BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP MARKETING NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VỀ
MẶT HÀNG THỊT GÀ ĐÔNG LẠNH CHO CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP
ĐOÀN INTIMEX TP.HCM
Ngành: QUẢN KINH DOANH
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn : ThS. TRẦN THỊ TRANG
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa Luận Tốt Nghiệp 2011 ii
LỜI CẢM ƠN
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
2. Bộ phận thực tập
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
3. Tinh thần trách nhiệm với công việc và ý thức chấp hành kỷ luật
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Kết quả thực tập theo đề tài
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
4. Nhận xét chung
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
Đơn vị thực tập
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa Luận Tốt Nghiệp 2011 iv
Giáo viên hướng dẫn
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa Luận Tốt Nghiệp 2011 v
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ MARKETING
CẠNH TRANH
1.1 Khái niệm về cạnh tranh và markeitng cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong kinh doanh.
1.1.3 Các loại cạnh tranh và cấp độ cạnh tranh.
1.1.4 Marketing trong cạnh tranh.
1.1.5 Các chiến lược cạnh tranh.
1.2 Những nguyên tắc của lợi thế cạnh tranh
1.2.1 Lựa chọn đối thủ cạnh tranh.
1.2.2 Sự khác biệt hóa
1.3 Mô hình 5 nguồn lực lợi thế cạnh tranh của Michael E. Porter
1.3.1 Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp
1.3.2 Áp lực cạnh tranh từ khách hàng (nhà Phân Phối)
1.3.3 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn.
1.3.4 Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
1.3.5 Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành.
2.3 Thực trạng tình hình cạnh tranh mặt hàng thịt gà đông lạnh của Intimex
trên thị trường.
2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh hiện tại của Intimex trên thị
trường.
2.3.1.1 Yếu tố nhập khẩu.
2.3.1.2 Chất lượng sản phẩm.
2.3.1.3 Nhà cung ứng.
2.3.1.4 Hệ thống kênh phân phối.
2.3.1.5 Giá cả mặt hàng.
2.3.2 Phân tích đánh giá các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Việt Nam.
2.3.2.1 Đối thủ cạnh tranh chính trong ngành.
2.3.2.2 Đối thủ tiềm ẩn.
2.3.3 Vị thế cạnh tranh của Intimex
2.3.3.1 Định vị Intimex và lợi thế so sánh với đối thủ.
2.3.3.2 Các mặt lợi thế của Intimex.
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa Luận Tốt Nghiệp 2011 vii
2.3.3.3 Các mặt còn hạn chế của Intimex.
2.4 Kết luận chương 2
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG CẠNH
TRANH VỀ MẶT HÀNG THỊT GÀ ĐÔNG LẠNH CHO CÔNG TY CỒ
PHẦN TẬP ĐOÀN INTIMEX
3.1 Các giải pháp Marketing nâng cao khẳ năng cạnh tranh cho Intimex
3.1.1 Giải pháp 1: Xây dựng thêm trung tâm thương mại và tiến vào thị trường
TPHCM để trực tiếp tiêu thụ sản phẩm thịt.
3.1.2 Giải pháp 2:Tìm kiếm thêm cơ hội hợp tác với các khách hàng mua sỉ tại thị
trường TPHCM.
kinh doanh của nước ta trở nên sôi động hơn, cạnh tranh hơn về mọi mặt.
Như các nhà kinh tế học hàng đầu thế giới đã từng nói và sự thật cũng đã chứng
minh như vậy là trong kinh doanh hay trong bất cứ công việc nào cũng phải có cạnh
tranh thì mới có sự phát triển, mới có sự đổi mới, đối với riêng về kinh doanh sự
cạnh tranh đóng một vai trò nhất định đem lại hiệu quả hơn trong mọi hoạt động,
qua đó tạo nên một môi trường kinh doanh trở nên chuyên nghiệp hơn luôn thay đổi
thích ứng với từng thời kỳ, làm cho thị trường kinh doanh trở nên minh bạch hơn và
phát triển theo đúng quy luật của nó.
