vụ
trung tâm là phát triển kinh tế. Là một doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra của cải
vật chất, tổ chức dịch vụ lưu thông phân phối sản phẩm của mình làm ra, giải quyết
việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định an ninh vùng
biên giới biển. Công ty Muối Nam Định luôn luôn tìm mọi giải pháp gắn với nhu
10- Tiền lương
VNĐ
VNĐ
VNĐ
VNĐ
VNĐ
VNĐ
VNĐ
VNĐ
Người
nghìn
9.890.157.043
8.260.134.058
23.018.156.049
5.100.000
24.696.043
Bù lỗ
8.510.973.661
5.057.431.582
391.000.000
289
540
10.293.021.802
8.560.134.058
18.512.446.769
7.793.000
93.605.157
Bù lỗ
8.357.518.657
5.572.082.085
- Số lao động dôi dư 95 người
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định “ khẩn trương
sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh
phát triển có hiệu quả, nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3 khoá IX xác định mục tiêu 10
năm 2001 – 2010:
“Sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của
DNNN để DNNN góp phần quan trọng đảm bảo các dịch vụ, công ích thiết yếu của
xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiên đại
hoá đất nước theo định hướng XHCN.
Công ty Muối Nam Định là doanh nghiệp Nhà nước đóng trên địa bàn tỉnh
có sản lượng muối lớn, nhiệm vụ của công ty ngoài việc kinh doanh đảm bảo có lãi,
còn có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Tổng công ty giao, tổ chức thu mua
muối cho diêm dân. công ty không thể duy trì một bộ máy cồng kềnh điều hành
kém hiệu quả, lao động đông, tuổi cao không có chuyên môn , năng suất lao động
thấp, tư tưởng ỷ lại trông chờ, tư duy kinh tế thị trường hạn chế. Muốn duy trì ổn
định và tiến tới phát triển doanh nghiệp, bước đột phá đầu tiên phải đổi mới nguồn
lực, nâng cao chất lượng lao động, trẻ hoá đội ngũ, tăng tính năng động sáng tạo để
phù hợp cơ chế mới. Chỉ có đổi mới yếu tố con nguời thì mới thực hiện thành công
việc sắp xếp đổi mới cơ cấu lại doanh nghiệp.
Thứ hai: Với quy mô vốn như hiện nay những năm tiếp sau công ty Muối
Nam Định sẽ hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả vì không có vốn cho thu
mua, không đủ vốn cho nhu cầu dự trữ và không thể chủ động trong hoạt động thu
mua và tiêu thụ, vì sản xuất muối mang tính thời vụ cao, nếu không có lực lượng
vốn đủ lớn thì không thể thu mua số lượng muối sản xuất trong vụ. Chỉ dựa vào
tiền vay ngân hàng thì hiệu quả kinh doanh sẽ rất hạn chế.
Thứ ba: Trình độ công nghệ của doanh nghiệp còn ở mức trung bình thấp so
với mặt bằng sản xuất chung hiện nay. Máy móc thiết bị bán tự động kết hợp với
Thứ sáu: Do quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trường diễn ra ngày càng gay
gắt nên hoạt động thu mua, sản xuất chế biến và tổ chức tiêu thụ ngày càng gặp
nhiều khó khăn. Nếu không đổi mới sắp xếp lại để nâng cao năng lực quản lý,nâng
cao năng suất lao động, giảm chi phí, hạ giá thành sẽ khó tồn tại doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường hiện nay.
CHƯƠNG II:
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TỔ CHỨC SẮP XẾP LẠI
CÔNG TY MUỐI NAM ĐỊNH
2.1. Cơ cấu lại doanh nghiệp, sắp xếp bộ máy, tinh giảm bộ máy nâng cao chất
lượng điều hành
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1991 đến nay, Chính phủ đã
liên tục ban hành các văn bản hướng dẫn việc tổ chức sắp xếp lại các DNNN. Công
ty Muối Nam Định đã áp dụng thực hiện Nghị định số 155/2004/NĐ-CP ngày 10-
8-2004 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định số
41/2002.NĐ-CP ngày 11-4-2002 của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi
dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước. Công ty đã sắp xếp, tinh giảm bộ máy,
nâng cao chất lượng và năng lực điều hành. Giảm số lao động do sức khoẻ yếu,
không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Lựa chọn bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ
cán bộ quản lý. Tuyển dụng mới đội ngũ kỹ sư hoá, kỹ sư công nghệ và công nhân
kỹ thuật để đáp ứng tình hình nhiệm vụ mới có cơ cấu như sau :
2.1.1. Phương án đổi mới nhân lực
- Số cán bộ công nhân viên đến 30.8.2004 244 ngưòi
Trong đó : gián tiếp 45 người
Trực tiếp 199 người
- Só cán bộ công nhân viên sắp xếp ở lại doanh nghiệp : 149 người
Trong đó : gián tiếp 30 người
Trực tiếp 119 người
- Số cán bộ công nhân viên dôi dư giải quyết theo chế
độ 41 và Bộ luật lao động : 95 người
Trong đó : Gián tiếp 10 người
PHÓ GIÁM ĐỐC 1
PHÓ GIÁM ĐỐC 1
PHÓ GIÁM ĐỐC 2
PHÓ GIÁM ĐỐC 2
Chi
Chi
nhánh
nhánh
Hà Nội
Hà Nội
Phòng
Phòng
tài chính
tài chính
kế toán
kế toán
Phòng
Phòng
nghiệp
nghiệp
vụ kinh
vụ kinh
doanh
doanh
Phòng
Phòng
tổ chức
tổ chức
hành
hành
muối
muối
Hải Hậu
Hải Hậu
Xí
Xí
nghiệp
nghiệp
muối
muối
GT
GT
Xí
Xí
nghiệp
nghiệp
muối
muối
NĐ
NĐ
Xí
Xí
nghiệp
nghiệp
muối
muối
HH
HH
Mô hình quản lý mới của công ty tăng thêm một phòng nghiên cứu thị
trường, để điều tra, nắm thị trường, tập trung nghiên cứu thị hiếu của người tiêu
1.035.000.000đ, mở rộng quy mô từ 3 ha sản xuất thử nghiệm lên 30 ha trong năm
2005. Đây là một bước đột phá lớn, bởi không dễ gì xoá bỏ phương thức sản xuất
truyền thống đã có từ trên 100 năm, nay chuyển sang phương thức sản xuất mới.
đó là sự thành công lớn của công ty trong việc áp dụng tiến bộ khoa học, công
nghệ.
2.3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin
- Thông tin là chìa khoá của quyền lực, ai nắm được thông tin người đó nắm
được quyền lực.
Vì vậy việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật thông tin trong quản lý
để công ty ngày càng lớn mạnh, công tác sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
nhất, góp phần nâng cao đời sống cán bộ, công nhân viên, đóng góp ngày càng
nhiều hơn cho ngân sách địa phương. Muốn tăng năng suất, giảm giá thành, có hiệu
quả cao trong sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật mới nhất. Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật có một thuận lợi cơ bản là
dây truyền thiết bị đồng bộ hiện đại. Đội ngũ cán bộ công nhân viên đã được đào
tạo cơ bản, bước đầu đảm nhận được công việc của mình.
Trong cơ chế thị trường, việc nắm bắt nhanh nhạy thông tin nội bộ cũng như
thị trường có một vai trò sống còn cho nhà quản lý ra những quyết định đúng đắn.
Tiến bộ của tin học ngày nay diễn ra với tốc độ nhanh chóng và rộng khắp trong
mọi lĩnh vực. Việc áp dụng những tiến bộ tin học là một lợi thế cho nhà quản lý