BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DA -GIÀY BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài: “Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu,
đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao”
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Chủ nhiệm đề tài: KS. Lê Văn Kha
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011
Tên đề tài: “Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu,
đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao”
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN
Cơ quan chủ trì Chủ nhiệm đề tài
Viện Nghiên cứu Da - Giầy ThS. Nguyễn Mạnh Khôi KS. Lê Văn Kha
HÀ NỘI, NĂM 2011
Viện NCDG Cộng tác viên
4. Nguyễn Hồng Sơn Cử nhân,
Phó quản đốc xưởng
TNTD, viện NCDG
Viện NCDG Cộng tác viên
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 200.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011.
“Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” - KS. Lê Văn Kha
3
DANH SÁCH BẢNG BIỂU Thứ tự bảng Tên bảng Trang
Bảng 1. Thành phần của da đà điểu 10
Bảng 2. Thành phần hoá chất của pigment 19
Thứ tự hình, Tên hình Trang
Hình 1 Bề mặt tấm da đà điểu 9
Hình 2. Sự phân bố và hình dạng các lỗ chân lông trên da đà điểu 10
Hình 3. Da đà điểu đã trau chuốt của nước ngoài 13
Hình 4. Hình dáng và vị trí vẩy cá sấu 13
Hình 5 Hình dáng vẩy ở phần đầu và cổ 13
Hình 6. Cụm vẩy gáy cá sấu 14
Hình 7. Vẩy lưng cá sấu 15
Hình 8. Vẩy bụng cá sấu 16
Hình 9 Vẩy nách và các chi cá sấu 16
Hình 10. Phương pháp vò tay 19
Hình 11. Phu lông quay đập khan 19
Hình 12. Sơ đồ phun xì 24
Hình 13. Sơ đồ máy đánh mặt (buffing machine) 25
Hình 14. Máy đánh bóng trục mã não 26
Hình 15. Máy đánh bóng trục nỷ 26
Hình 16. Sơ đồ máy in 27
Hình 17. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm quay đập khan làm mềm
da đà điểu
55
Hình 18. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm đánh bóng da đà điểu
bằng máy đánh bóng trục mã não
56
Hình 19. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm đánh bóng da cá sấu
bằng máy đánh bóng trục nỷ
57
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” được tiến hành theo
Hợp đồng Đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa
học và phát triển công ngh
ệ số 200.11.RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 5 năm 2011
giữa Bộ Công Thương và Viện Nghiên cứu Da Giầy.
1.1.2 Sự cần thiết của đề tài:
Ở nước ngoài, mặt hàng da thuộc cá sấu, đà điểu đã được quan tâm nghiên cứu
sản xuất do nhu cầu của nền công nghiệp tiêu dùng và du lịch. Một số nước đã có
công nghệ thuộc và trau chuốt hoàn thiện mặt hàng này như: Australia, Ý, Hàn
Quốc, Thái lan…với trình độ kỹ thuật cao, đặc biệt là khâu trau chuốt. Trong khâu
này, họ
đã nghiên cứu chế tạo các máy hỗ trợ chuyên ngành như máy đánh bóng bề
mặt vẩy sừng, máy đánh bóng bề mặt da có vẩy nhỏ. Hóa chất sử dụng ít chứa
pigment, tạo màu sắc cho da hoàn thành phong phú và tự nhiên. Bởi vậy sản phẩm
da thuộc của họ đạt tới trình độ cao, phục vụ tốt cho kinh tế quốc dân. Sản phẩm
chế biến từ các loại da thuộc này được ưa chu
ộng trên thị trường trong nước và thế
giới với các thương hiệu nổi tiếng, có giá trị kinh tế cao.
Khoảng 10 năm lại đây, trong nước cũng đã phát triển mạnh mẽ việc chăn
nuôi cá sấu, đà điểu để xóa đói giảm nghèo cho nông dân vùng sâu. Số lượng đã
tăng lên gần 1 triệu con mỗi loại. Một số cơ sở sản xuất da thuộc cá sấu, đ
à điểu đã
đầu tư trang thiết bị và công nghệ, nhưng do khả năng tài chính và trình độ kỹ thuật
nên chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường, đặc biệt là khâu
trau chuốt.
Bởi vậy, đề tài được nghiên cứu sẽ tạo ra công nghệ trau chuốt mới, nâng cao
chất lượng và hình thức sản phẩm, lại đáp ứng yêu cầu vệ sinh (t
ồn dư các chất độc
hại trong giới hạn cho phép)
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
+ Da cá sấu: Trau chuôt aniline, semianiline, đánh bóng trên máy đánh bóng
trục mã não (glazing machine)
+ Da đà điểu: Trau chuốt không pigment, aniline, chịu nước (waterproof), đánh
bóng trên máy polishing.
