nghiên cứu xây dựng mô hình chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp - Pdf 13

8171
Hà Nội, 2010 Chủ nhiệm đề tài:
TS. Nguyễn Văn Tân
Cơ quan quản lý:
Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì đề tài:
Văn phòng Chương trình Kỹ thuật-Kinh tế về
Tự động hóa và Công nghệ vật liệu
Người thực hiện:
TS. Nguyễn Văn Tân
Ths. Bùi Minh Sơn
Ths. Phạm Quốc Anh
Hà Nội, 2010
i
MỤC LỤC CH¦¥NG 1 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Khái quát chung 1


3.1.1. Các chương trình KH&CN tại Trung Quốc 27
3.1.2. Kinh nghiệm ươm tạo doanh nghiệp của Trung Quốc 37
3.2. TỔNG HỢP KINH NGHIỆM CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CÔNG NGHIỆP CỦA THÁI LAN 40

3.2.1. Chuyển giao công nghệ ở Thái Lan 40
3.2.2. Kinh nghiệm chuyển giao công nghệ trong ngành chế
tạo Thái Lan 42

3.3. TỔNG HỢP KINH NGHIỆM CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CÔNG NGHIỆP CỦA HÀN QUỐC 48

ii
3.3.1.
Tình hình nhập công nghệ ở Hàn Quốc và hoạt động
chuyển giao công nghệ (tập trung vào các thập kỷ 70,
80 và 90) 48

3.3.2. Nội dung và những đặc điểm du nhập công nghệ ở Hàn
Quốc 51

3.3.3. Các chương trình phát triển KH&CN trọng điểm 54
CH¦¥NG 4 59
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG
NGHỆ CÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-
2020 59

4.1. Định hướng hoạt động CGCN giai đoạn 2010-2020 59
4.2. Đề xuất mô hình CGCN 61

ứng dụng là động lực ch
ủ yếu của tăng trưởng kinh tế, tạo ra của cải, tạo ra
việc làm cho tất cả các ngành kinh tế. Nhà kinh tế học P.F.Durker gọi đó là
nền kinh tế tri thức và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử
dụng chính thức của Ngân hàng thế giới. Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri
thức sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức. Tài nguyên và vố
n dù quan
trọng vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa thế giới, một số nước đang phát triển, tuy
chưa có công nghiệp hiện đại, công nghệ cao nhưng biết chủ động hội nhập
kinh tế, tranh thủ tiếp thu công nghệ cao trên cơ sở nguồn nhân lực thích hợp,
thì vẫn có thể bước đầu phát triển kinh tế tri thức.
Nước ta, tuy còn ở trong nền kinh tế nông nghi
ệp và là nước đang phát
triển thu nhập thấp, nhưng biết phát huy đội ngũ cán bộ khoa học và công
nghệ có năng lực tiếp thu và ứng dụng các công nghệ cao, qua chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, vẫn có thể có cơ hội rút ngắn thời gian để tiến nhanh
hơn. Muốn vậy, phải đồng thời tiếp thu công nghệ cao của phát triển kinh tế
tri thức và vận dụng ngay vào công nghi
ệp hóa, hiện đại hóa trong các lĩnh
vực cần thiết. Ví dụ phát triển các phần mềm hệ điều hành máy với sự điều
2
chỉnh hợp lý, có thể ứng dụng vào các máy trong công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Thực tế cho thấy khi chúng ta phát triển công nghệ thông tin và truyền
thông, internet, mạng viễn thông kỹ thuật số, điện thoại di động , tức là phát
triển một số bộ phận của kinh tế tri thức thì mặc nhiên thúc đẩy hiện đại hóa ở
trình độ cao, nhiều lĩnh vực của công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và dịch
vụ
. Do đó việc kết hợp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh

doanh nghiệp mới phát triển. Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả,
tránh phiền hà, tham nhũng, giảm thiểu các chi phí, thủ tục hành chính, góp
phần tăng sức cạnh tranh.
Thứ hai: Đào tạo nguồn nhân lực tài năng sáng tạo, biết phối hợp và chia
s
ẻ ứng dụng những thông tin, tri thức thành sản phẩm có sức cạnh tranh cao.
3
Thứ ba: Xây dựng một hệ thống đổi mới hiệu quả bao gồm: các doanh
nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức tư vấn và
các tổ chức khác liên kết, trao đổi thông tin, tri thức với nhau theo những mục
tiêu đã xác định. Họ phải thường xuyên tiếp cận các kho thông tin, tri thức
của thế giới được liên tục chất đầy, để tích cực "tiêu hóa" chúng và thích nghi
hóa cho các nhu cầu của mình và t
ừ đó sáng tạo ra công nghệ cao mới.
Thứ tư : Tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và truyền
thông, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển ngành công nghệ cao dẫn đầu này.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, phổ biến và sáng tạo tri thức.
Bốn hướng trên đây thường được xem như bốn trụ cột xây dựng kinh tế tri
thức mà lãnh đạ
o Nhà nước phải chỉ đạo mới có thể thành công. Căn cứ vào
các chỉ số đánh giá về mức phát triển kinh tế tri thức của Ngân hàng thế giới,
nếu so sánh nước ta với nhóm các nước công nghiệp phát triển cao (OECD)
thì nước ta có một số ít các chỉ số đạt mức khá như tăng trưởng GDP hằng
năm, chỉ số phát triển con người (HDI), đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)
Như
ng nhìn chung vẫn còn nhiều chỉ số thấp kém so với nhiều nước trên thế
giới và khu vực, đó là chỉ số phát triển nguồn nhân lực, chỉ số phát triển và
đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ cao, sức cạnh tranh, chỉ số phát triển
công nghệ thông tin và truyền thông
Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri

c tiêu kinh tế xã hội:
Trong tình trạng suy giảm kinh tế toàn cầu hiện nay, việc đề xuất mô hình
chuyển giao công nghệ và hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp công nghiệp
trên cơ sở khoa học công nghệ sẽ giải quyết nhanh nhất các kết quả nghiên
cứu vào sản xuất công nghiệp. Các sản phẩm chủ lực của nước ta sẽ có khả
năng cạnh tranh hơn, đem lại nhiều công ăn việ
c làm và hiệu quả kinh tế góp
phần nâng cao tăng trưởng và an sinh xã hội theo chương trình của Đảng và
Chính phủ.
c) Mục tiêu khoa học công nghệ:
Góp phần nâng cao trình độ công nghệ Quốc gia và cải thiện môi trường
đầu tư trong lĩnh vực công nghệ công nghiệp và công nghệ cao hiện nay.
1.2.2. Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát thu thập các số liệu liên quan tới chuyển giao công nghệ tại
các doanh nghiệp công nghiệp từ trước tớ
i nay.
- Phân tích, đánh giá hiệu quả của việc chuyển giao công nghệ tại các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nghành công
nghiệp.
- Nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài trong chuyển giao
công nghệ đối với các doanh nghiệp công nghiệp.
- Nghiên cứu đề xuất mô hình chuyển giao công nghệ trong các doanh
nghiệp công nghiệp giai đoạn từ nay tới 2020.
5
CHƯƠNG 2
HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN) nói chung tại Việt Nam hiện

tạo - nghiên cứu - sản xuất, kinh doanh, quan hệ hợp tác giữa các tổ chức
khoa học công nghệ, chất lượng các đề tài nghiên cứu khoa học đã nghiệm
thu và việc đưa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống vẫn còn nhiều hạn chế.
6
Tại Bộ Khoa học và Công nghệ, đến nay mới chỉ có trên 200 hợp đồng
CGCN được phê duyệt, đăng ký, chiếm phần rất nhỏ trong số các dự án
CGCN thực thi tại Việt Nam. Báo cáo về sức cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế
Thế giới (WEF) cũng cho thấy năm 2004 tính trên 104 nền kinh tế được
nghiên cứu, Việt Nam xếp hạng 79 về mức độ sử dụng bằng sáng chế, hạ
ng
99 về mức sử dụng bằng sáng chế công nghệ nước ngoài.
B ảng 1
. Chỉ số xếp hạng về công nghệ của Việt Nam năm 2004
Chỉ số xếp hạng về công nghệ 92
Chỉ số về sáng tạo công nghệ 79
Chỉ số về công nghệ thông tin 86
Chỉ số về chuyển giao công nghệ 66
Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) (2004) “Báo cáo năng lực cạnh
tranh” />
Để có một cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng hoạt động CGCN công
nghiệp của Việt Nam trong những năm gần đây, sau đây chúng tôi tổng hợp
và phân tích hiệu quả hoạt động CGCN phân theo các lĩnh vực quốc phòng,
an ninh và trong các thành phần doanh nghiệp.
2.2 HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CÔNG NGHIỆP
TRONG LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH
Việc CGCN trong lĩnh vực an ninh, Quốc phòng ở nước ta chủ yếu là liên
doanh với nướ
c ngoài sản xuất hàng tiêu dùng, hoặc nhập chi tiết, linh kiện
chi tiết về lắp ráp. Như vậy thực trạng CGCN ở đây là việc mua (nhập) máy
cái hoặc dây chuyền lắp ráp hoặc mua phần mềm thiết kế chế tạo. Điều này

của bên Việt Nam,
Một vấn đề CGCN và khoa học kỹ thuật trong các dự án ở đây là không
có tính chiều sâu. Thực chất việc CGCN trong quá trình vào hoạt động sản
xuất là mua các thiết bị đồng bộ hoặc từng công
đoạn, chủ yếu là giải quyết
nhiều lao động giản đơn.
Sau đây là kết quả khảo sát một số doanh nghiệp Quốc phòng đã có nhiều
bước tiến trong thời kỳ đổi mới, có sản phẩm xuất khẩu cũng như có uy tín
đối với thị trường trong nước, các doanh nghiệp này cũng chú trọng đến việc
vươn tới công nghệ mới trong sản xuất cũ
ng như học tập.
2.2.1.1 Doanh nghiệp quân đội sản xuất hàng tiêu dùng:
Xuất phát điểm từ một xí nghiệp chuyên may quân phục cho quân đội,
sau hơn 30 năm đã phát triển thành Tổng công ty hoạt động theo mô hình
công ty mẹ - công ty con với 10 đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc, 7
công ty con và 8 công ty liên kết. Năm 2009 Công ty 28 (Agtex) chính thức
trở thành Tổng công ty 28 (Agtex Corp.) theo quyết định của Chính phủ và
Bộ Quốc phòng, đánh dấu bước chuyển lớn về
năng lực và quy mô doanh
nghiệp. Sự mở rộng về quy mô doanh nghiệp với tốc độ nhanh chóng tại
Tổng công ty 28 đã cho thấy phần nào xu hướng đầu tư lớn của doanh nghiệp
này. Tổng công ty 28 thuộc diện “mạnh tay chi” trong khối các doanh nghiệp
ngành Dệt May khi đầu tư hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Chính vì thế, Tổng
công ty 28 là một trong số ít doanh nghiệp có mô hình sản phẩm tương đối
8
khép kín, từ dệt, nhuộm đến may đo thành phẩm. Và ở khâu nào, đầu tư cũng
được quan tâm, nhắm tới mục tiêu là tiến thẳng vào công nghệ hiện đại.
Với sản phẩm sợi dệt, Tổng công ty 28 đầu tư toàn bộ dây chuyền kéo sợi
của hãng Rieter (Thụy Sĩ), máy đánh ống Schlathorst (Đức). Các thiết bị thí
nghiệm sợi là các máy Uster của Mỹ. Sản lượng đạt 1.750 tấn sợi/năm.

Tổng công ty 28 đã thu hút được nhiều
đối tác nước ngoài cùng hợp tác. Hàng
năm 60% sản lượng xuất khẩu cho các khách hàng Mỹ, Anh, Ý, Nhật, Hong
Kong… Hiện nay, Tổng công ty 28 đang là đối tác sản xuất cho một số
thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như: Hugo Boss, Nike, Samsung, Itochu,
Esquel
9
Với 40% sản lượng tiêu thụ thị trường nội địa, với nhãn hiệu Agtex28,
Belluni, những sản phẩm veston nam, nữ, áo sơmi, quần âu… cũng ngày càng
được người tiêu dùng ưu thích và lựa chọn.
Tổng công ty 28 luôn đạt mức tăng trưởng doanh thu bình quân là
15%/năm. Năm 2008, doanh nghiệp đã đạt danh hiệu "Doanh nghiệp xuất
khẩu uy tín" do Bộ Công Thương xếp hạng.
Qua sự phát triển của Tổng công ty 28, ta thấy việc CGCN ở
đây đã được
quan tâm, nhưng cơ bản vẫn là việc mới chỉ nhập các thiết bị và sử dụng thiết
bị chuyên dùng. Ngay cả việc thiết kế mẫu mã, kiểu dáng thì phải thuê chuyên
gia nước ngoài. Và hiện nay mới chỉ dừng ở việc may gia công cho các hãng
có thương hiệu của nước ngoài. Còn thương hiệu của Tổng công ty mới chỉ
đáp ứng thị trường nội địa. Lý giải việ
c này là do việc thiết kế các phần mềm
trong việc tạo mẫu trong nghành Dệt May của Việt nam chưa có, chúng ta
cũng chưa có nhà máy nào sản xuất chế tạo máy may, đồ gá cữ dưỡng gá lắp
trong nghành May mặc. Chúng ta cũng chưa có trường Đại học đào tạo hay
Viện nghiên cứu chuyên nghành chuyên sâu, vì thế chúng ta chưa có đội ngũ
các nhà chuyên gia, nhà thiết kế tạo nên thương hiệu mang tầm Quốc tế. Các
loại sợi cao cấp, v
ải cao cấp và các loại phụ liệu cho nghành May hiện nay
Việt nam hầu hết phải nhập của nước ngoài. Do đó thực chất việc CGCN ở
đây mới chỉ ở giai đoạn là mua các phần mềm cho một số công đoạn và thiết

các phần mềm chuyên dụng và trên các thiết bị công nghệ điều khiển bằng
chương trình kỹ thuật số.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Giảm chi phí do
việc giảm tiêu hao nguyên vật liệu, vật tư. Tăng năng su
ất lao động, rút ngắn
chu trình đóng tàu.
- Tăng doanh thu, lợi nhuận, nâng cao thu nhập cho người lao động.
Qua tìm hiểu, khảo sát thực tế của dự án cho thấy quá trình CGCN thực
chất mới chỉ là mua và đưa vào sử dụng, ứng dụng các phần mềm triển khai
đóng vỏ tàu và thiết kế loại tàu nhỏ phạm vị hoạt động hẹp. Nếu mở rộng hơn
thì mới dừng ở việc
đóng vỏ cho loại tàu mang tính đặc thù, như tàu phóng
như lôi, tàu tuần tiễu biển, nhưng thiết kế của nước ngoài, vật tư, chi tiết lắp
ráp phải nhập của nước ngoài. Ví dụ như: vỏ tàu tuần tiễu biển phải nhập
nhôm tấm, nhôm định hình của Nga (Liên xô cũ), các thiết bị vô tuyến, định
vị phải nhập của Pháp,…Hay nói một cách khác chúng ta mới chỉ gia công
phần thô, lắp ráp còn CGCN thực ch
ất là mua và sử dụng phần mềm của nước
ngoài.
Qua khảo sát 02 doanh nghiệp Quân đội có quan tâm đến việc đầu tư,
CGCN trong hoạt động sản xuất phục vụ công tác quốc phòng có hiệu quả.
Nhưng thực chất trong quá trình CGCN chúng ta còn nhiều khó khăn trong
việc tiếp nhận cũng như thực hiện, hiệu quả của quá trình CGCN chưa cao.
Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Lê Quang Bình
cho biết, khi kh
ảo sát thực tế về tổ chức và hoạt động Công nghiệp Quốc
phòng hiện nay ở nước ta "mang tính khép kín, quy mô nhỏ, phân tán, sự liên
kết nhỏ bé, nguồn lực đầu tư hạn chế, công nghệ lạc hậu, khó phát triển theo
hướng hiện đại”. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh bày tỏ
mong muốn trong buổi thảo luận cho ý kiến vào “Pháp lệnh Công nghiệp

Việt Nam mở rộng hợp tác quốc phòng

Trong hợp tác quân sự giữa Việt Nam với các nước, Nga là nước cung cấp
chủ yếu các trang thiết bị quốc phòng cho Việt Nam. Thông tin từ Bộ Ngoại
12
giao cho biết, một hợp đồng mua bán vũ khí lớn đang được hoàn tất trong
chuyến thăm Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trong khi nguồn tin từ
Bộ Quốc phòng Nga còn tiết lộ Việt Nam đang xem xét kế hoạch mua tàu
ngầm hạng Kilo và máy bay Su30 của Nga.
Đối với quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, việc trao đổi quân sự giữa hai nước
đã có nhiều tiến bộ và cởi mở hơn. Theo Hãng thông tấn Reuters trích l
ời
quan chức quốc phòng cao cấp của Hoa Kỳ nói Mỹ sẵn sàng cân nhắc bán vũ
khí, ít nhất là loại phi hủy diệt cho Việt Nam khi quan hệ an ninh song
phương phát triển tốt. Ngoài ra Mỹ cũng có thể giúp Việt Nam hiện đại hóa
không quân. Phó Đô đốc Jeffrey Wieringa, chủ nhiệm Cơ quan Hợp tác An
ninh Quốc phòng Hoa Kỳ, nói tại Hội nghị Không gian và Quốc phòng ở
Washington rằng Việt Nam, với bờ biển dài, có thể muốn mua máy bay tuần
tra hoặc h
ệ thống radar duyên hải của Mỹ.
Tuy nhiên các cuộc thảo luận mới ở mức "sơ khởi" như ông Weiringa
được Reuters trích lời nói: "Việc đầu tiên có thể xảy ra (trong hợp tác quốc
phòng song phương) là đào tạo tiếng Anh cho quân nhân Việt Nam. Sau đó sẽ
là Việt Nam tham gia chương trình Giáo dục và Huấn luyện Quân sự Quốc tế
của Hoa Kỳ (U.S. International Military Education & Training - IMET)…
Tiếp theo hai bên sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ và việc mua bán vũ khí hoàn
toàn có th
ể xảy ra"
Trong quan hệ Việt-Pháp, Việt Nam có quan điểm coi Pháp là một đối tác
đặc biệt và ưu tiên ở châu Âu và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ mong

hóa dữ liệu cán bộ Công an nhân dân” được ký giữa Tổng cục Xây dựng Lực
lượng Công an nhân dân - Bộ Công an với công ty Cổ phần Công nghệ Tinh
Vân hay công ty Cổ phần Quốc tế Sun Ivy đã phối hợp với Tổng cục k
ỹ thuật
– Bộ Công an cài đặt, thử nghiệm giải pháp điều hành trực tuyến đa phương
tiện trên hệ thống mạng diện rộng Bộ Công an tại các điểm Thành phố Hồ
Chí Minh và Hà Nội. Hệ thống này còn được ứng dụng trong chỉ huy tác
chiến, theo dõi an ninh biên giới quốc gia, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật từ xa
trong ngành công an.
Ngoài ra phải kể đến hoạt động CGCN phục vụ
điều khiển giao thông đặc
biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. TP. Hồ Chí Minh
đã đầu tư 4 triệu USD từ nguồn vốn vay ODA theo Nghị định thư Pháp - Việt
để lắp đặt Trung tâm điều khiển 48 chốt đèn tín hiệu giao thông (THGT) triển
khai từ năm 1996 đến năm 2003.
Hệ thống đèn THGT nói trên được lắp đặt trên địa bàn các quận 5, 6 và 11
do Công ty Sagem của Pháp lắp đặt ch
ủ yếu trên các tuyến đường Hồng
14
Bàng, An Dương Vương, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo… thuộc địa bàn quận
5, 6 và 11. Vị trí được lắp ở những nút giao thông quan trọng, thường kẹt xe.
Toàn bộ dự án gồm xây dựng tòa nhà Trung tâm điều khiển (TTĐK) đèn
THGT, lắp đặt 48 chốt đèn THGT, lắp đặt tám camera và hai bảng thông tin
điện tử gần giao lộ nút giao thông Phú Lâm (Q6) và trên đường Trần Hưng
Đạo (Q1), hệ thống đèn có bộ phận thu, phát và truyền thông tin v
ề trung tâm
điều khiển tín hiệu giao thông (Phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ
Công an TP.HCM). Trên cơ sở các thông tin này, các cán bộ CSGT ngồi
trong phòng vẫn nắm bắt được ngoài đường có kẹt xe hay không và điều
khiển từ xa, thay đổi chu kỳ đèn khi có ùn tắc. Đây cũng là công nghệ lần

vấn tìm hướng khắc phục đường truyền dẫn dữ liệu và cài đặt lại cho máy chủ
nhưng vẫn không có h
ướng giải quyết. Lúc này, Công an TP mới mời Công
15
ty TNHH Europ Contients VN (đơn vị được Công ty Sagem chỉ định việc
cung cấp dịch vụ bảo trì cho hệ thống này tại VN) tham gia giải quyết. Sau
khi tiến hành khảo sát, Công ty TNHH Europ Contients VN thông báo máy
chủ có hai bo mạch điện tử bị hỏng, hiện nay nhà sản xuất không còn cung
cấp bo mạch điện tử này trên thị trường. Hơn thế, việc cài lại hệ điều hành và
phần mềm điều khiển do Công ty Sagem cài đặ
t cũng phải cần cập nhật. Như
vậy, phải mời chuyên gia của Công ty Sagem qua mới thực hiện được công
việc sửa chữa.
Thực tế đưa vào sử dụng hệ thống đèn tín hiệu giao thông tại TP Hồ Chí
Minh cũng cho thấy những bất cập trong công tác tiếp nhận CGCN, sự thiếu
chủ động của đội ngũ cán bộ trong nước mặc dù đây chỉ là mộ
t trong số nhiều
bài học về hoạt động CGCN của nước ta.
2.3 HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CÔNG NGHIỆP
TRONG CÁC THÀNH PHẦN DOANH NGHIỆP
2.3.1 Doanh nghiệp tư nhân và cổ phần nhà nước không chi phối
Doanh nghiệp tư nhân và cổ phần Nhà nước không chi phối, bao gồm cả
những doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh. Việc CGCN xảy
ra mạnh mẽ nhất là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài
(FDI), vì các doanh nghi
ệp này thường trực thuộc các tập đoàn kinh tế lớn, có
khả năng kinh tế và kỹ thuật, công nghệ cao. Một số đánh giá khác thì phân
chia việc CGCN chủ yếu theo hai luồng chính là từ công ty mẹ chuyển giao
cho các công ty con trong các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc trong các
công ty liên doanh. Luồng thứ hai là các hoạt động CGCN thương mại thuần

chưa nhiều, một số dự án còn sử dụng công nghệ lạc hậu, đặc biệt là ở thời
gian đầu, chưa đảm bảo quy chuẩn về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, ở một số
nơi, lương của người lao động còn thấ
p, điều kiện làm việc không bảo đảm,
chưa tương xứng với đóng góp của người lao động Đó là những tồn tại mà
chúng ta cần phải tập trung giải quyết trong thời gian tới.
∗ Nhiều hạn chế
Thực trạng CGCN trong các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam còn
rất nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp nước ngoài hầu như mới chỉ khai thác
nguồn lao động chi phí th
ấp chứ chưa thực hiện nhiều việc chuyển giao kỹ
thuật công nghệ cao và đào tạo nhân lực để phát triển công nghiệp nội địa.
Kết quả khảo sát của Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) được thực hiện
trong hơn 100 doanh nghiệp điện tử gần đây cho thấy, các công ty trong nước
tuyển dụng từ 10-64% lao động có trình độ cao đẳng trở lên, trong khi đó con
số tuy
ển dụng của cùng trình độ của khu vực FDI chỉ ở mức từ 4-10%.
Sau sự kiện Công ty Sanyo thành lập nhà máy sản xuất linh kiện điện tử
đầu tiên với vốn FDI, các ngành công nghiệp Việt Nam cơ bản vẫn chỉ sản
xuất được những mặt hàng đơn giản, những sản phẩm công nghệ cao cũng
mới chỉ là lắp ráp. Chính vì các công đoạn cần kỹ thuật cao chưa ph
ải do lao
động Việt Nam đảm nhận, nên việc học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm qua thực tế
sản xuất tại các doanh nghiệp FDI của nhân lực trong nước, chưa được nhiều.
Xu hướng các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài đang tăng lên,
trong đó gần 50% lao động phổ thông và chỉ có gần 45% có trình độ đại học
trở lên. Báo cáo của Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
(Tp.HCM) cho biết lao động không có chuyên môn k
ỹ thuật tại Tp.HCM đến
năm 2010 chiếm tỷ lệ 65,6%; lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, kể cả

ngành. Theo nhiều doanh nghiệp, hiện nay thông tin công nghệ mà họ nhận
được cũng rất ít ỏi. Khi doanh nghiệp muốn nhận công nghệ mới, họ mù tịt về
thông tin về công nghệ nào tốt, xấu, cái nào đã lạc hậu. Ông Trần Công
Hoàng Quốc Trang - chủ tịch hiệp hội nhựa TP.HCM cho biết có một doanh
nghiệp nhựa muốn nhập thiết bị sản xuất, khi qua Hong Kong được chào mời
thiết bị giá 2 triệu USD, nhưng sau đó lại được biết ở Hàn Quốc có thiết bị
tương tự giá chỉ có 600.000 USD, vậy lấy thông tin ở đâu để không bị hố giá?
Trong thời đại cạnh tranh gay gắt và hội nhập WTO liệu có nên trông chờ
các thông tin đến một cách tình cờ? Một số doanh nghiệp cho rằng, các cơ
18
quan nhà nước, đặc biệt là các cơ sở khoa học công nghệ phải có các đơn vị
tư vấn, giải đáp và nghiên cứu về công nghệ để tư vấn hướng dẫn cho doanh
nghiệp. Mặt khác, với cơ chế "hai bên cùng có lợi" doanh nghiệp chia lợi
nhuận cho đơn vị tư vấn nếu tham mưu có hiệu quả.
Các vườn ươm công nghệ còn thiếu và hoạt động chưa hiệu quả
Theo định nghĩa của Hiệp hội ươm tạo doanh nghiệp quốc gia Mỹ (NBIA)
"vườn ươm doanh nghiệp là nơi nuôi dưỡng các doanh nghiệp, giúp chúng
sống sót và lớn lên trong giai đoạn khởi sự bằng cách cung cấp dịch vụ hỗ trợ
kinh doanh và các nguồn lực cần thiết cho các doanh nghiệp non trẻ này".
Không chỉ Việt Nam cần có vườn ươm, mà trên thế giới, đây là năng lực nội
sinh để CGCN cho các doanh nghiệp. Theo thống kê, tại Trung Quốc đến
năm 2005 đã có 534 vườn ươm tổng diện tích 19,7 triệu mét vuông thực hiện
ươm tạo cho gần 40.000 doanh nghiệp. Theo tỷ lệ dân số 84/1.300 triệu
người, Việt Nam cũng cần có 35 vườn ươm với tổng diện tích 1.273.000m2
thực hiện ươm tạo cho 2.584 doanh nghiệp.
Hiện nay ở nước ta có hai vườn ươm lớn đang hình thành là khu công
nghệ cao Hoà Lạc ở phía Bắc và khu công nghệ cao TP.HCM ở phía Nam.
Ở phía Nam theo dự án được duyệt, từ nay đến năm 2010, vườn ươm
doanh nghiệp công nghệ cao ở TP.HCM sẽ được đầu tư trên 100 tỉ đồng để
xây dựng cơ sở hạ tầng theo tiêu chuẩn quốc tế được sử dụng hơn 10.000m 2

Nhưng có một mối quan hệ hữu cơ: Do công nghệ Việt Nam thiếu và yếu,
doanh nghiệp không mặn mà, mà đã không có yêu cầu thì công nghệ Việt
Nam càng yếu, vấn đề là làm sao phá được cái vòng luẩn quẩn này. Trong
giai đoạn quá độ, Nhà nước là chủ thể đặt ra yêu cầu cho các nhà khoa học.
Chính Bộ Khoa học công nghệ phải đặt ra yêu cầu nghiên cứu, thẩm định đề
tài, lựa chọn và cấp kinh phí nghiên cứu. Từ những ứng dụng có kết quả mới
tạo sức kích thích cho doanh nghiệp tiếp thu công nghệ Việt Nam.
2.3.2 Doanh nghiệp Nhà nước và Cổ phần nhà nước chi phối
Bất cập lớn nhất trong các doanh nghiệp Nhà nước và cổ phần Nhà nước
chi phối là sự chậm trễ, không đồng bộ, không nhất quán và thiếu tầm nhìn
chiến lược trong các khâu từ phê duyệt, đến thẩm định, đầu tư dự án,… Dẫn
đến việc CGCN trong các doanh nghiệp này hiện nay hết sức manh mún, kém
hiệu quả.
Nhiều cuộc khảo sát cho thấy trình độ công nghệ của một số ngành sản
xuất và của các doanh nghiệp Nhà nước còn lạc hậu. Theo kết quả điều tra về
thực trạng DN Việt Nam của Tổng cục thống kê công bố ngày 11-5-2005, hầu
hết các DN nước ta ở quy mô vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, do đó khả năng
trang bị máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ
tiên tiến là rất hạn chế. Mức
đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN) tuy đã tăng, nhưng chưa đáp
ứng nhu cầu phát triển và vẫn dựa chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước,
chưa huy động được các nguồn đầu tư xã hội, nhất là từ các doanh nghiệp. Cơ
chế, chính sách đầu tư cho khoa học và công nghệ chưa được tháo gỡ để tạo
nguồn lực và động lự
c cho các tổ chức và các nhà khoa học phát huy tối đa
năng lực sáng tạo và đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào ứng dụng trong thực
tế sản xuất kinh doanh. Công tác hội nhập quốc tế về KH&CN cũng chưa
20
được quan tâm đẩy mạnh để tìm kiếm, tiếp thu, làm chủ, tiến tới cải tiến công
nghệ nhập từ nước ngoài phục vụ đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, nâng

Đối với các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) lớn cũng ít quan tâm đến
đổi mới công nghệ vì thường có vị thế độc quyền nên không chịu sức ép cạnh
tranh và có tâm lý dựa dẫm vào sự bảo hộ của nhà nước. Ngay cả các DN
trong ngành công nghiệp, ngành được coi là chủ lực hoàn toàn cũng tương tự.
Theo Bộ Công Thương, phần lớn giá trị máy móc thiết bị sản xuất chỉ còn
30% so với giá trị ban đầu và đã lạc h
ậu hơn 30 năm như dệt may có đến 45%
thiết bị máy móc của các DN cần phải đầu tư nâng cấp và 30-40% cần thay
thế; mũi nhọn công nghiệp là cơ khí thì đã lạc hậu hơn 40 năm so với khu vực
và 50 năm so với các nước phát triển về công nghệ và thiết bị sản xuất. Đầu
tàu kinh tế của cả nước là TP Hồ Chí Minh cũng chỉ có 25% DN có công
21
nghệ sản xuất tiên tiến, 32% ở mức trung bình, còn lại là dưới trung bình và
lạc hậu, trong đó DN có công nghệ lạc hậu chiếm 20%.
Cơ chế bảo hộ cho các đối tượng sở hữu công nghệ còn yếu

Thể chế bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp chưa tạo đủ lòng tin cho các
nhà đầu tư thành lập và phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ.
Điều này liên quan đến hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật trong lĩnh
vực CGCN. Hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực này đang trong quá
trình hoàn thiện cho nên khó có thể nói đến tính chuẩn mực của các qui định
pháp luật theo hướng tương thích với các nướ
c trong khu vực và phù hợp với
thông lệ quốc tế.
Khả năng sinh lợi của hoạt động chuyển giao công nghệ còn thấp

Do thị trường của một số lĩnh vực như nông nghiệp và nông thôn chưa
phát triển, tình trạng hàng nông sản được sản xuất ra khó tiêu thụ, bị “rớt giá”
vẫn đang có tính chất phổ biến làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài. Nhà
nước chưa có cơ chế điều tiết hoạt động sản xuất và cung ứng hàng nông sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status