Trở lại với nền kinh tế thị trường đa thành phần như nước ta cùng với sự đầu tư
của nước ngoài vào thì trong kinh doanh yếu tố cạnh tranh là không thể thiếu, phải
tuân theo quy luật vốn có của thị trường “Mạnh được, yếu thua” . Thật vậy đối với
một cá nhân hay một tổ chức kinh doanh thì phải luôn nâng cao năng lực và làm
cho mình trở nên hiệu quả hơn thì mới tồn tại bền vững được, còn ngược lại thì sẽ
quy luật sẽ đào thải chúng ta.
Qua đó, đề tài luận văn này đã đi tìm hiểu, nhìn nhận ra vấn đề về cạnh tranh trong
môi trường kinh doanh và tạo ra lợi thế để đạt được mục tiêu mong muốn.
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Công ty cổ phần tập đoàn Intimex Ho Chi Minh là một những công ty những doanh
nghiệp theo đuổi một mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận và hiệu quả trong kinh doanh,
trong thời gian qua với biết bao sự cố gắng nổ lực của cả công ty và từng nhân viên
đã làm nên thành quả như ngày hôm nay nhưng song song đó cũng còn nhiều mặt
khó khăn và hạn chế, cùng với những mục tiêu và định hướng kinh doanh trong
tương lai của công ty thì trong thời gian em thực tập và làm việc thì em đã nhận
định ra nhiều vấn đề về hoạt động kinh doanh của công ty trong một thị trường lớn
thì yếu tố cạnh tranh cũng khá quan trọng ảnh hưởng đến hiểu quả kinh doanh của
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TPHCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 2
công ty về nhiều mặt nhất là về mặt kinh tế. Đó là lý do em chọn đề tài này trong kỳ
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm về cạnh tranh và markeitng cạnh tranh.
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh.
Một trong những động lực của môi trường là tác động đến chiến lược
Marketing của các nhà sản xuất. “Kinh doanh là cạnh tranh” vì vậy tất cả công ty
đều phải tìm kiếm một công cụ cạnh tranh để duy trì vị thế của mình trên thị trường.
“Cạnh tranh là tồn tại” cho nên công ty luôn tìm kiếm cho mình một chỗ đứng cao
hơn trên thị trường, cố gắng tạo lên tính độc đáo riêng cả mình.
Mục tiêu của cạnh tranh là tạo lập cho công ty một lợi thế riêng biệt tạo cho
công ty trở thành một mũi nhọn hơn hẳn đối thủ cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh
doanh mà công ty theo đuổi. Sự tìm kiếm này không bao giờ ngừng và đã tạo ra
động lực cho sự cạnh tranh và chính họ tạo ra sự tiến bộ trong đời sống con người.
Mặt khác, một trong những nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh là những hoạt
động Marketing. Trên thực tế, tùy nhận thức, tùy ngành, tùy thời điểm khác nhau
đối với các công cụ đó mà có các định nghĩa khác nhau về cạnh tranh.
Theo quan điểm Marketing, “Cạnh tranh là việc đưa ra những chiến thuật,
chiến lược phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, xử lý tốt các chiến lược, chiến
thuật của đối thủ, giành được lợi thế trong kinh doanh hàng hoá và dịch vụ nhằm tối
đa hoá lợi nhuận”.
Như vậy, cạnh tranh là việc đưa ra những biện pháp Marketing phù hợp với
tiềm lực của doanh nghiệp, phản ứng kịp thời với những biến đổi của thị trường và
đối thủ nhằm mục đích nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm tối đa
hoá lợi nhuận. Sự đa dạng của hàng hoá trong nền kinh tế thị trường càng làm cho
cạnh tranh cạnh tranh trở nên khốc liệt. Quy luật cạnh tranh sẽ lần lượt đào thải các
doanh nghiệp kinh doanh yếu kém. Đồng thời, nó buộc các doanh nghiệp phải tự
vận động tạo ra những lợi thế so với đối thủ để tồn tại và phát triển.
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong kinh doanh.
• Cạnh tranh giữa người bán với nhau
Đây là cuộc cạnh tàn khốc nhất, có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp.
Đây là các vấn đề mà chuyên đề của em đề cập tới.
Thực tế cho thấy khi sản xuất, kinh doanh hàng hoá càng phát triển số người bán
càng tăng lên thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Trong quá trình đó một mặt sản
xuất hàng hóa với quy luật cạnh tranh sẽ lần lượt gạt bỏ ra khỏi thị trường những
doanh nghiệp không có chiến lược cạnh tranh thích hợp. Nhưng mặt khác nó lại mở
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TPHCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 5
đường cho các doanh nghiệp nắm chắc được vũ khí cạnh tranh trên thị trường và
dám chấp nhận “luật chơi” để phát triển.
b) Các cấp độ cạnh tranh
Chúng ta có thể lấy một trường hợp để nghiên cứu các cấp độ của cạnh tranh.