- Thử nghiệm các quy trình công nghệ và hiệu chỉnh thông số kỹ thuật qua sản xuất
thí nghiệm.
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp nghiên cứu lý thuyết và thực hành, phân tích đánh giá kết quả qua
từng thí nghiệm, hiệu chỉnh các thông số kỹ thuật trong quá trình thực hiện nhằm
tìm ra quy trình công nghệ tối ưu
.
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 200.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011.
“Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” - KS. Lê Văn Kha
8
1.5. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC:
1.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam đà điểu đã được chăn nuôi trong cả nước, nhưng tập trung nhiều
ở khu vực miền Trung; cá sấu được nuôi chủ yếu ở miền nam và nam Trung bộ;
miền bắc cũng đã có một số trang trại chăn nuôi cá sấu, nhưng chưa phát triển
mạnh. Hiện tại mới chỉ có một số ít cơ sở
thuộc, trau chuốt da. Chủ yếu họ chỉ thực
hiện với công nghệ thuộc và trau chuốt tương tự như đối với da trâu bò. Do đặc
điểm da đà điểu và cá sấu khác với da trâu bò, nên việc thuộc và trau chuốt da như
vậy không nâng cao giá trị của da nguyên liệu. Da cứng, màu sắc không tươi, chân
lông và vân da không nổi bật.
Cơ sở Tồn Phát, KHATOCO và một số cơ sở thuộc da nốt sần khác c
9
Theo nhiều tài liệu, qui trình công nghệ thuộc và trau chuốt da nốt sần với hệ
thống thiết bị hiện đại, đồng bộ được thực hiện trong các nhà máy thuộc da ở các
nước công nghiệp có khả năng dồi dào về kĩ thuật và tài chính.
Các nước có ngành công nghiệp thuộc da phát triển như Italia, CHLB Đức,
Mỹ, Hàn Quốc, CH Séc đã có nghiên cứu và có những công nghệ thuộc, trau
chuốt, chế biến da nốt sần, tạ
o ra các sản phẩm tiêu dùng rất đa dạng, hoàn hảo trên
thị trường được mọi người sử dụng ưa thích [5]. Một số nước Châu Phi như
Zambia ngành chăn nuôi động vật nốt sần rất phát triển, năm 2001 xuất khẩu
120.042 bộ da nốt sần; năm 2005 là 200 nghìn bộ [5]. Zambia cũng đã xuất khẩu
sang Tây Âu da loại này . Năm 2005, 2006, 2007 theo số liệu thống kê ở Mỹ đã
bán với số lượ
ng hàng năm hơn 1 triệu bộ da nốt sần [6]. Ngoài ra ở Úc cũng là
nơi chăn nuôi cá sấu, đà điểu. Hàng năm họ xuất khẩu loại da này ở dạng nguyên
liệu, đồng thời thuộc và chế biến thành các sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu, nhất là Hàn Quốc [4]. Thái Lan nước láng giềng với Việt Nam đã chăn nuôi,
chế biến và xuất khẩu da cá sấu, đà điểu H
ọ thuộc, hoàn thiện và chế biến thành
sản phẩm loại da này với trình độ công nghệ chất lượng cao [9]. Các sản phẩm của
họ được khách hàng ưa chuộng.
1.5.3. Một số cơ sở khoa học áp dụng trong đề tài:
1.5.3.1. Da đà điểu.
Ngoài chức năng bảo vệ cơ thể trước tác động cơ học, da động vật còn có các
chức năng như điều hòa nhiệ
t độ cơ thể, thải bỏ các chất không thích hợp ra khỏi
cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của vi khuẩn, điều hòa lượng nước và là
xúc giác của cơ thể… Với đà điểu có lớp da không dày, lớp lông đóng vai trò quan
trọng bảo vệ cơ thể [5].
Hình thái của da đà điểu: Kính hiển vi điện tử đã cho biết c
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 200.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011.
“Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” - KS. Lê Văn Kha
11
Hình 2. Sự phân bố và hình dạng các lỗ chân lông trên da đà điểu
Thành phần hóa học của da [3] gồm có nước, protein, chất béo và một vài
muối khoáng. Protein là thành phần chính tạo nên da thuộc. Protein gồm có hai
loại:
- Protein dạng sợi: là thành phần chính của da, quyết định tính chất cơ học và
lý học của da. Có 3 nhóm chính là: collagen, elastin và keratin.
