1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới và ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu, thu nhận và
ứng dụng các chất hoạt tính sinh học từ thực vật đã và đang được
quan tâm, phát triển. Trong các loại thực vật được nghiên cứu ứng
dụng, cây nghệ vàng, tên khoa học là Curcuma longa L., thuộc họ
gừng (Zingiberaceae), là một họ thực vật phân bố rộng khắp các
vùng nhiệt đới. Hoạt tính sinh học của tinh dầu nghệ vàng được biết
đến như kháng vi sinh vật, diệt côn trùng, kích thích miễn dịch…
Do đó, chúng tôi đã tiến hành với đề tài: “Nghiên cứu tạo một
số chế phẩm chức năng có chứa tinh dầu nghệ vàng” là hướng đi
nhằm sử dụng các chất tự nhiên có hoạt tính sinh học, để tạo ra các
chế phẩm có tiềm năng sử dụng trong thực tế, không gây hại cho sức
khoẻ con người, thay thế cho hóa chất tổng hợp hiện đang được
dùng.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Sử dụng tinh dầu nghệ kết hợp với một số phụ gia nhằm mục
tiêu:
- Tạo chế phẩm chứa tinh dầu nghệ vàng có tiềm năng sử dụng
trong bảo quản quả tươi sau thu hoạch, thân thiện với môi trường,
không độc hại cho người sử dụng
- Tạo chế phẩm chăm sóc da có khả năng phòng chống các bệnh
nấm ngoài da và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
3. Nội dung nghiên cứu:
Khảo sát phương pháp thu nhận tinh dầu nghệ vàng
Xác định chỉ số hóa lý và phân tích các cấu tử trong tinh dầu
4.2 Ý nghĩa thực tế
Chế phẩm có chứa tinh dầu nghệ vàng dùng trong bảo quản sau
thu hoạch có tiềm năng áp dụng trong bảo quản quả có giá trị xuất
khẩu, đáp ứng yêu cầu cao của các nhà nhập khẩu. Chế phẩm chăm
sóc da là tiền đề để phát triển các loại thuốc chống nấm da tự nhiên,
góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng
5. Tính mới của đề tài
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học và đã xác định được
các hợp chất có trong tinh dầu nghệ vàng Hưng Yên chủ yếu thuộc
nhóm sesquitecpen, đồng thời xác định hoạt tính đối kháng một số
loại vi sinh vật gây hỏng quả và 2 chủng nấm da, là cơ sở khoa học
cho việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới làm phong phú
thêm tính ứng dụng của tinh dầu nghệ trong lĩnh vực công nghệ sau
thu hoạch và y dược.
Xây dựng quy trình bảo quản Cam bằng chế phẩm sinh học có
chứa tinh dầu nghệ ở nhiệt độ thường an toàn, hiệu quả, góp phần đa
dạng hóa các biện pháp bảo quản sau thu hoạch ở Việt Nam an toàn,
thân thiện môi trường.
Bước đầu nghiên cứu đưa ra công thức chế phẩm chăm sóc da có
chứa tinh dầu nghệ vàng thay thế các chất bảo quản tổng hợp trong
mỹ phẩm và chất kháng nấm trong phòng và điều trị bệnh nấm da,
bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
3
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về cây nghệ vàng
khai thác hoạt tính sinh học của Curcuma longa L.
Qua các nghiên cứu trên thế giới có thể thấy nghệ đã được
dùng để tạo một số chế phẩm có tác dụng tốt, an toàn trong thực
phẩm và dược học. Ở Việt Nam, nghệ đã được nghiên cứu nhiều về
4
mặt thực vật và thành phần hóa học, nhưng việc khai thác các đặc
tính quí báu của tinh dầu nghệ lại chưa được quan tâm. Vì vậy,
hướng nghiên cứu sử dụng hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu
nghệ để tạo chế phẩm sinh học có tiềm năng ứng dụng trong bảo
quản quả sau thu hoạch hoặc phòng chống các bệnh về da do nấm
là một hướng mới và hoàn toàn có tính khả thi.
1.5 Nghiên cứu chế phẩm trong bảo quản sau thu hoạch
Bảo quản sau thu hoạch là một vấn đề cần được quan tâm và đặc
biệt ở các vùng nhiệt đới. Ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao các chi
Aspergillus, Fusarium và Colletotrichum phát triển dẫn đến tổn thất
sau thu hoạch đáng kể. Vì vậy rất cần nghiên cứu và phát triển các
chế phẩm có thể ổn định chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản
nông sản. Dịch chiết thực vật và tinh dầu có đặc tính như chất bảo
quản thực phẩm có thể là các chất thay thế tiềm năng cho các loại
thuốc diệt nấm hiện đang được sử dụng để kiểm soát thiệt hại do nấm
sau thu hoạch.
