Tiểu luận: Ứng dụng MCM - 41 để xử lí các chất hữu cơ độc hại trong môi trường nước - Pdf 13


1
Tiểu luận
ỨNG DỤNG MCM-41 ĐỂ XỬ LÍ CÁC CHẤT
HỮU CƠ ĐỘC HẠI TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
2
MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
Danh mục viết tắt 3
Danh mục các hình vẽ 4
Dang muc các bảng 5
MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục tiêu của đề tài 7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT 9
1.1. Vật liệu mao quản trung bình 9

2.2.1. Nguyên tắc 33
2.2.2. Điều kiện phản ứng 33
2.2.3. Tiến hành thực nghiệm 34
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1. Kết quả xúc tác phân hủy phenol 36
3.2. Kết quả xúc tác phân hủy xanh metylen 48
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

4
DANH MỤC VIẾT TẮT
BET Phương pháp đo đẳng nhiệt hấp phụ và khử hấp phụ nitơ
CTAB Cetyl trimetyl amoni bromit
ĐHCT Định hướng cấu trúc
I Tiền chất vô cơ
IUPAC Quy định chung về danh pháp quốc tế của các chất hóa học
M41S Họ vật liệu MQTB bao gồm MCM-41, MCM-48, MCM-50
MCM-41 Họ vật liệu MQTB có cấu trúc lục lăng
MCM-48 Họ vật liệu MQTB có cấu trúc lập phương
MCM-50 Họ vật liệu MQTB có cấu trúc lớp
MQTB Mao quản trung bình
S Chất định hướng cấu trúc
SBA Santa Barbara Acid
SEM Scanning Electron Microscopy (hiển vi điện quét)
TEM Tranmission Electron Microscopy (hiển vi điện tử truyền qua)
TEOS Tetraethyl Orthosilicate
UV-VIS Ultraviolet – Visible (tử ngoại và khả kiến)
XRD X-Ray Diffraction (Nhiễu xạ Rơnghen)
Hình 3.11. Công thức cấu tạo của xanh metylen 47
Hình 3.12. Phổ UV-Vis của xanh metylen ở thời điểm gốc, 0’, 10’ 48
Hình 3.13. Phổ UV-Vis của xanh metylen ở thời điểm gốc, 20’, 30’ 49
Hình 3.14. Phổ UV-Vis của xanh metylen ở thời điểm gốc, 40’, 60’ 50 6
DANH MỤC CÁC BẢNG và BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1. Một số dữ liệu về các ion thay thế đồng hình Si
4+
trong vật liệu 15
Bảng 2. Nồng độ, thể tích và cách pha dung dịch phenol 32
Bảng 3.1. Độ hấp thụ của các dung dịch phenol phản ứng theo thời gian 47
Bảng 3.2. Độ hấp thụ của dung dịch xanh metylen
nồng độ ban đầu 2 ml/l theo thời gian 50
Đồ thị 3.1. Sự thay đổi độ hấp thụ của dung dịch phenol theo thời gian 47
Đồ thị 3.2. Sự thay đổi độ hấp thụ của xanh metylen theo thời gian 52 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong vài thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học, con người đã tận
thu quá đáng mà làm khánh kiệt nguồn tài nguyên. Điều đó đã dẫn đến mất cân bằng sinh
thái và làm biến đổi lớp vỏ bề mặt. Đặc biệt, với sự phát triển của nền văn minh công
nghiệp đã làm giảm độ đa dạng của sinh giới. Vì thế môi trường bị đe dọa là điều không