- Protein không dạng sợi: globulin, albumin.
Bảng 1. Thành phần của da đà điểu
Thành phần %
Nước 64
Chất béo 2
Muối khoáng 6,5
Thành phần khác (pigment…) 0,5
Protein 33
- Protein cấu trúc sợi:
+ Elastin: sợi vòng trong bó sợi colagen:
+ Colagen: tạo nên da thuộc:
+ Keratin (tạo nên lông, biểu bì):
- Protein cấu trúc không dạng sợi:
+ Albumen, globulin:
0,3
29
(thí dụ: axít hóa), sẽ cản trở sự ion hóa nhóm
cacboxyl, tạo cho amin axít tính cation. Trong môi trường kiềm xảy ra hiện tượng
ngược lại, amin axít mang tính anion.
R
|
H
2
N – C
α
– COOH
|
H
OH
|
C = O
|
H
3
N
OH
-
+ H
+
O
-
|
C = O
|
H
2
N
– C
– H
|
R
H
|
H
2
N
+
– C
– COO
|
R
H
|
H
2
N – C
– COO
-
Me
+
+ H
2
O
|
R
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 200.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011.
“Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” - KS. Lê Văn Kha
13
Amin axít liên kết với nhau, tạo nên peptid, polypeptid va protein nhờ mối liên
kết peptid -CONH Cơ chế của tổng hợp sinh học rất phức tạp. Về mặt hóa học có
thể viết như sau:
nhiều loại lông khác nhau trên mình (lông cánh, lông cổ, lông lưng, lông bụng) nên
bề mặt của tấm da rất khác nhau. Sự khác nhau giữa các lớp lưới và lớp nhú không
rõ rệt, mô liên kết ít phát triển. Da đf điểu chủ yếu dùng để chế biến các sản phẩ
m
có tính mềm mại như túi, ví, cặp và một số giầy dép, thời trang…[5]
H
|
H
2
N – C – COOH |
H
H
|
H
2
N – C – COOH
|
CH
3
H O H
|
|| |
H
2
Nếu bảo quản không đúng kỹ thuật, có thể xẩy ra các khuyết tật sau:
- Khuyết tật do da bị thối: do vi khuẩn phá hủy nên da bị hỏng, mức độ nhẹ là
rụng lông, nặng hơn là phân hủy mặt cật.
- Khuyết tật do da bị mốc: nhất là các lo
ại mốc đỏ, ăn xuyên qua thiết diện da,
khi nhuộm hoặc trau chuốt màu sẽ không đều và không thể xuất khẩu được.
Ở các nước có công nghệ thuộc da tiên tiến, da đà điểu là loại da nốt sần có giá
trị kinh tế cao nhờ các đặc điểm độ mềm và hình thức đặc trưng của nó. Da đà điểu
được trau chuốt nhẹ, với các màu sắc phong phú, nhưng vẫn giữ đượ
c vẻ tự nhiên.
Hình 3. Da đà điểu đã trau chuốt của nước ngoài
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 200.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011.
“Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” - KS. Lê Văn Kha
15
1.5.3.2. Da cá sấu.
Khác với đà điểu, cá sấu không có lông bao phủ, nhưng phía bên ngoài da phát
triển thành lớp vẩy dầy, khô, cứng. Hình dạng, kích thước, độ dày và sự sắp xếp
các vẩy này rất khác nhau ở các vị trí trên cùng một tấm da, cũng như giữa các
giống đà điểu khác nhau [13].
Hình 4. Hình dáng và vị trí vẩy cá sấu
Ở phần đầu, cổ, vẩy có kích thước nhỏ, sắp xếp không theo hàng lối, không
đồng dạng và thưa
Hình 5. Hình dáng vẩy ở phần đầu và cổ
kích thước nhỏ, màu xám, vẩy lưng tròn, cao và sắc cạnh. Cá sấu hoa cà sống ở
vùng nước mặn và nước lợ; kích thước lớn, có vẩy lưng màu vàng và đen xen kẽ
nhau [7].
Da cá sấu có cấu tạo gồm 2 phần chính là biểu bì và bì [9]. Lớp biểu bì rất phát
triển, phía ngoài hoá sừng tạo thành vẩy. Độ dày của lớp biể
u bì tăng theo tuổi con
vật. Keratin không thể coi là 1 loại protein đồng nhất mà có nhiều dạng sinh học
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 200.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011.
“Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” - KS. Lê Văn Kha
18
khác nhau, có tính chất chung là không tan trong nước, có mối liên kết disulfid
trong phân tử. Vẩy được tạo ra từ tế bào keratin ß, có độ dày khoảng 0,2 mm. Vẩy
được chia thành các lớp nhỏ theo mức độ hoá sừng khác nhau:
- Lớp vẩy sừng (corno-neous): là lớp ngoài cùng, do chất sừng phát triển từ
biểu bì, ghép với nhau thành bộ giáp cứng. Khác với lớp biểu bì của các loài động
vật khác, lớp biểu bì này không bị đào thải, mà phát triển dày lên thành vẩy sừng.
- Lớp tiền s
ừng hay lớp chuyển tiếp (pseudosatratified transitional or
precorneous): Gồm 1 – 2 lớp tế bào sừng non hình đĩa. Các tế bào lớp sừng này sẽ
phát triển dày lên thành lớp vẩy sừng.
- Lớp gai (suprabasal cell layer): Được cấu tạo từ các tế bào mỏng. Quá trình
phát triển của lớp gai sẽ tạo thành lớp tiền sừng.
Nối giữa các vẩy là các tế bào có thành phần khác với lớp vẩy: Lớp sừng, lớp
gai và lớp đáy (basal layer), tạo độ m
ềm mại cho da để con vật có thể cử động
được.
“Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” - KS. Lê Văn Kha
19
Công cụ sử dụng xén riềm là kéo hay dao sắc. Tránh xén không hết hay xén
quá các phần cấn xén bỏ.
Hồi ẩm: Sau khi sấy phần lớn da có độ ẩm thấp (khoảng 10%), da rất cứng và
không thể dùng biện pháp cơ học để làm mềm ngay được. Nếu tác động cơ học
ngay, có thể làm gãy mặt da hay hỏng rách máy vò. Để trong không khí ẩm, da sẽ
hút ẩm và đạt độ ẩm 14- 18%. Do đó, da cần hồi ẩm.
Hồi ẩm là quá trình nâng cao
độ ẩm của da bằng cách phun nước dạng sương
lên mặt váng. Sau đó ủ đống, trên phủ bằng nylon trong khoảng 24 giờ. Tránh để
lâu hơn, da sẽ bị mốc. Phương pháp này không đòi hỏi cầu kỳ, nhưng da dễ bị ẩm
không đều khắp vùng.
Phương pháp khác là chất đống da xen kẽ với mùn cưa ẩm. Mùn cưa từ gỗ
mềm, không có đinh hay cát sỏi và được làm ẩm đến độ
ẩm khoảng 40%. Da được
ủ trong mùn cưa từ 24- 36 giờ.
Phương pháp tiên tiến hơn là hồi ẩm bằng điều hoà. Người ta dùng không khí
ẩm, thường là độ ẩm 100% tiếp xúc với mặt da trong phòng hồi ẩm. Phương pháp
này giúp nâng độ ẩm của da rất đều. Tuy nhiên đầu tư tốn kém và thường áp dụng
cho các loại da cao cấp.
Vò mềm: Mục đích của công đoạn vò mềm là làm cấu trúc sợi da trở nên linh
độ
ng, vì trong quá trình sấy, các sợi da dính chặt với nhau. Khi cấu trúc sợi linh
động, các sợi da dễ dàng dao động trượt cạnh nhau, da trở nên mềm mại.
Vò mềm có thể thực hiện bằng tay, máy hoặc các động tác cơ học như quay
đập khan trong phu lông.
Vò tay: Dụng cụ vò là một tấm sắt hình lưỡi liềm gắn trên khung gỗ. Hai tay
người vò cầm chắc hai đầu da, áp mặt váng vào lưỡi sắt, tỳ kéo qua kéo lại cho
Trau chuốt là công đoạn cuối cùng và là một trong các công đoạn rất quan
trọng trong công nghệ thuộc da.
Mục đích công đoạn trau chuốt là nâng cao chất lượng và làm tăng khả năng sử
dụng của da thành phẩm. Trau chuốt tạo màu sắc, khắc phục các khuyết tật tư nhiên
và công nghệ trong các giai đoạn trước như sẹo ghẻ, lỏng mặt…đồ
ng thời tạo hình
thức, hoa văn và lớp bảo vệ trên bề mặt da.
