NGUYỄN TRUNG HIẾU 101_T09
MỤC LỤC
1
NGUYỄN TRUNG HIẾU 101_T09
MỞ ĐẦU
Kinh tế thế giới vừa trải qua cơn bão khủng hoảng dữ dội nhất kể từ sau cuộc Đại
suy thoái 1929-1933 và đang chật vật hồi phục. Thế nhưng, bầu trời phía trước vẫn
còn rất ảm đạm, bởi đám mây đen nợ công khổng lồ ngày càng lan rộng, phủ lên
nhiều nước, sau khi đã gây ra lốc lớn làm chao đảo nền kinh tế Băng Đảo Iceland,
suýt "hất đổ" toà tháp cao nhất thế giới ở Dubai hoa lệ, làm sụn lưng thần Héc-quyn
và đã đánh sập nền tài chính hùng mạnh Ireland. Từ đó, ta có thể thấy có nhiều dấu
hiệu chứng tỏ Eurozone đang trên bờ vực sụp đổ. Vấn đề chỉ còn là thời điểm. Cuộc
khủng hoảng nợ công tại một số nước châu Âu rõ ràng là không thể giải quyết được
bằng các chính sách như hiện nay. Một khi Hy Lạp và Ai-len từ bỏ đồng ơ-rô, thì
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và thậm chí cả I-ta-li-a cũng có thể bị buộc phải làm như
vậy. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đặt dấu chấm hết cho đồng ơ-rô.
Như vậy trong bối cảnh các thể chế trong khu vực đồng ơ-rô đang đối phó với cuộc
khủng hoảng nợ công này, các nhà phân tích Việt Nam có nghĩ tới chưa chuyện sẽ
xoay sở thế nào nếu cuộc khủng hoảng này xảy ra ở Việt Nam… khi mà “hiệu ứng
đô-mi-nô” đã bắt đầu? Nguyên nhân của “căn bênh trầm kha” này và hậu quả mà nó
mang lại như thế nào? Liệu có “thần dược” nào để có thể chấm dứt được “căn
bệnh” này không? Tất cả sẽ được trình bày ở những phần sau.
2
NGUYỄN TRUNG HIẾU 101_T09
1. Tổng quan và sơ lược vấn đề nợ công trên thế giới
1.1. Tổng quan
1.1.1 Định nghĩa
Luật Quản lý nợ công mới được ban hành và có hiệu lực từ đầu năm nay (2010), nợ
công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và chính phủ phải chịu
trách nhiệm và nợ của chính quyền địa phương. Còn các khoản nợ khác như các
khoản nợ riêng của doanh nghiệp, không do Chính phủ bảo lãnh, nhiều người - kể
siêu quốc gia (ví dụ:Quỹ tiền tệ thế giới) Hình thức này thường được Chính phủ
của các nước có độ tín cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng
hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ của họ không cao
1.2. Sơ lược về nợ công trên thế giới
Xuất hiện vào thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu đã tạm lắng,
cuộc khủng hoảng nợ công đang tàn phá “mái nhà chung” châu Âu, cản trở đà phục
hồi vốn đã mong manh của nền kinh tế thế giới.
Dù các “thầy thuốc” trong và ngoài khu vực đang phối hợp “bắt mạch-kê đơn”,
song “căn bệnh” nợ công vẫn đang ám ảnh nhiều nền kinh tế trong khu vực đồng
euro.
“Mầm bệnh” bắt nguồn từ Hy Lạp, quốc gia có mức nợ công cao nhất khu vực đồng
tiền chung châu Âu (eurozone), tương đương 144% GDP năm 2010. Đây là hậu quả
của thói quen “vung tay quá trán” của người dân Hy Lạp cũng như thuật “tô hồng”
thống kê kinh tế của Athens những năm trước đây, nhằm đáp ứng các tiêu chí gia
nhập Liên minh châu Âu (EU).
Việc Ireland vỡ nợ không lâu sau Hy Lạp, bất chấp quốc đảo này có nền tài chính
từng được cho là lành mạnh, có nguồn ngân sách quốc gia dồi dào, lại được coi là
hình mẫu về tăng trưởng trong EU, cho thấy nợ công đã trở thành “căn bệnh truyền
nhiễm” có khả năng lây lan nhanh.
