V
V
A
A
I
IT
T
R
R
Ò
ÒC
C
U
U
Ả
ẢC
C
Ô
Ô
N
N
G
H
Ấ
Ấ
T
TL
L
Ư
Ư
Ợ
Ợ
N
N
G
GT
T
R
R
O
O
N
N
G
G
–
–K
K
I
I
N
N
H
HN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
M
MC
H
Ọ
Ọ
C
CC
C
Ầ
Ầ
N
NT
T
H
H
Ơ
ƠTS. Đỗ Văn Xê
Trường Đại Học Cần Thơ
1. Đặt vấn đề
Chất lượng là tiêu chuẩn đầu tiên trong việc chọn lựa một sản phẩm.
Mặc dù từ này chưa được thống nhất về định nghĩa, nhưng mỗi người đều có
sẵn trong đầu một số tiêu chuẩn tổng quát về chất lượng và áp dụng nó trong
ảo chất
lượng ngay từ năm 1995 lúc bắt đầu chương trình hợp tác với Hà Lan. Để
nâng cao chất lượng đào tạo của trường cần phải áp dụng nhiều biện pháp
liên hoàn, từ việc xây dựng kế hoạch hoạt động của trường theo phương
pháp qui hoạch chiến lược (strategic planning), cải tiến phương pháp giảng
dạy, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị ph
ục vụ giảng dạy, áp dụng các qui
trình quản lý chất lượng, cho đến việc tham gia mạng lưới kiểm định chất
lượng trong toàn quốc.
Bài báo cáo này nhằm tham gia trao đổi kinh nghiệm với hội nghị về
công tác đảm bảo chất lượng mà chúng tôi đã thực hiện tại trường Đọc Học
Cần Thơ trong thời gian qua.
2. Chất lượng là gì?
Tất cả chúng ta có thể hiểu một cách trực quan chất l
ượng là gì, nhưng
khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng. Chất lượng là một khái niệm mang
tính tương đối. Vấn đề này được nhìn nhận ở hai khía cạnh. Trước tiên, chất
lượng liên quan đến người sử dụng do đó nó tuỳ thuộc vào yêu cầu của
người sử dụng. Cùng một sản phẩm, nhưng hai người sử dụng khác nhau sẽ
có thể đánh giá khác nhau vì yêu cầu của họ khác nhau. Từ đó nảy sinh câu
hỏi “chất lượng của ai?” Trong lĩnh vực giáo dục có nhiều đối tượng liên
quan bao gồm sinh viên, nhà quản lý, cán bộ giảng dạy, cán bộ phục vụ,
chính phủ, các cơ quan cung cấp tài chính… mỗi đối tượng có một yêu cầu
khác nhau, do đó có thể dẫn đến tiêu chuẩn về chất lượng của các đới tượng
cũng khác nhau. Thứ hai, chấ
t lượng dựa vào sự khảo sát thực tế. Theo quan
niệm này thì chất lượng mang tính tuyệt đối hơn. Chất lượng là một ngưỡng
tuyệt đối cần phải vượt qua để đạt được sự xếp loại về chất lượng. Tuy
nhiên, cũng khó có thể xác định được một ngưỡng tuyệt đối để đánh giá chất
lượng, do đó nó cũng là một quá trình tương đối. Chất l
nhặt như các nhà máy công nghiệp nên cần có các mô hình tương đối linh
hoạt hơn. Các trường ở Châu Âu áp dụng mô hình EFQM (European
Foundation for Quality Management).
Mô hình EFQM dự
a trên nguyên lý quản lý chất lượng toàn diện (Total
Quality Management). Mô hình được xây dựng dựa theo chu trình PDCA
(Plan-Do-Check-Act) (lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra, hành động), chu
trình này được gọi là chu trình Shewhart. Mô hình EFQM được thể hiện
trong sơ đồ dưới đây.
Mô hình này thể hiện mối liên hệ của các công đoạn trong công việc
quản lý của nhà trường (1) Sự lãnh đạo vạch ra nội dung để hướng đến (2)
Chính sách và Chiến lược hoạt động của nhà trường, (3) Quản lý con người
và (4) Nguồn lực. Dựa trên các điều kiện đó để đề ra các tiến trình hoạt động
và (5) Quản lý tiến trình để đạt được kết quả tốt. Tất cả
các công đoạn nêu
trên là việc lập kế hoạch hoạt động (plan). Các kế hoạch này nhằm đảm bảo
đạt được kết quả tốt.
Kết quả hoạt động được đánh giá dựa vào 3 đối tượng có liên quan đó
là (6) Sự thoả mãn của khách hàng, (7) Sự thoả mãn của con người, và (8)
Tác động đến xã hội. Và sau cùng là đánh giá chung (9) kết quả hoạt động.