Lớp trau chuốt cần bền vững đối với các tác động va chạm, với ánh sáng, nhiệt
độ cao hoặc thấp, đáp ứng các tiêu chuẩn uốn gấp, mài nỉ khô, ướt. Đặc biệt, nó cần
bền vững với các dung môi hữu cơ như toluene, acetone. Cuối cùng trau chuốt cần
phải làm sao để vẫn bảo đảm các đặc tính
ưu việt của da thật như hình thức, khả
năng thoát khí, hơi…
Thành phần hoá chất trau chuốt:
Phẩm nước: Là phẩm màu aniline dạng chất lỏng, có thể hoà tan trong nước
hay dung môi (có cực hoặc không cực).
Phẩm nước thường dùng trong trau chuốt aniline hoặc semianiline, hoặc pha
vào chất bóng hãm.
Pigment: Pigment là chất màu không hoà tan mà chỉ khuyếch tán trong nước.
Do đó kích thước hạt (độ mịn) rất quan trọng. Pigment được dùng trong dung dịch
trau chuốt tạo màu sắ
c cho da.
Pigment vô cơ chủ yếu là các ô xýt kim loại như BaO, TiO
2
, FeO,…Pigment
hữu cơ tự nhiên hoặc tổng hợp có màu sắc tươi hơn pigment vô cơ, nhưng khả năng
che phủ lại thấp hơn pigment vô cơ. Muốn tạo màu tươi, nên trộn lẫn pigment vô
cơ và hữu cơ, nhưng cần lưu ý tránh bị phân lớp.
Bảng 2. Thành phần hoá chất của pigment
Màu Bản chất của pigment
hoặc trùng ngưng hóa, tạo độ bền liên kết làm lớ
p trau chuốt có các tính chất như
độ dãn dài, độ bền ma sát, độ chịu nước…Bởi da có khả năng uốn mềm, co dãn nên
chất kết dính cũng phải có tính chất tương tự như vậy để khi kết hợp với nhau
không bị bong ra, bị rạn hoặc vỡ. Phần lớn các chất kết dính đều được các chất trợ
làm cho mềm hơn. Các chất kết dính có thể là các sản phẩm tự nhiên hay tổ
ng hợp.
Chất kết dính phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Bám dính tốt với da.
- Liên kết tốt giữa các lớp trau chuốt.
- Mềm dẻo trong khoảng nhiệt độ biến thiên rộng.
- Chống mài mòn tốt.
- Bền vững với nước, đôi khi với cả dung môi.
- Tạo cảm giác trơn tay cho bề mặt da.
- Không dính lắc in, nhưng giữ được vân in.
- Kết hợp tốt với hóa chất trau chuố
t khác như pigment, chất trợ và các chất kết
dính khác
Phần lớn các chất kết dính chỉ đáp ứng được một số yêu cầu trên, còn muốn
đáp ứng được nhiều yêu cầu thì phải biết kết hợp hai hay nhiều chất kết dính khác
nhau tuỳ theo yêu cầu sản phẩm cuối cùng. Việc lựa chọn chất kết dính phụ thuộc:
- Kiểu và chất lượng da mộc đưa vào trau chuốt.
- Yêu cầ
u tính chất và kiểu mẫu thời trang của da sau trau chuốt.
- Khả năng áp dụng các thiết bị cơ học của xưởng trau chuốt.
- Yêu cầu bảo vệ môi trường của dịa phương.
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 200.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011.
- Tương đối trơn tay;
- Độ dẻo cao;
- Độ mài mòn nỉ khô và ướt cao;
- Kém chịu bền va chạm cơ học;
- Độ dính lăc in vừa phải;
- Độ che phủ trung bình.
Hệ polyurethane: Polyurethane là loại chất kết dính được sử dụng ngày càng
nhiều trong trau chuốt da bởi chúng rấ
t bền về mặt cơ học và hóa học. Sản phẩm da
được trau chuốt bằng polyurethane có vẻ đẹp lâu bền.
Sự tạo thành kết dính polyurethane xảy ra khi izocyanate ( hợp chất có chứa
nhóm – N = C = O ) tác dụng với alcohol, tạo nên urethane:
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 200.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011.
“Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới,
tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” - KS. Lê Văn Kha
24
R – N = C = O + H – O – R’ R – N – C – O – O – R’
H O
Urethane
Chất kết dính polyurethane có thể kết hợp với đại đa số pigment thông dụng và
các chất làm đầy khác, trừ pigment kiềm, vì bị đông đặc nhanh. Thí dụ: pigment
crôm - chì hay ô xýt kẽm làm giảm thời gian sử dụng của polyurethane 2 cấu tử.
Hệ kết dính polyurethane có các đặc tính sau:
- Chống rạn vỡ ở điều kiện nhiệt độ lạnh (thậm chí dưới – 30
o