Thực hiện quá trình phân hủy phenol, metylen xanh có mặt xúc tác MCM-41.
Đo phổ UV-Vis để xác định khả năng xúc tác cho quá trình phân hủy phenol, xanh
metylen của MCM-41.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lý thuyết: thu thập và nghiên cứu và xử lí tài liệu, đưa ra các bước
thực hiện khả thi.
- Phương pháp thực nghiệm: tiến hành phân hủy các chất hữu cơ độc hại như
phenol, metylen xanh bằng xúc tác MCM-41.
- Phương pháp phân tích, đánh giá:
Phân tích các kết quả thu được bằng phương pháp phổ kích thích electron (UV-Vis).
Đánh giá hoạt tính hấp phụ và xúc tác của MCM-41.
5. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Trong nước:
Nhóm tác giả Phạm Anh Sơn và đồng sự [9] đã khảo sát quá trình tổng hợp vật liệu
xúc tác trên cơ sở MCM-41, sử dụng chất hoạt động bề mặt là CTAB (cetyltrimetyl
amoni bromit), nguồn silic là TEOS (tetraetyl ortho silicat). Trong khi đó, tác giả Nguyễn
Đình Thành và đồng sự [6] đã nghiên cứu tổng hợp xúc tác mao quản trung bình Al-
MCM-41 ứng dụng cho quá trình crackinh hiđrocacbon nặng, dùng chất hoạt động bề
mặt không ion alkyl poly (etylen oxide) C
16
H
33
(OCH
2
CH
2
)
10
OH, nguồn silic là thủy tinh
lỏng (27% SiO

Xúc tác có vị trí hết sức quan trọng, không thể thiếu cho công nghiệp hóa dầu.
Trong đó, xúc tác zeolit chiếm vị trí then chốt trong nhiều thập niên qua và cho đến ngày
hôm nay. Tuy nhiên do hạn chế về kích thước mao quản làm cho zeolit không thuận lợi
trong việc chuyển hóa các chất có kích thước phân tử lớn như đã đề cập ở phần mở đầu.
Sự phát minh ra loại vật liệu MQTB họ M41S với những ưu điểm của nó đã giúp
cho xúc tác dị thể mở ra một hướng phát triển mới. Từ phương pháp tổng hợp vật liệu
MQTB của các nhà nghiên cứu của hãng Mobil [5], ngày nay người ta đã điều chế được
vật liệu MQTB không chứa silic như các oxit kim loại. Các oxit này vốn có diện tích bề
mặt hạn chế nhưng có hoạt tính xúc tác, hấp phụ tốt lại rẻ tiền.
Việc thay thế một phần silic trong mạng lưới vật liệu MQTB MCM-41 [4] bằng một
số kim loại đã làm thay đổi rất lớn hoạt tính xúc tác cũng như độ bền của chúng. Người ta
đã ứng dụng chúng vào phản ứng crackinh các phân đoạn dầu nặng, phản ứng trùng
ngưng, phản ứng ankyl hóa Fridel-Crafts, phản ứng peoxit hóa các olefin, đặc biệt là các
olefin có kích thước phân tử lớn [9, 19].
Nhờ ưu điểm diện tích bề mặt lớn khoảng 1000 m
2
/g [4], hệ mao quản đồng đều và
độ trật tự cao, vật liệu MCM-41 được dùng làm chất mang kim loại cũng như oxit kim
loại lên bề mặt của chúng để thực hiện phản ứng xúc tác theo mong muốn. Ví dụ: Pd-
MCM-41 thể hiện tính chất xúc tác chọn lọc hóa học trong nhiều phản ứng hidro hóa như
chuyển xiclohexen thành xiclohexan,…
Ngày nay, người ta có thể phân tán các hạt siêu mịn kích thước nano, đặc biệt là
nano kim loại, oxit kim loại quý hiếm có hoạt tính xúc tác cao lên bề mặt của vật liệu
MQTB để làm tăng tính chọn lọc, khiến cho giá thành sản phẩm giảm đáng kể.
Fe-MCM-41 được Choi J. S. và các cộng sự [18] nghiên cứu ứng dụng oxi hóa
phenol năm 2006.
Phân loại vật liệu MQTB:
11
 Phân loại theo cấu trúc
+ Cấu trúc lục lăng (hexagonal): MCM-41, SBA-15,

a - Lục lăng b - Lập phương c - Lớp
12
định hướng cấu trúc với các tiền chất vô cơ trong dung dịch. Để tổng hợp vật liệu MQTB
cần có ít nhất 3 hợp phần:
+ Chất ĐHCT đóng vai trò làm tác nhân định hướng cấu trúc vật liệu.
+ Nguồn vô cơ như silic nhằm hình thành nên mạng lưới mao quản.
+ Dung môi (nước, bazơ,…) đóng vai trò chất xúc tác trong quá trình kết tinh.

Hình 1.2. Sơ đồ tổng quát hình thành vật liệu MQTB [15]
1.2.2.1. Cơ chế định hướng theo cấu trúc tinh thể lỏng (Liquyd Crystal Templating):
Cơ chế này được các nhà nghiên cứu của hãng Mobil đề nghị [5] để giải thích sự
hình thành vật liệu M41S.
Mixen Mixen d¹ng que
TËp hîp d¹ng
lôc l¨ng
Silicat Nung
MCM-41

Hình 1.3. Cơ chế định hướng theo cấu trúc tinh thể lỏng [23]
Theo cơ chế này [23], trong dung dịch các chất định hướng cấu trúc tự sắp xếp
thành pha tinh thể lỏng có dạng mixen ống, thành ống là các đầu ưa nước của các phân tử
chất định hướng cấu trúc và đuôi là phần kị nước hướng vào trong.
Các mixen ống này đóng vai trò làm tác nhân tạo cấu trúc và sắp xếp thành cấu trúc
tinh thể lỏng dạng lục lăng.
Sau khi thêm nguồn silic vào dung dịch, các phần tử chứa silic tương tác với đầu
phân cực của chất định hướng cấu trúc thông qua tương tác tĩnh điện với đầu phân cực



Chất định hướng cấu trúc + Tiền chất silicat

hợp MCM-41, pha tinh thể lỏng dạng lục lăng của chất định hướng cấu trúc không hình
thành trước khi thêm silicat. Họ giả thiết rằng có sự hình thành 2 hoặc 3 lớp mỏng silicat
trên một mixen ống chất định hướng cấu trúc riêng biệt, các ống này ban đầu sắp xếp hỗn
loạn, sau đó mới hình thành cấu trúc lục lăng. Quá trình gia nhiệt và làm già dẫn đến quá
trình ngưng tụ của silicat tạo thành hợp chất MQTB MCM-41.
Si OH
OH
OH
O
Si OH
OH
O
-
Si
OH
OH
OH
O
Si OH
OH
O
-
Si OH
OH
OH
O
Si OH
OH
O
-

O
-
+ + +
Si O
OH
OH
O
Si O
OH
O
-
Si O
OH
O
Si
O
O
-
Si OH
OH
O
Si
OH
O
-
+++
Si O
OH
OH
O

Si OH
OH
O
Si OH
O
-
+ + +
+++
Si O
O
OH
O
Si OOH
O
-
Si O
OH
O
Si O
O
-
Si OH
O
O
Si OH
O
-
Si O
OH
O

mỏng chuyển thành cấu trúc MQTB lục lăng. Hình 1.5. Cơ chế phù hợp mật độ điện tích [27]
1.2.2.5. Cơ chế phối hợp tạo cấu trúc (Cooperative Templating)
Cơ chế này được Huo và các cộng sự đề nghị [29, 31].
Trong một số trường hợp, nồng độ chất định hướng cấu trúc có thể thấp hơn nồng
độ cần thiết để tạo ra cấu trúc tinh thể lỏng hay thậm chí là dạng mixen.
Theo cơ chế này, trước khi thêm nguồn silic vào, các phân tử định hướng cấu trúc
nằm ở trạng thái cân bằng động giữa mixen ống, mixen cầu và các phân tử chất định
hướng cấu trúc riêng rẽ.
Khi thêm nguồn silic vào, các dạng silicat đa điện tích thay thế các ion đối của các
chất định hướng cấu trúc, tạo thành các cặp ion hữu cơ – vô cơ. Chúng tự sắp xếp tạo
thành pha silic.
Bản chất của các pha trung gian này được khống chế bởi các tương tác đa phối trí.
15

Hình 1.6. Cơ chế phối hợp tạo cấu trúc [27]
1.2.4. Phương pháp thủy nhiệt [6]
Có nhiều phương pháp tổng hợp vật liệu Fe-MCM-41 như phương pháp sol-gel [11,
16], phương pháp đồng kết tủa, phương pháp nhiệt luyện,… Ở đây, chúng tôi dùng
phương pháp thủy luyện để tổng hợp vật liệu. Vì phương pháp này khá đơn giản, phù hợp
với điều kiện phòng thí nghiệm của chúng ta hiện nay.
Hỗn hợp phản ứng được đưa vào autoclave (bình teflon) ở dạng huyền phù hidroxit
hay ankoxit, kết tinh được thực hiện ở nhiệt độ thấp từ 100 – 170
0
C, áp suất tự sinh từ 1
đến vài chục atm, tránh được việc nung nhiều giai đoạn như phương pháp sol-gel. Tuy
nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải xử lý nhiệt trong nhiều giờ vì tốc độ phản ứng
chậm.

Từ giản đồ nhiễu xạ tia X, ta có thể thu được một số thông tin quan trọng như:
mức độ trật tự của các lỗ xốp, giá trị khoảng cách giữa các mặt phẳng song song (cùng
chỉ số miller) từ đó suy ra giá trị khoảng cách giữa hai tâm mao quản liền nhau. Dựa vào
giá trị khoảng cách giữa hai tâm mao quản liền kề với dữ liệu đường kính mao quản thu
được từ phương pháp hấp phụ nitơ, ta có thể tính được độ dày của thành mao quản.
1.3.2. Các phương pháp hiển vi điện tử
B C
O
A
1
2
1'
2'
d
I
II
H×nh 8. Sù ph¶n x¹ trªn bÒ mÆt tinh thÓ.

Hình 1.7. Sự phản xạ trên bề mặt tinh thể [10]
17
Hiển vi điện tử là phương pháp sử dụng chùm tia electron năng lượng cao để khảo
sát những vật thể rất nhỏ. Kết quả thu được qua những khảo sát này phản ánh về mặt hình
thái học, diện mạo học và tinh thể học của vật liệu mà chúng ta cần xác định. Phương
diện hình thái bao gồm hình dạng và kích thước của hạt cấu trúc nên vật liệu. Diện mạo
là các đặc trưng bề mặt của một vật liệu bao gồm kết cấu bề mặt hoặc độ cứng của vật
liệu. Phương diện tinh thể học mô tả cách sắp xếp của các nguyên tử trong vật thể như thế
nào. Chúng có thể sắp xếp có trật tự trong mạng tạo nên trạng thái tinh thể hoặc sắp xếp
ngẫu nhiên hình thành dạng vô định hình. Cách sắp xếp của các nguyên tử một cách có
trật tự sẽ ảnh hưởng đến các tính chất như độ dẫn, tính chất điện và độ bền của vật liệu.
Các phương pháp hiển vi điện tử được phát triển để thay thế các phương pháp hiển

VËt kÝnh
Trêng quÐt
MÉu
Ph¶n x¹
Thùc hiÖn
qu¸ tr×nh
quÐt ®ång bé

nh
è
ng tia cat«t
ChuyÓn thµnh tÝn hiÖu
®iÖn vµ khuyÕch ®¹i
Detector

Hình 1.8. Sơ đồ nguyên lý của kính hiển vi điện tử quét [10]
Hình 1.8 là sơ đồ đơn giản của thiết bị SEM, chùm electron từ ống phóng được đi
qua một vật kính và được lọc thành một dòng hẹp. Vật kính chứa một số cuộn dây (cuộn
lái electron) được cung cấp với điện thế thay đổi, cuộn dây tạo nên một trường điện từ tác
động lên chùm electron, từ đó chùm electron sẽ quét lên bề mặt mẫu tạo thành trường
quét. Tín hiệu của cuộn lái cũng được chuyển đến ống catôt để điều khiển quá trình quét
19
ảnh trên màn hình đồng bộ với quá trình quét chùm electron trên bề mặt mẫu. Khi chùm
electron đập vào bề mặt mẫu tạo thành một tập hợp các hạt thứ cấp đi tới detector, tại đây
nó được chuyển thành tín hiệu điện và được khuyếch đại. Tín hiệu điện được gửi tới ống
tia catôt và được quét lên màn hình tạo nên ảnh. Độ nét của ảnh được xác định bởi số hạt
thứ cấp đập vào ống tia catôt, số hạt này lại phụ thuộc vào góc bắn ra của electron khỏi
bề mặt mẫu, tức là phụ thuộc vào mức độ lồi lõm bề mặt. Vì thế ảnh thu được sẽ phản
ánh diện mạo bề mặt của vật liệu.


Phãng to ¶nh

Hình 1.10. Sơ đồ nguyên lí của kính hiển vi điện tử truyền qua [10]
o Một chùm electron được tạo ra từ nguồn cung cấp.
o Chùm electron này được tập trung lại thành dòng electron hẹp bởi các thấu
kính hội tụ điện từ.
o Dòng electron đập vào mẫu và một phần sẽ xuyên qua mẫu.
o Phần truyền qua sẽ được hội tụ bởi một thấu kính và hình thành ảnh.
o Ảnh được truyền từ thấu kính đến bộ phận phóng đại.
o Cuối cùng tín hiệu tương tác với màn hình huỳnh quang và sinh ra ánh sáng
cho phép người dùng quan sát được ảnh. Phần tối của ảnh đại diện cho vùng mẫu đã cản
trở, chỉ cho một số ít electron xuyên qua (vùng mẫu dày hoặc có mật độ cao). Phần sáng
của ảnh đại diện cho những vùng mẫu không cản trở, cho nhiều electron truyền qua (vùng
này mỏng hoặc có mật độ thấp).
Tuy có độ phóng đại và độ phân giải cao hình ảnh của TEM không thể hiện được
tính lập thể của vật liệu. Nhiều trường hợp người ta sử dụng kết hợp phương pháp SEM
và TEM để khai thác những ưu điểm của hai phương pháp này.
21
Trong cỏc phng phỏp hin vi in t, khi cỏc electron va chm vi ht nhõn
nguyờn t ca mu s xy ra hng lot cỏc hiu ng khỏc nhau v da trờn nhng hiu
ng ny ngi ta cú th kt hp hin vi in t vi cỏc phng phỏp phõn tớch nh tớnh
cng nh nh lng.
chựm in t vi mu trong nghiờn cu hin vi in t
nhỡn t phớa bờn nhỡn t trờn xung
Hỡnh 1.11. nh TEM ca mu MCM-41
22
1.3.3. Phương pháp phổ kích thích electron (Ultra Violet – Visible: UV-Vis)
Sự hấp phụ của phân tử trong vùng quang phổ tử ngoại và khả kiến (UV-Vis) [8, 10]
phụ thuộc vào cấu trúc electron của phân tử. Sự hấp thụ năng lượng được lượng tử hóa và
do các electron bị kích thích nhảy từ obitan có mức năng lượng thấp lên các obitan có
mức năng lượng cao gây ra. Bước chuyển năng lượng này tương ứng với sự hấp thụ các
tia sáng có bước sóng

khác nhau theo phương trình:

ch
E
.


Trong đó: h là hằng số Plăng
c là vận tốc ánh sáng
Khi phân tử bị kích thích, các electron của các nguyên tử trong phân tử thực hiện
các bước nhảy sau:

Trong đó: n: obitan không kiên kết


: obitan liên kết

, n 

*
, tùy vào


*


*

n

Hình 1.13. Bước chuyển của các electron trong phân tử [7]
23
năng lượng kích mà các electron thực hiện các bước chuyển năng lượng khác nhau. Cơ
sở của phương pháp này là dựa vào định luật Lambert-Beer.
Phương trình:
cl
I
I