1.5.1 Cam và các phƣơng pháp bảo quản cam
Cam: có tên khoa học là Citrus sinensis Osbeck thuộc họ
Rutaceae, giống Citrus và loài sinenis. Ở Việt Nam theo thống kê
bước đầu có trên 80 giống cam. Cam sành (Citrus reticulata) được
trồng ở rất nhiều nơi, đặc biệt ở miền bắc là các vùng cam sành Hàm
Nấm da có khoảng 300 loài khác nhau được xếp vào các
chi Microsporum, Trichophyton và Epidermophyton. Ở Việt Nam,
những loài nấm da hay gặp là Trichophyton rubrum, Trichophyton
mentagrophytes, Trichophyton violaceum; Microsporum
canis, Microsporum gypseum; Epidermophyton floccosum,
Candida Những hạn chế gặp phải trong điều trị (như sức đề kháng,
tác dụng phụ và độc tính cao), đơn thuốc tăng cao và lạm dụng thuốc
chống nấm tổng hợp… tất cả đã thúc đẩy việc tìm kiếm các loại
thuốc tự nhiên thay thế.
1.6.2 Thành phần cơ bản trong chế phẩm chăm sóc da
Thành phần của chế phẩm chăm sóc da là hệ nhũ tương dạng
kem gồm hai pha dầu và pha nước có tác dụng giữ ẩm, chăm sóc da,
chống nấm, chống khuẩn, chống oxy hóa, phục hồi và cải tạo làn
da tổn thương. Chúng giữ vai trò tạo màng mỏng trên da, tác dụng
làm mềm, ngăn ngừa sự khô da và duy trì lượng nước cho da, loại
thải tế bào chết trên da.
CHƢƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên liệu
- Các chủng vi khuẩn, nấm mốc, và nấm men gây hỏng quả được
sử dụng từ bộ sưu tập giống của Phòng Công nghệ sinh học – Viện
Hóa sinh biển – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Hai chủng nấm da Candida albicans, Trychophytol
mentargrohytes được phân lập tại khoa xét nghiệm Viện Da Liễu
Trung Ương.
- Nghệ tươi (thân, r Hưng Yên
- Cam sành ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang dùng để thí
nghiệm còn tươi, không có thuốc bảo quản thực vật.
Đánh giá khả năng đối kháng vi sinh vật của tinh dầu nghệ bằng
phương pháp đếm khuẩn lạc
Đánh giá khả năng đối kháng vi sinh vật của các loại tinh dầu
nghệ bằng đĩa giấy khuyếch tán
2.2.4 Đánh giá khả năng đối kháng vi sinh vật của tinh dầu nghệ
vàng trên Cam
- Quá trình lây nhiễm: Nhúng quả vào dung dịch là sinh khối nấm
men thuộc chi Rhodoturola và bảo tử nấm mốc thuộc chi Valsa,
Fusarium oxysporum với mật độ vi sinh vật đạt 10
5
CFU/ml
- Quá trình xử lý: Nhúng quả vào tinh dầu với nồng độ 0,5% và 1%.
Sau đó để khô bảo quản quả trong hộp cacton sạch ở điều kiện nhiệt
độ thường (25 ± 2ºC). Theo dõi, quan sát và mô tả hiện trạng quả
theo thời gian.
7
2.2.5 Xây dựng qui trình bảo quản cam ở quy mô phòng thí
nghiệm
- Bố trí thí nghiệm :
Cam được chia thành 6 lô thí nghiệm. Mỗi công thức gồm 40 quả,
trong đó có 20 quả được khoanh tròn và đánh số thứ tự từ 1 đến 20.
ĐC: Đối chứng không xử lý chế phẩm ở nhiệt độ thường
CT1: Mẫu xử lý bằng chế phẩm BQC ở nhiệt độ thường
CT2: Mẫu xử lý bằng tinh dầu 0,5% ở nhiệt độ thường
CT3: Mẫu xử lý bằng chế phẩm BQC + tinh dầu 0,5% ở nhiệt độ
thường
Trong đề tài, chúng tôi tách chiết tinh dầu nghệ vàng từ các củ
ngón thu hoạch sau 9 tháng ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, có
độ ẩm trung bình 83% xác định bằng phương pháp chưng cất với
8
toluen. Tiến hành làm nhỏ nguyên liệu kích thước khoảng 4 mm để
tăng khả năng tiếp xúc với dung môi, tạo điều kiện cho quá trình
trích ly và chưng cất lôi cuốn hơi nước.