Các khoản trợ giúp hàng trăm tỷ euro phối hợp giữa EU và Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF) dành cho hai “con bệnh” trên cùng những phản ứng tiêu cực trên thị trường
tài chính thế giới thời gian qua chứng tỏ lãnh đạo EU, IMF và thị trường tài chính
thực sự lo ngại nợ công có thể bùng phát thành “đại dịch” trong toàn khu vực.
Trên thực tế, các con số thống kê của IMF về tình hình kinh tế EU cho thấy nguy cơ
đó đã thực sự hiện hữu. Tổng nợ công của EU có thể lên tới 100% GDP vào năm
2014; tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 2% năm 2010 và 1,5% năm 2011; trong khi tỷ lệ
thất nghiệp đã lên mức cao kỷ lục 8,3% và có khả năng tiếp tục tăng.
Với mức nợ công “chẳng kém ai”, Tây Ban Nha, Bỉ, Bồ Đào Nha và Italy được dự
báo có thể là những “con bệnh” tiếp theo. Ảm đạm hơn, những “đàn anh” về trình
độ quản trị quốc gia trong EU như Anh, Đức cũng đang có nguy cơ vướng vào
phạm mức trần nợ công và thâm hụt ngân sách.
Có thể nói việc EU sẵn sàng huy động các loại “biệt dược” như sửa đổi Hiệp
ước Lisbon để thành lập quỹ cứu trợ thường trực đối với các quốc gia khu vực đồng
euro, thực thi các chính sách thắt lưng buộc bụng, mua lại trái phiếu chính phủ và
cơ cấu lại nợ, …chứng tỏ những nỗ lực và quyết tâm của tổ chức này với hy vọng
không để nợ công làm chao đảo và kéo sập “mái nhà chung” châu Âu.
5
NGUYỄN TRUNG HIẾU 101_T09
Hình 1.1. Biểu đồ thâm hụt nhân sách của một số nước
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Natixis, UB Ngân sách QH Mỹ (2010))
2. Thực trạng và nguyên nhân nợ công ở Việt Nam
2.1. Thực trạng nợ công của Việt Nam
Từ 2001 tới nay, nợ công của Việt Nam liên tục tăng về giá trị tuyệt đối về mức nợ
bình quân đầu người và tỉ lệ nợ công trên GDP
Hình 2.1 Biểu đồ nợ công và cán cân ngân sách Việt Nam (20012009)
(Nguồn: EIU (số liệu 2009 là ước tính)
Theo báo cáo của Chính phủ công bố đầu tháng 10, nợ công năm nay ước sẽ lên tới
52,6% GDP, trong đó nợ nước ngoài chiếm 38,8% GDP. Chính phủ dự kiến nợ công
trong năm 2011 sẽ là 57,1% GDP, cao hơn gần 5% so với năm nay. Nếu tính bình
quân đầu người, thì mỗi người Việt Nam gánh 578,65 USD nợ công. Và theo mức
6
NGUYỄN TRUNG HIẾU 101_T09
dự báo của Chính phủ đưa ra trong năm 2011, thì chắc chắn số nợ công bình quân
chia theo đầu người sẽ không dừng ở mức hơn 578 USD như hiện nay.
Nếu số liệu ước tính này thành sự thật, nợ công năm nay cao hơn nhiều so với năm
ngoái, giai đoạn phải tăng chi công để kích thích kinh tế vượt khủng hoảng. Theo
báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội giữa năm, dư nợ Chính phủ và dư nợ
nước ngoài lần lượt bằng 41,9% và 38,9% GDP. Tuy nhiên Ngân hàng Thế giới tính
2.2. Nguyên nhân nợ công ở nước ta – Nỗi lo chẳng của riêng ai.
2.2.1. Nguyên nhân nợ công
Ở mỗi nước và tuỳ từng thời kỳ lại có các nguyên nhân khác nhau, song tình trạng
nợ công hiện nay ở nước ta do những nguyên nhân cơ bản sau:
• Thứ nhất, gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước (lương và chi phí hoạt
động của bộ máy nhà nước ở các cấp có xu hướng ngày càng phình to, các
chương trình kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, đầu tư
phát triển có sở hạ tầng không ngừng tăng …), đặc biệt là hậu quả to lớn của
cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu vừa qua đã buộc nhiều nước phải
chi rất nhiều để khắc phục.
• Thứ hai, sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ của Nhà nước kém, không chặt chẽ,
thậm chí bị buông lỏng, cộng thêm với tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư
và chi tiêu, cùng với tệ tham nhũng phát triển ở nước ta.