đáng quan tâm. Đối với các quá trình ứng dụng, độ bền nhiệt của xúc tác là hết sức quan
24
trọng. Trong xúc tác tầng sôi, xúc tác phải qua một quá trình tái sinh để loại cốc. Quá
trình này được tiến hành ở nhiệt độ khoảng 800
0
C và có mặt hơi nước. Dưới điều kiện
này Al-MCM-41 không bền. Độ bền tăng lên khi giảm hàm lượng Al, nhưng khi đó hoạt
tính xúc tác cũng giảm xuống.
Khuynh hướng tương tự đối với Al-MCM-48. Do vậy, độ bền thuỷ nhiệt của Al-
MCM-41 và Al-MCM-48 cần phải được cải thiện trước khi có thể áp dụng rộng trong
quá trình xúc tác chẳng hạn như cracking phân đoạn dầu chân không. Có vài phương
pháp có thể sử dụng để nâng cao độ bền nhiệt của xúc tác, một trong những cách đó là
tăng độ dày thành của vật liệu xốp, cách khác là đưa tinh thể vào thành lỗ (hoặc cố gắng
chuyển thành lỗ dạng vô định hình sang tinh thể), bằng cách đó có thể tăng được độ bền
của vật liệu xốp lên tương đương với zeolit. Tuy nhiên quá trình tinh luyện lại không yêu
cầu loại xúc tác phải có tính bền nhiệt và có độ axit cao như xúc tác cho quá trình
cracking. Chẳng hạn quá trình hydrocracking, tách kim loại, hydro đồng phân hoá và
olefin oligome hoá. Do vậy loại vật liệu xốp mao quản trung bình rất phù hợp cho các
quá trình này.
Xúc tác hai chức năng Pt/Al-MCM-41 tỏ ra có hiệu quả cao cho phản ứng đồng
phân hoá parafin thành isoparafin. Đầu tiên phản ứng xảy ra trên các tâm kim loại Pt,
quá trình này parafin bị tách hydro tạo thành olefin. Các phân tử olefin này có hoạt tính
cao và tâm axit trung bình Al-MCM-41 [6] cho phép quá trình đồng phân hoá tạo ra
isoolefin. Isoolefin lại được hydro hoá ở tâm kim loại tạo thành isoparafin. Do sự phân
tán của Pt trên bề mặt của Al-MCM-41 tốt hơn trên aluminosilicat vô định hình nên quá
trình cracking xảy ra ít hơn, sản phẩm thu được tốt hơn.
1.4.2. Xúc tác oxy hoá – khử
Xúc tác oxy hoá chọn lọc parafin, olefin và alcol thu được thành công lớn với xúc
tác titansilicat. Do đó để có thể tiến hành được với những phân tử lớn thì phải cố gắng
mở rộng kích thước lỗ đối với loại xúc tác này. Trước kia phải sử dụng xúc tác Ti--

đưa các kim loại chuyển tiếp khác lên cấu trúc vật liệu xốp. Tuy nhiên vấn đề chủ yếu
của xúc tác kim loại chuyển tiếp trên nền chất mang là vật liệu xốp ở chỗ: hoạt tính và độ
chọn lọc giảm mạnh khi ta tăng hàm lượng các kim loại này. Một trở ngại khác là sự thay
đổi trạng thái oxy hoá của kim loại trong quá trình nung và tái sinh.
1.4.3. Chất mang - Chất hấp phụ
Vật liệu M41S có diện tích bề mặt lớn (khoảng 1000 m
2
/g) [4] nên chúng là đối
tượng rất hấp dẫn để làm chất nền cho các chất có hoạt tính hoá học khác. Cấu trúc xốp
meso được sử dụng làm chất mang cho axit, bazơ và các nano kim loại hoặc oxit kim
loại. Như vậy khi kết hợp một oxit hoặc một kim loại có hoạt tính xúc tác cao với một
khung có diện tích bề mặt lớn có thể làm các chất xúc tác ở trạng thái phân tán cao nên có
thể phát huy tối đa tác dụng của chúng. Ngoài ra do có diện tích bề mặt lớn mà các vật
liệu xốp cũng được sử dụng để chế tạo các chất hấp phụ.
1.4.4. Ứng dụng trong sắc ký lỏng hiệu suất cao (HPLC)
Al-MCM-41 [6] được sử dụng làm pha tĩnh trong sắc ký lỏng hiệu năng cao: do nó
có cả tính axit và bazơ nên thích hợp cho việc sắc ký phân tách các hợp chất axit, trung
hoà và hợp chất bazơ. Các vật liệu xốp họ M41S được gắn với (R)-naphtylethylamin và
được sử dụng như là chất mang trong sắc ký lỏng hiệu năng cao bất đối xứng
1.4.5. Các lĩnh vực ứng dụng khác
Ngoài ra các vật liệu xốp còn rất nhiều những ứng dụng thú vị như: Sử dụng vật liệu
xốp để điều khiển chọn lọc hình học trong quá trình polime hoá styren, metylmetacrylat


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status