Bảng 3. 1: Hàm lượng tách chiết
phương pháp khác nhau
Phƣơng pháp
N
(h)
Hàm lƣợng tinh dầu
(%)
n-hexane
100
12
3,2 0,01
Chloroform
100
12
2,8 0,02
LCHN
100
Mùi
Thơm hắc
Thơm hắc
Thơm hắc
4
Vị
Hơi cay
Hơi đắng
Hơi đắng
5
Tỷ trọng d
20
20
0,827
0,884
0,870
6
Góc quay cực
28
D
27
0
,78’
30
0
,6’
33
0
Tinh dầu nghệ vàng tách chiết bằng dung môi và chưng cất LCHN
được phân tích thành phần trên MS (bảng 3.3)
Bảng 3. 3: Thành phần của tinh dầu nghệ vàng khi
tách chiết bằng các phương pháp khác nhau
STT
Thành phần
Tỷ lệ (%)
LCHN
Chloroform
n-
hexane
1
p-cymene
0,10
−
−
2
Myrcene
0,73
−
−
3
Limonene
0,19
−
−
4
1,8- cineole
0,45
−
0,25
−
11
Ar-curcumene
3,02
−
5,11
12
α-zingiberene
3,44
−
−
13
β-bisabolene
0,72
0,41
0,65
14
γ-bisabolene
0,17 15
β-
sesquiphellandrene
4,42
2,01
3,14
16
∆-3-Carene
β-turmerone
−
63,94
55,99
22
α-turmerone
14,14
-
-
23
d-nerolidal
0,63
−
−
Monoterpene
4,36
-
-
Sesquiterpene
60,31
67,73
66,93
aldehyde
0,63
-
-
Phân
đoạn 3
1
p-Cymene
-
-
0,11
2
α-terpinolene
1,14
-
0,80
3
Limonene
-
-
0,45
4
1,8 cineole
0,10
-
3,25
5
Linalool
-
-
0,29
6
β-caryophyllene
8,42
0,56
-
12
xanthorrhizol
-
-
0,30
13
β-bisabolene
1,56
0,19
-
14
γ-Bisabolene
0,22
-
-
15
Oxibisabolene
0,60
1,39
1,66
16
β-sequiphelandrene
0,35
0,25
-
17
γ-Sequiphelandrene
4,52
-
28,81
24
Benzyl alcohol
0,04 25
Curcuphenol
-
-
0,64
26
Atlantone
0,66
0,59
0,61
27
α-Atlantone
-
-
2,41
Monoterpene
1,24
-
4,1
Sesquiterpene
84,97
12
giờ nuôi cấy với vi khuẩn và 36 giờ nuôi cấy với nấm mốc và nấm
men (bảng 3.5)
Bảng 3. 5: Khả năng kháng vi sinh vật của tinh dầu tách chiết
bằng các phương pháp khác nhau
Chủng vi sinh vật
Đƣờng kính đối kháng, (D-d) cm
LCHN
Chloroform
n- hexane
Micrococcus luteus
1,3 0,02
0,8 0,04
0,5 0,07
Bacillus cereus
1,2 0,23
0,6 0,05
0,7 0,08
Listonella damsela
1,1 0,03
0,3 0,01
0,4 0,06
Valsa sp.
1,1 0,05
0,5 0,03
0,7 0,09
Aspergillus awamori
1,0 0,01
0,4 0,04
Torulopsis sp.
1,2 0,06
0,5 0,07
0,6 0,09
Saccharomyces
cerevisiae
1,3 0,04
0,5 0,03
0,9 0,01
Tinh dầu nghệ nhận được bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước
có khả năng đối kháng vi sinh vật cao. Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng
tinh dầu thu được bằng phương pháp LCHN có hàm lượng ar-
turmeron 30,33% để nghiên cứu hoạt tính sinh học và tạo ra chế
phẩm có tiềm năng sử dụng trong thực tế của tinh dầu nghệ vàng.
3.2.2 Ảnh hƣởng của nồng độ tinh dầu nghệ vàng LCHN lên một
số chủng vi khuẩn
Các chủng vi khuẩn được hoạt hóa trên môi trường MPA. Đánh
giá khả năng kháng khuẩn của tinh dầu nghệ vàng thu bằng phương
pháp lôi cuốn hơi nước bằng phương pháp đếm khuẩn lạc (bảng 3.6).
13
Bảng 3 6: Khả năng kháng khuẩn của tinh dầu nghệ vàng
tách chiết bằng phương pháp LCHN
Bacillus cereus
0
4,17 x 10
30,25
2 x 10
1
99,5%
0,5
0
100 %
Pseudomonas putida
0
1,42 x 10
32,5
9,3 x 10
2
34,5 %
3
8,8 x 10
2
38,03 %
0,5
3,7x10
3
71,0
1
0
100
Rhodoturola sp.
