Lịch sử địa phương An Giang Di tích lịch sử Đền thờ Quản Cơ Trần Văn
Thành
Cách thành phố Long Xuyên khoảng 50 km. Di tích lịch sử Đền thờ Quản Cơ Trần Văn
Thành nằm sâu trong con đường làng bên bờ kênh Xáng Vịnh Tre (Kênh Tri Tôn), thuộc khu vực
cánh đồng Láng Linh, ấp Long Châu I (nay ấp Bờ Dâu), xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh
An Giang. Di tích còn có tên là Bửu Hương tự, nhân dân thường gọi chùa Láng Linh, chùa Nhà
Láng. Di tích là nơi thờ, tưởng nhớ Chánh Quản Cơ Trần Văn Thành, người có công lớn trong việc
khai phá vùng Láng Linh và lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp trong những năm cuối
thập niên 60 của thế kỷ XIX.
Trước khi tìm hiểu về di tích lịch sử này, chúng ta se cùng tìm hiểu về than thế và sự
nghiệp của ông, cũng như cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa.
1. Thân thế và sự nghiệp.
Trần Văn Thành sinh ra trong một gia đình trung nông ở ấp Bình Phú (Cồn Nhỏ), làng
Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Đông Xuyên, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc xã Phú Bình,
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Ông trưởng thành và hoạt động dưới triều đại Thiệu Trị và Tự
Đức, từ khoảng năm 1841 đến 1873. Vợ của Quản Cơ Trần Văn là Nguyễn Thị Thạnh và có sáu
người con: ba trai, ba gái. Người con trưởng nam là Trần Văn Nhu (tục gọi Cậu Hai Nhu) và kế
theo đó là Trần Thị Hè, Trần Văn Chái, Trần Thị Nên, Trần Thị Núi và Cậu Trạng Bảy. Cậu này sở
dĩ có cái đặc danh Cậu Trạng Bảy là vì cậu thứ bảy chết hồi 7 tuổi (không ai được biết tên).
Năm 1840, khoảng ngoài 20 tuổi, ông gia nhập quân ngũ giữa lúc Nặc Ông Đôn, em vua
Cao Miên, khởi quân chống lại cuộc bảo hộ của Việt Nam. Nhờ có sức khỏe, giỏi võ nghệ, khá
thông thạo chữ nghĩa, nên được làm suất đội, chỉ huy khoảng 50 lính, từng đóng quân ở Chân Lạp
(Campuchia). Sau khi lập được nhiều công lao, ông được thăng Chánh quản cơ (1945), chỉ huy
khoảng 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc, để gìn giữ biên giới phía Tây Nam.
Năm 1846, Nặc Ông Đôn qui phục nhà Nguyễn. Cuối năm Đinh Mùi (1847), xét thấy tình
hình biên giới Tây Nam đã ổn định, thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", triều đình cho giải
ngũ một số binh sĩ, trong đó có cơ biền của Trần Văn Thành. Trước khi về lại quê nhà, ông được
ban thưởng nhiều phẩm vật cùng một tờ chiếu khen là “Quản cơ tinh binh”. Giải ngũ, Trần Văn
Thành cùng gia đình đến cư ngụ tại khu vực chùa Huê Viên (còn gọi là chùa Vườn Bông, nay
thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân).
Năm 1849, Trần Văn Thành gia nhập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Đoàn Minh Huyên
Ở đó, hằng năm vào những tháng nước lên (còn gọi là “mùa nước nổi” từ khoảng tháng 7 cho đến
giữa tháng 10 âm lịch), là một biển nước mênh mông (vì thế có tên gọi Lánh Linh). Láng Linh tiếp
giáp với một cánh đồng tương tự có tên là Bảy Thưa (vì nơi ấy mọc khá nhiều cây bảy thưa. Giống
cây này giờ đây đã dần mất bóng, ngay tại dinh Sơn Trung chỉ còn 3 bụi cây non nhỏ nhoi). Cả hai
cánh đồng vào mùa khô, nước không cạn hẳn mà biến thành những ao đìa, mương rạch, những
đầm lầy vô số đĩa vắt và cùng lau sậy, cỏ dại thi nhau chen chúc, trùm lấp...Tất cả tạo nên những
địa thế thật hiểm trở.
Theo lời kể của nhân dân và tư liệu cũ thì căn cứ chính của khởi nghĩa Bảy Thưa là Hưng
Trung doanh (nay thuộc ấp Hưng Trung, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú). Xung quanh có các
Trang 2
Lịch sử địa phương An Giang Di tích lịch sử Đền thờ Quản Cơ Trần Văn
Thành
đồn làm tuyến ngăn cản đối phương, như: đồn Cái Môn, đồn Lương (đều thuộc Thạnh Mỹ Tây),
đồn Giồng Nghệ (Vĩnh Hanh, (Châu Thành), trạm canh Ông Tà (Tà Đảnh, Tri Tôn), đồn Hờ ở vàm
rạch Cái Dầu (Châu Phú), v.v... (xem thêm bản đồ chiến khu Bảy Thưa). Mỗi đồn đều được trang
bị súng thần công, súng điểu thương, hỏa hổ,... với khoảng 150 nghĩa quân phòng thủ.