Phỏng vấn một người về kế hoạch của anh ta sắp tới; Xây nhà, mua xe, mua đồ đạc,
giải trí, đầu tư học tập. Đây là mong muốn cạnh tranh tức là những mong muốn mà
người tiêu dùng có thể được thoả mãn. Giả sử người đó quyết định xây nhà trước
mắt anh ta có phương án sẽ sơn tường hay ốp gạch hoa, đó là các loại cạnh tranh tức
thời, cạnh tranh giữa các chủng loại hàng hoá. Nếu phương án lựa chọn là sơn
tường thì anh ta sẽ chọn loại sơn nào? Bột bả tường hay sơn tường dung môi, đó là
các loại mặt hàng cạnh tranh. Sau đó chắc chắn anh ta sẽ tìm hiểu một vài nhãn hiệu
cạnh tranh. Đó là những nhãn hiệu có thể thoả mãn nhu cầu của anh ta trong trường
hợp này có thể đơn cử là sơn Nippon, và sơn Hà Nội.
Như vậy, người quản trị muốn xem xét tất cả bốn dạng đối thủ cạnh tranh hay
bốn cấp độ cạnh tranh và lưu ý đặc biệt đến các nhãn hiệu cạnh tranh bởi vì chính
xác các nhãn hiệu này làm giảm sức tiêu thụ của công ty.
Cạnh tranh giữa các loại sản phẩm khác nhau để thoả mãn một mong muốn.
Cạnh tranh trong cùng một loại sản phẩm hay còn gọi là cạnh tranh ngành, một
loại sản phẩm một lớp, sản phẩm thoả mãn khách hàng.
Đồng thời việc vận dụng Marketing trở thành công cụ cạnh tranh có hiệu quả trong
doanh nghiệp. Trong quá trình xây dựng triển khai chiến lược cạnh tranh buộc các
doanh nghiệp phải vận dụng Marketing.
Marketing cạnh tranh là tổng thể các biện pháp nhằm đảm bảo cải thiện doanh
nghiệp, thị trường và các đối thủ cạnh tranh.
• Chiến lược Marketing gồm 4 chiến lược chính:
Ø Chiến lược sản phẩm
Ø Chiến lược giá cả
Ø Chiến lược phân phối
Ø Chiến lược xúc tiến hỗn hợp bán hàng
Các yếu tố trên là các yếu tố cấu thành các hoạt động Marketing cạnh tranh của
doanh nghiệp. Tuy nhiên để đưa ra các chính sách Marketing giúp doanh nghiệp đạt
được mục tiêu đòi hỏi các doanh nghiệp phải đánh giá được thị trường, đối thủ cạnh
tranh, đánh giá tiềm lực của chính mình từ đó có thể đưa ra những cống hiến tốt
nhất cho khách hàng của mình.
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TPHCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 7
1.1.5 Các chiến lược cạnh tranh.
Vấn đề trọng tâm trong chiến lược cạnh tranh là vị thế tương đối của doanh
nghiệp trong ngành nghề. Định vị doanh nghiệp sẽ xác định khả năng thu lợi của họ
cao hơn hay thấp hơn mức trung bình của ngành. Một doanh nghiệp có khả năng tự
định vị tốt sẽ có thể thu lợi nhiều hơn ngay cả khi cấu trúc ngành bất lợi và theo đó,
khả năng sinh lợi của ngành cũng khá khiêm tốn.
Nền tảng cơ bản để hoạt động của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình trong
dài hạn là lợi thế cạnh tranh bền vững Cho dù doanh nghiệp có vô số điểm mạnh và
điểm yếu trước các đối thủ khác, tựu trung lại có 2 loại lợi thế cạnh tranh mà doanh
nghiệp có thể sở hữu: chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Điều quan trọng của bất cứ
thế mạnh hay nhược điểm nào của doanh nghiệp cuối cùng vẫn là việc ảnh hưởng từ
công nghệ, ưu đãi trong việc tiếp cận nguồn nguyên liệu thô, và những yếu tố khác
mà tôi sẽ đề cập chi tiết trong chương 3. Ví dụ, trong ngành sản xuất TV, chi phí tối
ưu đòi hỏi ống đèn hình đủ công suất, thiết kế với chi phí hạ, dây chuyền lắp ráp tự
động, và hoạt động trên quy mô toàn cầu để có thể triển khai công tác nghiên cứu &
phát triển (Research & Development).
• Chiến lược chi phí tối ưu (Cost leadership)
Nếu nhà sản xuất có chi phí thấp cần phải tìm kiếm và tận dụng mọi nguồn lực
để có lợi thế về chi phí. Điển hình hóa thì đây là những nhà sản xuất kinh doanh
những mặt hàng “chuẩn”, hoặc không kiểu cách rườm rà, và họ rất chú trọng đến tỷ
lệ lợi nhuận thu về hoặc lợi thế chi phí tuyệt đối từ mọi nguồn. Nếu doanh nghiệp
có thể đạt được và duy trì được các chi phí nói chung ở mức tối ưu thì họ sẽ có kết
quả hoạt động trên trung bình, miễn là doanh nghiệp đó vẫn khống chế được giá bán
ngay tại hoặc gần với mức trung bình của ngành. Với mức giá tương đương hoặc
thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, định vị ở vị trí chi phí thấp (Low-cost position) sẽ
đem đến lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp.
• Chiến lược khác biệt hóa (Differentiation)
Tuy vậy, họ cũng không thể bỏ qua những vấn đề về yếu tố khác biệt hóa. Nếu
sản phẩm của doanh nghiệp có chi phí thấp vẫn không được người mua nhận định là
vượt trội hơn, hoặc có thể chấp nhận. Họ buộc phải giảm giá thấp hơn các đối thủ
cạnh tranh để có doanh thu cao hơn. Điều này sẽ làm cho lợi nhuận hoặc vị thế
thuận lợi về chi phí trở nên không còn có ý nghĩa. Một nhà sản xuất có chi phí tối
ưu vẫn phải có sản phẩm ngang cấp (Parity) hay tương tự (Proximity) so với các đối
thủ trên cơ sở khác biệt hóa để trở thành đơn vị hoạt động trên mức trung bình,
ngay cả khi họ đã có lợi thế cạnh tranh về chi phí. Sản phẩm ngang cấp, trên cơ sở
khác biệt hóa, cho phép doanh nghiệp chuyển hóa trực tiếp lợi thế về chi phí vào lợi
nhuận cao hơn các đối thủ cạnh tranh . Sản phẩm tương tự trong khác biệt hóa đồng
nghĩa với việc giảm giá cần thiết để chiếm lĩnh thị phần chấp nhận được sẽ không
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TPHCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 9
lược tập trung có thể chiếm ưu thế cạnh tranh bằng cách phục vụ chuyên biệt. Phạm
vi rộng của mục tiêu rõ ràng là một vấn đề, nhưng việc cần thiết trong chiến lược
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TPHCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 10
tập trung vẫn là khai thác những khác biệt của mục tiêu hẹp trong cân bằng tổng thể
của ngành.
1.2 Những nguyên tắc của lợi thế cạnh tranh
1.2.1 Lựa chọn đối thủ cạnh tranh.
Khi có những thông tin tình báo tốt, những người quản lý dễ dàng hoạch định
được những chiến lược cạnh tranh của mình. Họ sẽ hình dung rõ hơn đối thủ mà họ
có thể cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường. Người quản lý phải quyết định cần
cạnh tranh quyết liệt nhất đối với đối thủ cạnh tranh nào trong các đối thủ sau:
• Đối thủ cạnh tranh mạnh và yếu:
Hầu hết các công ty đều hướng những đòn tấn công vào đối thủ cạnh tranh yếu
vì như vậy sẽ cần ít thời gian và tài nguyên hơn tính cho mỗi điểm giành được.
Nhưng trong quá trình này công ty có thể đạt được ít kết quả trong việc nâng cao
năng lực của mình. Công ty cũng cần phải cạnh tranh với những đối thủ cạnh tranh
mạnh để bắt kịp với những trình độ tiên tiến. Hơn nữa ngay cả đối thủ cạnh tranh
mạnh cũng có những điểm yếu và công ty có thể xem là một đối thủ ngang sức.