• Thứ ba, các nguồn thu (chủ yếu từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi, thậm chí
một số loại thuế chịu áp lực phải cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc
biệt như thuế quan và phí hải quan của nước ta phải cắt giảm hoặc loại bỏ phù
hợp với các quy định của WTO và các thoả thuận thương mại khác mà ta tham
gia. Trong khi đó, vấn đề quản lý các nguồn thu, nhất là từ thuế, gặp không ít khó
khăn do tình trạng trốn thuế, tệ tham nhũng, hối lộ, kiểm soát không chặt và xử
lý không nghiêm của các cơ quan chức năng.
Mặc khác, nguồn thu của nước ta chủ yếu dựa vào xuất khẩu tài nguyên gia công
chế biến; chỉ số ICOR ngày càng cao (năm 2007: 5,2, năm 2008: 6,6, năm 2009:
trên 8) và phần lớn vốn ODA dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hồi vốn rất
chậm, thậm chí có những dự án không có khả năng hoàn vốn.
2.2.2. Nỗi lo chẳng của riêng ai
"Hiệu quả sử dụng các khoản vay là một vấn đề rất quan trọng vì từ đó mới bảo
đảm được dòng tiền trả nợ trong tương lai. Hiện nay, Việt Nam dường như mới chú
trọng đến khía cạnh giải ngân cho các khoản vay, bán cho được trái phiếu, thu tiền
về đã được xem là thành công. Còn theo nhiều đánh giá, các khoản đầu tư của nhà
nước vẫn bị coi là dàn trải, chậm tiến độ, thất thoát, lãng phí lớn vốn nhà nước
là xong. Đúng là nỗi lo này chẳng của riêng ai!
3. Hậu quả và giải pháp cho nợ công ở Việt Nam
3.1. Hậu quả của nợ công
3.1.1. Nợ công làm giảm GDP
Có hai quan điểm chính về việc nợ công có tác động đến nền kinh tế hay không:
• Quan điểm truyền thống cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ
công kích thích tiêu dùng và làm giảm tiết kiệm quốc dân. Sự gia tăng tiêu dùng
làm tăng tông cầu và thu nhập quốc dân trong ngắn hạn nhưng dẫn đến khối
lượng tư bản ít hơn (do đầu tư giảm) và thu nhập quốc dân thấp hơn trong dài
hạn.
• Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng
nợ chính phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì không làm tăng
thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà nó chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện
tại sang tương lai. Các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ chính phủ giảm thuế và
9
NGUYỄN TRUNG HIẾU 101_T09
phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt, thì đến một thời điểm trong tương lai chính
phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ (mà hậu quả là lạm
phát tăng tốc); do đó, người ta tiết kiệm hiện tại để có tiền đóng thuế trong tương
lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá.
3.1.2. Nợ công làm cho sự tăng trưởng của sản phẩm tiềm năng chậm lại
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một
khoản nợ công lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản
lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:
• Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường
xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.
• Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì
sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu
chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã
chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế
chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin của người
dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của
các thế lực đầu cơ quốc tế. Thí dụ, đối với Hy Lạp, khi tổ chức xếp hạng tín dụng
Standard & Poor's hạ bậc tín nhiệm đối với trái phiếu chính phủ của A-ten, các quỹ
đầu tư lớn lập tức bán ra loại trái phiếu này, đồng thời từ chối mua vào trong các đợt
phát hành tiếp theo. Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trường tài chính sẽ
phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị tụt bậc
tín nhiệm. Còn ở Việt Nam, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor's (S&P)
23/12/2010 đã tuyên bố cắt giảm một bậc điểm tín nhiệm nợ quốc gia của Việt
Nam, với triển vọng tiêu cực do mối quan ngại về các rủi ro đối với hệ thống ngân
hàng. Trong báo cáo đánh giá tín nhiệm của S&P, điểm tín nhiệm dành cho nợ ngoại
tệ dài hạn của Việt Nam bị tổ chức này cắt giảm xuống BB- từ BB. Điểm tín nhiệm
nợ nội tệ dài hạn của Việt Nam cũng bị giảm 1 bậc xuống BB từ BB+, trong khi
điểm dành cho nợ nội tệ ngắn hạn được duy trì ở mức B. Việc đưa ra xếp hạng tín
nhiệm trong thời điểm nhạy cảm, dễ tổn thương của nền kinh tế có nguy cơ làm cho
cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, có tác dụng như một "cú huých", đẩy nền kinh
tế lún sâu thêm vào khó khăn, bế tắc.
3.1.4. Các hậu quả khác
Một quốc gia lâm vào khủng hoang nợ công trầm trọng rất dễ bị cuốn vào tâm xoáy
của vòng luẩn quẩn: khủng hoảng - nợ cắt giảm, siết chặt chi tiêu ngân sách - giảm
tăng trưởng - thất nghiệp - giảm phát - gia tăng nợ công - vỡ nợ.
Mặc khác khi nợ công quá lớn, nhiều biện pháp khắc phục khủng hoảng nợ sẽ được
tiến hành giống như con dao hai lưỡi. Tăng thuế và giảm chi tiêu, siết chặt tín dụng,
đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đang hết sức khó khăn do suy thoái, thì lại
càng đẩy nền kinh tế vào khó khăn lớn hơn và có thể tiếp tục lún sâu vào suy thoái.
Điều này cũng đồng nghĩa với sản xuất đình đốn, thất nghiệp gia tăng, đời sống khó
khăn hơn và bất ổn xã hội cũng nhiều hơn. Mặt khác, tăng thuế và giảm chi tiêu,
đặc biệt là việc cắt giảm lương của người lao động, huỷ bỏ và thu hẹp các chương
trình an sinh xã hội, trực tiếp đánh vào nhiều tầng lớp nhân dân, đương nhiên sẽ gặp
phải sự phản ứng, thậm chí là chống đối mạnh mẽ từ các tầng lớp bị thiệt hại, từ đó
khoản cho vay kém chất lượng và loại bỏ những doanh nghiệp nhà nước lớn kém
hiệu quả càng sớm càng tốt để tránh đến khi một doanh nghiệp quá lớn để đổ vỡ bị
lâm vào nguy cơ sụp đổ thì Nhà nước phải đứng ra bảo lãnh và cứu trợ. Chiếc tàu
đắm Vinashin là 1 ví dụ điển hình.
Tất cả các đối tượng sử dụng nguồn ngân sách tức là tiền thuế của dân, không có
"vùng cấm" mà phải được kiểm tra, kiểm toán độc lập theo định kỳ. Người dân cần
Quốc hội phải chuyên nghiệp, làm việc toàn thời gian, và có các bộ phận chuyên gia
giúp việc để nắm chắc các vấn đề mà kiểm soát Chính phủ.
Cần sửa lại Hiến pháp 1992 một cách toàn diện, xây dựng xã hội dân sự, nhà nước
pháp quyền, thay đổi mạnh mẽ, quyết liệt trong quản lý chính sách tạo ra các "giá trị
bên trong" để có các mô thức mới tiếp tục tăng trưởng kinh tế vững bền, chính là ý
Dân - lòng Dân.
Tỷ trọng đầu tư của nhà nước nên giảm dần để các thành phần khác cùng tham gia
vào, vừa giảm bớt gánh nặng cho Chính phủ, vừa san sẻ trách nhiệm cho các thành
phần kinh tế khác
12
NGUYỄN TRUNG HIẾU 101_T09
3.2.2. Phải quản lí nợ công hiệu quả
Chính phủ cần thực hiện nguyên tắc thống nhất quản lý nợ công trên cơ sở phân
công trách nhiệm rõ ràng giữa các đơn vị quản lý… .
Theo Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công vừa được Chính phủ ban hành, sẽ có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/8/2010, Chính phủ thống nhất quản lý toàn diện nợ
công thông qua 4 công cụ
Cụ thể, các công cụ đó là: Chiến lược dài hạn về nợ công; Chương trình quản lý nợ
trung hạn; Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ; Các chỉ tiêu an
toàn và giám sát nợ công.
3.2.3. Thành lập Quỹ tích lũy trả nợ
Quỹ này được hình thành nhằm đảm bảo khả năng thanh toán nghĩa vụ nợ của các
khoản vay nước ngoài của Chính phủ về cho vay lại hoặc nghĩa vụ nợ dự phòng của
ngân sách nhà nước phát sinh từ các khoản bảo lãnh của Chính phủ.
Được lấy từ />option=com_content&task=view&id=54279&Itemid=30
Thanh Vân. (December, 2010). S&P đánh tụt bậc tín nhiệm nợ công của Việt
Nam. Được lấy từ />cong-cua-viet-nam
14
NGUYỄN TRUNG HIẾU 101_T09
15