Tóm lại mô hình EFQM bao gồm qui hoạch và định ra các mụ
c tiêu,
thực hiện các hành động đề ra và đo lường các kết quả của chúng. Các kết
quả luôn nhận được góp ý và từng bước được thực hiện để xây dựng các qui
hoạch và các hoạt động mới, vấn đề này nó khép kín thành chu trình “Lập kế
hoạch - Thực hiện - Kiểm tra- Hành động”.
Mỗi khối trong mô hình trên được xây dựng thành một “tiêu chuẩn”
(mô hình có tất cả 9 tiêu chuẩn). Khi đánh giá mỗi tiêu chí chúng ta đánh giá
mức độ phát triển của nó qua 5 giai đoạn. Các giai đoạn phát triển theo
Một trường được chia làm các tổ chuyên ngành. Quyền tự chủ của thầy
giáo đã hạn chế, vì họ phải hoà hợp công việc của họ với các đồng nghiệp
trong cơ quan. Điều này cũng muốn nói là họ phải tham khảo ý kiến lẫn
nhau về việc họ làm trong khoá học của họ.
Có một chính sách ngắn hạn rõ rệt. Các ranh giới của một chu trình
chính sách bắt đầu xuất hiện ở mức độ của cơ quan, nhưng chính sách này bị
giới hạn ở một vài khía cạnh của cơ quan. Các tổ chuyên ngành chia sẻ tầm
nhìn chung về chuyên môn và cách giáo dục. Thí dụ, giữa các tổ chuyên
ngành, mục đích thì lồng vào trong các khoá học có chủ đề. Thời gian cho
khoá học
được hình thành cho mỗi chuyên ngành hoặc chủ đề. Hoạt động
của sinh viên thì đảm bảo trong chủ đề đó đã được ấn định trước.
Bên cạnh các chủ đề và các đề án, chương trình giảng dạy cũng chứa
nhiều module cho từng chuyên đề. Các thầy giáo không chỉ chọn module
cho hiểu biết của họ về một chuyên đề nào đó, mà còn cho kỹ năng mô
phạm của họ và kinh nghiệm.
Giai đoạn 3: Hướng theo hệ thống Tiêu biểu cho giai đoạn 3 là bên cạnh môn học và tiến trình giáo dục,
các tiến trình hỗ trợ cần chú ý với các yêu cầu của chúng. Tiến trình học của
sinh viên trở nên là vấn đề trung tâm của cơ quan và ngành đào tạo mà nó đã
thực hiện. Vấn đề học và chất lượng trong phạm vi nhỏ là những khái niệm
chủ chốt của giai đoạn này. Các hoạt động của thầy giáo được xuất phát từ
các hoạt động của sinh viên. Mỗi học sinh cần hỗ trợ trong học tập. Tạo điều
kiện trong tiến trình học tập là toàn bộ những gì mà việc dạy học cần. Thầy
cung cấp
Khách hàng
mình là một môi giới giáo dục; khi sinh viên ra trường, trường đóng vai trò
là nhà cung cấp cho thị trường lao động. Cơ quan có một vị trí chính đáng
trong ‘việc thường xuyên giáo dục’.
Giai đoạn 5: Quản lý chất lượng toàn diện Tiêu biểu cho giai đoạn này là cơ quan cũng quan tâm đến người thụ
hưởng hơn là các khách hàng trực tiếp. Cơ quan không chỉ quyết tâm thực
hiện các mục tiêu được các lĩnh vực chuyên môn ủng hộ, mà phải khởi
xướng phát triển. Vai trò của cơ quan trong xã hội cần được thấy rõ. Hơn
nữa, cơ quan phải thể hiện được cụ thể việc phát triển liên tục. Việc phát
triển liên tụ
c cần được đưa vào trong các cấp quản lý của cơ quan và được
cán bộ trong đơn vị hưởng ứng và trở thành nhu cầu thứ hai của đơn vị. Đơn
vị trở thành một mô hình cạnh tranh.
Nam còn thiếu tiêu chuẩn số 6 (thoả mãn khách hàng), tiêu chuẩn số 8 (tác
động xã hội), và tiêu chuẩn số 9 (Kết quả hoạt động). Điều này cũng thể hiện
một thực trạng của giáo dục Việt Nam là tính xã hội hoá chưa cao, các hoạt
động ngoài xã hội còn rời rạc, chưa liên kết lại với nhau thanh hệ thống.
5. Kinh nghiệm và đề xuấ
t
Kinh nghiệm cho thấy:
- Đảm bảo chất lượng là cộng việc phải làm lâu dài, phải được tích luỹ
từ nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác.
- Mặc dù có những nguyên lý chung, nhưng tuỳ theo đặc điểm của từng
trường mà xây dựng qui trình phù hợp cho riêng mình.
- Đây là công việc mất rất nhiều thời gian và cần được sự tham gia của
tất cả các bộ phận trong trường. Do đó nó chỉ có thể thành công khi
lãnh đạo nhà trường xem đây là công cụ để quản lý các công việc của
trường.