• Các đối thủ cạnh tranh gần và xa:
Hầu hết các công ty đều cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh gần giống mình nhất.
Trong mỗi trường hợp thắng lợi của công ty trước các địch thủ của mình đều dẫn
đến chỗ phải đương đầu với đối thủ cạnh tranh lớn mạnh hơn.
• Các đối thủ cạnh tranh tốt và xấu :
Một công ty khôn ngoan sẽ ủng hộ đối thủ cạnh tranh tốt và tấn công đối thủ
cạnh tranh xấu. Những đối thủ cạnh tranh tốt họ chơi theo đúng luật của ngành, họ
đưa ra những giả thiết thực tế về tiềm năng tăng trưởng của ngành, họ giới hạn mình
ở một phần hay một phạm vi của ngành, họ thúc đẩy những người khác giảm chi phí
“Sự thiển cận trong marketing” [phát hành năm 1960 và in lại thành tác phẩm kinh
điển của Harvard Business Review vào tháng 9-10 năm 1975] và “Marketing khi
mọi thứ thay đổi” [tháng 11-12 năm 1977]. Chẳng có cái gì gọi là hàng hóa chuẩn.
Tất cả các sản phẩm và dịch vụ đều có thể làm cho khác biệt được. Cho dù người ta
thường cho rằng điều này đúng với các mặt hàng tiêu dùng hơn là với các hàng
dùng cho sản xuất (nguyên vật liệu công nghiệp) và dịch vụ công nghiệp, nhưng
điều ngược lại cũng là sự thật.
Trên thương trường, sự khác biệt hóa có ở mọi nơi. Mọi người – nhà sản xuất,
nhà chế tạo, người bán hàng, người môi giới, đại lý, nhà buôn – cố gắng không
ngừng làm cho sản phẩm chào bán của mình khác với của những người khác.
Điều này đúng ngay cả với những người sản xuất và buôn bán kim loại cơ bản,
ngũ cốc, hóa chất, chất dẻo và tiền.
Những nhà chế tạo hàng dùng cho sản xuất và hàng tiêu dùng tìm kiếm sự khác
biệt có tính cạnh tranh thông qua đặc tính sản phẩm – một số có thể xác định được
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TPHCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 12
bằng cách đo lường hay bằng thị giác, một số ngụ ý qua sự trau chuốt bề ngoài, và
một số được xác nhận một cách hoa mỹ thông qua nhắc đến những thuộc tính thực
tế hay những thuộc tính kín đáo được gợi ra, vốn hứa hẹn những kết quả hay những
giá trị khác với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.
Sự khác biệt hóa ở chỗ là sản phẩm của chúng ta phải mang một tính năng riêng
biệt chẳng hạn về công nghệ, về mặt mẫu mã thì mang một sắc thái riêng, một
phong cách riêng. Đó chính là tạo ra sự nhận dạng của khách hàng về sản phẩm của
mình trước hàng loạt các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, đình hình trong lòng của
khách hàng về tất cả các yếu tố mà sản phẩm mình mang lại khác với những đối thủ
trong ngành thì có thể nói đó là một lợi thế về mặt cạnh tranh so với đối thủ.
1.3 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Micheal Porter
Nhà cung cấp
Khách hàng
Nhà phân phối
Sản phẩm thay thế
Cạnh tranh nội ngành
Cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp có mặt trên thị trường
Quyền lực
đàm phán
Thách thức của sản phẩm dịch vụ
thay thế
Quyền lực
đàm phán
Đe dọa của các đối
thủ chưa xuất hiện
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TPHCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 13
Thông tin về nhà cung cấp : Trong thời đại hiện tại thông tin luôn là nhân tố
thúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn
tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp.
Hiện nay trên thị trường chỉ có 2 nhà cung cấp chip ( Bộ vi xử lý -CPU) cho
máy tính là AMD và Intel. Tất cả các máy tính bán ra trên thế giới đều sử dụng bộ
vi xử lý của hai hãng này chính vì quyền lực đàm phán của Intel và AMD với các
doanh nghiệp sản xuất máy tính là rất lớn.
Một trường hợp nữa ngay trong ngành công nghệ thông tin là các sản phẩm của
hệ điều hành Window như Word, Excel. Các nhà sản xuất máy tính không có sự lựa
phán với các doanh nghiệp khác về giá cả, chất lượng sản phẩm cũng như các chính
sách marketing khi đưa hàng vào trong hệ thống của mình.
1.3.3 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên trong
ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai. Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay
ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau
Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ suất sinh
lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành .
Những rào cản gia nhập ngành : là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào một
ngành khó khăn và tốn kém hơn .
1. Kỹ thuật
2. Vốn
3. Các yếu tố thương mại : Hệ thống phân phối, hình ảnh thương hiệu , hệ
thống khách hàng,
4. Các nguồn lực đặc thù: Nguyên vật liệu đầu vào ( Bị kiểm soát ), Bằng cấp,
phát minh sáng chế, Nguồn nhân lực, sự bảo hộ của chính phủ,
Không ai có thể lường được việc Apple sẽ cho ra đời máy nghe nhạc Ipod đánh
bại người hùng về công nghệ mutilmedia như Sony. Rõ ràng sức hấp dẫn của cầu
các thiết bị nghe nhạc đã đưa Ipod trở thành sản phẩm công nghệ được ưa chuộng
nhất. Chính Sony đã tự làm các rào cản về công nghệ, thương hiệu của mình giảm
sút bằng việc quá chú trọng vào phát triển theo chiều rộng nhiều ngành để người tí
hon Apple thâm nhập và kiểm soát toàn bộ thị trường, biến lợi thế cạnh
tranh của Sony trở thành gánh nặng cho chính họ.
1.3.4 Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu
cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành. Ta có thể lấy luôn ví dụ
sau đó mới đưa ra các nhận định về áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm thay
thế : Vậy sản phẩm thay thế của bia, rượu là một hàng hóa ( hoặc dịch vụ có thể
thỏa mãn các nhu cầu ở trên). Tại đây xin liệt kê một số hàng hóa có thể thay thế
được bia rượu : Uống cafe, uống trà, chơi thể thao .Các dịch vụ này có thể thỏa mãn
ngành, rào cản rút lui là cao, áp lực từ khách hàng không đáng kể nhưng đang có
rất nhiều doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập vào thị trường . Một điều đáng mừng hơn
nữa là sự ra đời của ngành dịch vụ kèm theo dịch vu viễn thông như : Các tổng đài
giải trí, cá cược, các dịch vụ khác mà điển hình gần đây là xem giá chứng khoán
qua mạng di động. Với xu hướng này sức cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ ngày
càng gia tăng và lúc đó người tiêu dùng sẽ ngày càng được tôn trọng hơn.
ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TPHCM SV: Lý Vĩ Nghiệp
Khóa luận Tốt Nghiệp 2011 16
1.4 Xu thế sử dụng các công cụ trong cạnh tranh.
1.4.1 Sản phẩm.
Theo quan điểm Marketing sản phẩm vừa là cái đã có vừa là cái tiếp tục phát
sinh trong trạng thái biến đôỉ không những của nhu cầu, tập quán, thị hiếu, thói
quen mua hàng. Sản phẩm gồm hai yếu tố chính (vật chất và phi vật chất). Sản
phẩm theo quan điểm Marketing là sản phẩm cho người mua, cho người sử dụng.
Sự chuyển hoá thay thế và phát triển nhu cầu của người mua hết sức đa dạng và
phong phú. Sản phẩm là công cụ quan trọng để tiếp cận và khai thác thị trường.
1.4.2 Giá cả
Chính sách giá đối với sản phẩm của doanh nghiệp là việc quyết định mức giá
ban hành cho người tiêu dùng khâu trung gian hay đến khâu cuối cùng. Chính sách
giá không nên quyết định một cách cố định khi sản phẩm được tung ra thị trường
mà nên được xem xét lại trong suốt vòng đời của sản phẩm, theo thay đổi về mục
tiêu của doanh nghiệp, sự vận động của giá và chi phí của doanh nghiệp tùy thuộc
một phần vào chính sách giá của đối thủ cạnh tranh. Giá là một trong những vũ khí
lợi hại của cạnh tranh là công cụ để tiếp cận và khai thác thị trường. Cường độ cạnh
tranh và sự biến đổi cầu sẽ làm cho mức giá thường giảm và chi phí cho hoạt động
xúc tiến càng cao.
1.4.3 Phân phối.