Trần Văn Thành phất cờ chống Pháp vào khoảng tháng 8 năm 1867, và lấy tên Binh Gia
Nghị đặt cho đội quân của mình. Nhà sử học Phạm Văn Sơn cho biết thêm: “ Số quân của ông
Thành theo tờ trình của Pháp vào năm 1870 có khoảng 1200 quân (Sau khi càn quét “Hưng Trung
doanh”, chủ tỉnh Long Xuyên Emile Puech ước lượng số nghĩa quân chỉ chừng 400 đến 500
người), đa số là tín đồ theo giáo phái Bửu Sơn kỳ hương . Xin nhắc rằng Đức Phật thầy Tây An
(Đoàn Minh Huyên) lập ra đạo phái này và họ Trần là một cao đệ... Đức Phật thầy mất đi thì họ
Trần kế tiếp việc hương khói, họ Trần ra kháng chiến, tất nhiên phải sử dụng đến lực lượng
này”(Việt sử tân biên , Sài Gòn, 1962, tr.211). Để củng cố thêm thế lực, Trần Văn Thành cho
người đến liên hệ với Pu Kom Pô, thủ lĩnh kháng Pháp ở Campuchia, nhưng vì ông này cũng đang
gặp khó khăn nên việc liên kết không mấy hiệu quả. Ngoài ra, ông còn cho người sang Xiêm La và
Cao Miên để mua súng đạn, nhưng không thành công, vì hai nước này không muốn nhúng tay vào
việc Nam Kỳ e mất lòng Pháp.
Cuối năm 1868, các phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ đã bị tan rã gần hết, lực lượng
Trần Văn Thành lâm vào thế cô, và ông trở thành nhân vật bị Pháp truy nã, treo giải thưởng cao.
nổ phát không nên chẳng bao lâu Pháp quân tràn vào được”.
Cùng ngày, từ phía Vĩnh Thanh, cờ Pháp tiến vào đuổi quân Việt tới ngọn rạch Hang Tra là
nơi Trần Văn Thành chỉ huy chiến cuộc. Con thứ tư của ông Thành là Trần Văn Chái làm tiên
phong, đề đốc Văn tức đội Văn giữ hậu tập. Đến gần tối thì Chái bị thương ở đùi.( Sau khi bị
thương, Trần Văn Chái bị bắt và sau đó tuẫn tiết trong nhà ngục Châu Đốc, năm ấy Chái mới 18
tuổi).
Trước hỏa lực mạnh mẽ của đối phương, dù cố gắng chống trả nhưng chỉ vài giờ sau thì
quân Bảy Thưa cũng bị đánh tan. Cũng theo Sơn Nam thì sau trận này, bên nghĩa quân có 10 người
chết, 5 người bị thương, 15 người bị bắt sống. Ngoài ra, họ còn bị đối phương chiếm đoạt 16 súng
điểu thương, 70 cây đao, nhiều gạo cùng ghe xuồng, một số giấy tờ cho thấy ông Thành từng ở
Rạch Giá với Nguyễn Trung Trực và can dự vào vụ đánh giết Salicetti (chủ tỉnh Vĩnh Long) ở
Vũng Liêm.
Xong trận, Pháp thu hết các súng nặng, nhẹ; hủy hết cả lò đúc đạn dược, rồi nổi lửa đốt hết
doanh trại của nghĩa quân 3 ngày mới tắt…”(Việt sử tân biên, sách đã dẫn).
Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế cho biết: Sau khi “Bản doanh Hưng Trung bị tàn
phá, thất bại nặng, ông Thành rút lui vào chiến khu và mất ngày 21 tháng 2 âm lịch năm 1873 (Từ
điển nhân vật lịch sử Việt Nam , NXB KHXH, Hà Nội, 1992.)
Có người lại cho rằng: Ngày 20 tháng 3 năm 1873 (21 tháng 2 âm lịch), quân Pháp tấn
công vào đồn Hưng Trung là tổng hành dinh của nghĩa quân do Trần Văn Thành chỉ huy. Ông và
Trang 4
Lịch sử địa phương An Giang Di tích lịch sử Đền thờ Quản Cơ Trần Văn
Thành
các nghĩa quân của mình đã xả thân chiến đấu, nhưng chỉ cầm cự được đến tối thì thất thủ. Giặc
Pháp không tìm được thi thể ông, nhưng có lẽ ông đã hi sinh trong trận chiến này.
Nhà văn Sơn Nam không nói Trần Văn Thành chết lúc nào, lý do gì; ông chỉ cho biết: Pháp
“ đem xác Trần Văn Thành chưng bày tại chợ Cái Dầu (Châu Phú, Châu Đốc), thêm xác của đội
Văn (Pháp ghi là Vang) để nhằm ngăn chận những tin đồn thất thiệt cho rằng ông còn sống, đi lánh
mặt và tiếp tục kháng chiến. Về cái chết của ông, đến nay vẫn chưa được làm rõ. Để tưởng nhớ
công lao của ông, nho sĩ Cao Văn Cảo, người cùng thời, có làm bài thơ chữ Hán tưởng niệm ông.
Vô danh dịch như sau: