Thảo luận :Tài chính công
Đề tài: “Trong quá trình đánh giá phân tích chi tiêu
công chính phủ đã sử dụng những hình thức can
thiệp nào?Liên hệ những hình thức can thiệp đó
trong việc cung ứng các hàng hóa,dịch vụ công của
chính phủ Việt Nam hiện nay”GVHD:Th.s Vũ Xuân Thủy
Nhóm 9 lớp K6HK1B
Nội dung chính:
•
1.1. Khái niệm, đặc điểm, và vai trò của chi tiêu công
•
1.1.1. Khái niệm chi tiêu công
•
1. Những vấn đề lý luận chung về chi tiêu công.
•
1.1.2. Đặc điểm của chi tiêu công
•
1.1.3. Vai trò của chi tiêu công
•
1.2. Phân tích đánh giá chi tiêu công
•
1.2.1. Mục đích của phân tích đánh giá ch tiêu công
•
1.2.2. Quy trình, nội dung đánh giá phân tích chi tiêu công
•
1.3 Các hình thức can thiệp của Chính phủ đến chi tiêu công
soát và tài trợ bởi Chính phủ
•
1.1.2. Đặc điểm của chi tiêu công:
-phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi
quốc gia.
- phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi
quốc gia.
- Các khoản chi tiêu hoàn toàn mang tính công cộng. 1. Những vấn đề lý luận về chi tiêu công.
1.1. Khái niệm, đặc điểm và cai trò của chi tiêu công
•
1.1.3. Vai trò của chi tiêu công
-Chi tiêu công có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư của
khu vực tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
-Chi tiêu công góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế
-Chi tiêu công góp phần tái phân phối thu nhập xã hội giữa các tầng lớp dân cư,
thực hiện công bằng xã hội 1.Những vấn đề lý luận về chi tiêu công
1.2. Phân tích đánh giá chi tiêu công
•
1.2.1 Mục đích của phân tích đánh giá chi tiêu công:
Mục đích cơ bản của đánh giá chi tiêu công là giúp cho chính phủ sử dụng hiệu quả
hơn các nguồn lực tài chính công thông qua ưu tiên hóa các khoản chi tiêu nhằm
đem lại lợi ích thiết thực vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2. Quy trình, nội dung phân tích đánh giá chi tiêu công
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nhà nước đặc biệt là để ổn định giá cả
trong một số loại hàng hóa
- Nếu các loại hàng hóa, dịch vụ công này để khu vực tư nhân cung cấp thì
có thể dẫn đến tình trạng độc quyền gây ảnh hưởng đến xã hội và ảnh hưởng
đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Mặt khác, nếu hàng hóa
công cộng do tư nhân cung cấp thì họ không có công cụ, chế tài để buộc
những người sử dụng trả tiền. Vì vây, Chính phủ phải đóng vai trò cung cấp
hàng hóa dịch vụ công cộng và thu các khoản đóng góp thông qua thuế. Nhiều
khi hàng hóa dịch vụ công mà để khu vực tư nhân cung cấp sẽ không có hiệu
quả cao.
1.Những vấn đề lý luận về chi tiêu công
1.3. Các hình thức can thiệp của chính phủ đến chi tiêu công
•
1.3.2.Thực hiện đánh thuế và trợ cấp nhằm khuyến khích hoặc không khuyến khích khu
vực tư nhân sản xuất và cung cấp hàng hóa công
-Hàng hóa dịch vụ công không nhất thiết phải do Chính phủ cung cấp mà Có thể do
khu vực tư nhân cung cấp đảm bảo theo đúng định hướng của Nhà nước thì Nhà nước sẽ
dùng biện pháp này. Khu vực tư nhân kinh doanh mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Vì vậy,
lĩnh vực hàng hóa nào có khả năng mang lại lợi nhuận cao sẽ thu hút họ trong đó có cả
hàng hóa, dịch vụ công. Nhưng không phải khi nào hàng hóa, dịch vụ công do tư nhân
cung cấp cũng theo định hướng của Nhà nước. Tùy theo mỗi giai đoạn, thời ký phát
triển kinh tế xã hội, Nhà nước có những mục tiêu khác nhau và việc cung cấp hàng hóa
dịch vụ công cũng yêu cầu khác nhau. Khi một lĩnh vực nào đó mà Nhà nước muốn hạn
chế khu vực tư nhân đầu tư cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, Nhà nước sẽ thực hiện
đánh thuế.
-Ngược lại, Nhà nước sẽ trợ cấp cho lĩnh vực thiếu hàng hóa dịch vụ công mà Nhà
nước khuyến khích khu vực tư nhân cung cấp. Vì hàng hóa dịch vụ công không giống
như hàng hóa dịch vụ tư, việc cung cấp hàng hóa dịch vụ công lâu thu hồi vốn kinh
doanh, vốn kinh doanh thường phải thu hồi trong một thời gian dài nên việc cung cấp
chiếm 11,9% tổng chi NSNN để đảm bảo chi trả các khoản nợ trong và ngoài
nước đến hạn.
-Chi thường xuyên: 442.100 tỷ đồng chiếm 60,9% tổng chi NSNN, kể cả chi
điều chỉnh tiền lương trong năm 2011 thì chiếm 64.6% tổng chi NSNN
Về phân bổ chi tiết chi thường xuyên, dự toán chi năm 2011 phân bổ cho các
Bộ, cơ quan TW và các địa phương thực hiện theo định mức phân bổ chi
thường xuyên NSNN năm 2011.
2.2. Các hình thức can thiệp của Chính phủ Việt Nam trong việc cung
ứng hàng hóa dịch vụ công hiện nay
2.2.1. Hình thức tổ chức sản xuất và cung cấp toàn bộ
•
Một số loại hàng hóa, dịch vụ nếu để tự doanh nghiệp tư nhân đảm nhiệm thì
sẽ không có khả năng thực hiện bởi không đủ năng lực về mặt kỹ thuật cũng
như tài chính. Nhưng đó lại là hàng hóa, dịch vụ cực kỳ thiết yếu cho sự tồn
tại của xã hội, không thể không cung ứng. Đối với những hàng hóa, dịch vụ
này chỉ có Nhà nước mới có đủ khả năng sản xuất và cung cấp cho xã hội như:
An ninh quốc phòng, điện năng, nước sạch…
-Ngân sách chi cho quốc phòng năm 2011 khoảng 2,6 tỉ USD, chiếm khoảng
7.8% ngân sách quốc gia. Đây là khoản chi không nhỏ trong tổng chi ngân
sách nàh nước. Chi ngân sách quốc phòng đã giúp ổn định chính trị - xã hội
trong nước, giảm thiểu các tệ nạn xã hội. Ngoài ra, chi tiêu công cho quốc
phòng còn có tác dụng phòng thủ và bảo vệ đất nước
2.2. Các hình thức can thiệp của Chính phủ Việt Nam trong việc cung
ứng hàng hóa dịch vụ công hiện nay
2.2.1. Hình thức tổ chức sản xuất và cung cấp toàn bộ
•
Về việc cung cấp nước sạch. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2011
tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch ước tính đạt 73%, trong đó một số đô thị lớn
một công ty EVN( Tập đoàn điện lực Việt Nam) thực hiện.
•
Là công ty cung cấp điện duy nhất ở Việt Nam vì vậy công ty này đã trở thành nhà độc
quyền kinh doanh về điện. Nhưng EVN không cung cấp đủ nguồn điện cho dân sử dụng.
Việc cắt điện thường xuyên xảy ra, đặc biệt vào mùa hè. Vì vậy, Nhà nước nên xem xét
lại việc giao cho EVN độc quyền về điện hay nên mở cửa ngành điện.( nếu như mở cửa
ngành điện thì người tiêu dùng sẽ được hưởng nhiều ưu đãi hơn cũng giống như mở
ngành viễn thông)
2.2. Các hình thức can thiệp của Chính phủ Việt Nam trong việc cung ứng
hàng hóa dịch vụ công hiện nay
2.2.2. Hình thức đánh thuế và trợ cấp
•
Nhà nước thực hiện đánh thuế hay trợ cấp nhằm không khuyến khích
hoặc khuyến khích khu vực tư sản xuất và cung cấp hàng hóa công.
•
Tùy mỗi giai đoạn và tình hình cụ thể của đất nước mà Chính phủ có
các mục tiêu khác nhau và việc cung ứng hàng hóa công cũng khác
nhau.
•
Khi một lĩnh vực nào đó mà Nhà nước muốn hạn chế khu vực tư nhân
đầu tư cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, Nhà nước sẽ thực hiện đánh
thuế.
Ví dụ: Tăng thuế đối với các mặt hàng xa xỉ và các dịch vụ nhạy cảm.
Hàng loạt các mặt hàng xa xỉ, dịch vụ nhạy cảm và hàng hóa không
khuyến khích tiêu dùng đều nằm trong diện tăng mưc thuế suất. Đối
với rượu, luật thuế TTĐB hiện hành quy định thuế suất được phân biệt
theo nồng độ cồn. Trong đó, rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu
này có điều kiện thực hiện hiệu quả cao như GD-ĐT, y tế…
•
- Tư nhân hóa dịch vụ công.
2.2. Các hình thức can thiệp của Chính phủ Việt Nam trong việc cung
ứng hàng hóa dịch vụ công hiện nay
2.2.3. Hình thức kết hợp cả 2 hình thức trên
•
Hiện nay, hàng hóa dịch vụ công do cả Nhà nước và khu vực tư nhân cung cấp đó là lĩnh
vực giáo dục và y tế.
•
Với quan điểm “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, mấy năm nay chi phí cho giáo dục ở
Việt Nam vượt xa các nước phát triển cao, có thể thấy chi phí cho giáo dục ở Việt Nam
rât lớn. Tỷ lệ chi phí cho giáo dục trên GDP là 8,3% vượt xa các nước phát triển cao
thuộc khối OECD kể cả Mỹ, Nhật, Pháp và Hàn Quốc. Điều này thể hiện rõ trong chính
sách của Nhà nước Việt Nam, GD-ĐT tại Việt Nam luôn được ưu tiên phát triển hàng
đầu. Vì vậy, cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị được đầu tư cho GD-ĐT tại Việt
Nam luôn đáp ứng được nhu cầu của học sinh, sinh viên.
•
Bên cạnh việc Nhà nước cung cấp dịch vụ giáo dục thì hiện nay theo Nghị quyết 90/CP
của Chính phủ ngày 21/08/1997 về xã hội hóa giáo dục, Nhà nước mạnh dạn giao việc
cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho những pháp nhân ngoài Nhà nước và hoan nghênh
sự tham gia của khu vực tư nhân, phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhân
dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tê, văn hóa phát triển nhanh hơn, có
chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài là phương châm thực hiện chính sách xã hội
hóa của Đảng và Nhà nước. Xong sau 7 năm thực hiện nghị quyết này vấn đề tư nhân,
doanh nghiệp nươc ngoài bỏ vốn mở trường tư vẫn còn gặp khó khăn từ những quy định
mang tính “ bóp cổ chai” như: tăng thuế má về chế độ cho vay hiện nay trên 95% trường
dân lập chưa được Nhà nước cho vay vốn đầu tư, tâm lý phân biệt đối xử giữa trường
công và trường tư về chuẩn đào tạo và chế độ giáo dục chung vẫn còn nặng nề.
•
Ở một số nước diễn ra quá trình xây dựng hình thức sở hữu hóa Nhà nước (công hữu
hóa) ở một số ngành mà tư nhân không làm hoặc không quan tâm vì ít lợi nhuận, nhưng
cần thiết cho đời sống kinh tế xã hội (như ngành khai thác than đá ở Anh). Như vậy,
trong nền kinh tế thị trường hiện đại còn có quá trình công hữu hóa, chứ không phải chỉ
có qúa trình tư nhân hóa các hình thức sở hữu. Ở Pháp trong thời gian gần đây, khu vực
thuộc sở hữu hóa Nhà nước chiếm 13% GNP, hơn 30% tổng số vốn đầu tư trong nước, ở
các nước đang phát triển Đông Nam Á (Indonesia, Singapore, Thái Lan, Malaysia) khu
vực thuộc sở hữu Nhà nước có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nhất là trong các ngành
công nghiệp nặng.
•
- Nhà nước trực tiếp đầu tư vào các công trình công cộng, kết cấu hạ tầng như cầu
đường, bến cảng, hệ thống thoát nước… ( Anh, Pháp, Đức, Nhật). Nhà nước tạo điều
kiện thuận lợi về môi trường đầu tư cho tư nhân (Xây dựng kết cấu hạ tầng, bảo đảm tín
dụng cho tư nhân…)
•
- Ở một số nước, Nhà nước chú ý về tiền lương, trợ cấp thất nghiệp, phúc lợi xã hội
(nhất là ở các nước Châu Âu mà điển hình là Thụy Điển, Nhà nước phúc lợi pháp: Quy
định mức lương tối thiểu)
•
- Ở nhiều nước có luật chống độc quyền nhằm đảm bảo một sân chơi đồng nhất, cơ hội
ngang nhau giữa các thành viên trong nền kinh tế thị trường (Mỹ - Đức – Pháp)
HẾT!
CHÂN THÀNH CÁM ƠN SỰ LẮNG NGHE
CỦA THẦY VÀ CÁC BẠN!