0
1,4 x 10
3
0
2
1,2 x 10
2
91,4
3
0
100
14
Candida sp.
0
8,6 x 10
2
1,2 x 10
2
92,0
6
0
100
Hansenulla sp.
0
2,2 x 10
3
0
4
8,5 x 10
2
61,4
5
4,5 x 10
2
79,5
6
0
100
Kết quả trên bảng 3.7 cho thấy: tinh dầu nghệ nồng độ 1% S.
cerevisiae bị ức chế sinh trưởng hoàn toàn, nhưng phải đến nồng độ
tinh dầu 6% thì mới ức chế hoàn toàn được Torulopsis sp. và
Hansenulla sp. Hoạt tính kháng nấm men phụ thuộc vào nồng độ,
(%)
Phân đoạn tinh dầu và hỗn hợp các phân đoạn
1
2
3
A
B
C
Vi khuẩn
L.damsela
1
0,40
0,03
0,45
0,04
0,25
0,08
0,40
0,05
0,40
0,02
0,35
0,03
B. cereus
2
0,25
0,05
0,15
0,02
0,15
0,03
0,40
0,02
0,35
0,03
0,4
0,03
Nấm sợi
C.
cladosporioides
2
0,30
0,05
0,20
0,03
0,18
0,04
0,20
0,07
0,20
0,03
0,25
0,04
Valsa sp.
3
0,15
0,04
0,30
0,04
0,20
0,03
0,2
0,05
0,25
0,02
16
C. tenuisimum
2
0,30
0,05
0,30
0,03
0,25
0,04
0,25
0,04
0,30
0,04
0,25
0,03
A: tỷ lệ phân đoạn 1: phân đoạn 2: phân đoạn 3 là 1:1:1
B: tỷ lệ phân đoạn 1: phân đoạn 2: phân đoạn 3 là 1:2:1;
C: tỷ lệ phân đoạn 1: phân đoạn 2: phân đoạn 3 là 2:1:1
Hoạt tính đối kháng vi sinh vật của các phân đoạn tinh dầu nghệ
riêng lẻ hoặc kết hợp thấp hơn so với hoạt tính này của tinh dầu nghệ
thô không tách phân đoạn. Vì vậy, trong các nghiên cứu tiếp theo
4
Glycerol
0,85
5
Gelatin
4
6
Tween 80
0,1
3.4.2 Xác định nồng độ tinh dầu nghệ vàng trong chế phẩm
Nhúng cam vào chế phẩm BQC và tinh dầu nghệ vàng, bảo
quản ở nhiệt độ thường và 8 ± 2
o
C, theo dõi trạng thái và kiểm tra
17
chất lượng cam sau thời gian bảo quản. Đối chứng là cam không
được xử lý
Bảng 3. 11: Tỉ lệ cam bị hỏng trong quá trình bảo quản (%)
Sau 30 ngày, ở nhiệt độ thường, khi bổ sung 0,5% tinh dầu nghệ
vào chế phẩm bảo quản, lượng cam bị hỏng dưới 10% nhưng khi
tăng nồng độ tinh dầu cũng ảnh hưởng đến màu sắc quả và hiệu quả
kinh tế.
3.4.3 Xây dựng quy trình sử dụng chế phẩm chứa tinh dầu nghệ
vàng trong bảo quản cam Hà giang
3.4.3.1 Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm BQC đến tỉ lệ tổn thất của
Tốt
6
Đối chứng
100
Hỏng
Kết quả bảng 3.12 cho thấy ở nồng độ 94 - 100 % cho tỉ lệ tổn
thất thấp (dưới 10 %) và tính chất cảm quan tốt.
3.4.3.2. Ảnh hưởng của thời gian tiếp xúc với chế phẩm BQC đến tỉ
lệ tổn thất khối lượng sau 20 ngày bảo quản
18
Sử dụng chế phẩm chứa tinh dầu nghệ vàng BQC ở nồng độ
100%, thời gian tiếp xúc với bề mặt quả 20, 30, 40, 50 và 60 giây và
tiến hành nhúng 1 lần (bảng 3.13)
Bảng 3.13: Tỉ lệ tổn thất khối lượng theo thời gian tiếp xúc BQC
TT
Thời gian tiếp xúc
(giây)
Tỉ lệ tổn thất
(%)
Chất lượng cảm
quan
1
20
9,61
Khá
2
TT
Số lần nhúng
Tỉ lệ tổn thất (%)
Chất lượng cảm quan
1
1
7,82
Tốt
2
2
7,47
Tốt
3
3
7,10
Khá
6
Đối chứng
100
Hỏng
Kết quả bảng 3.14 cho thấy chất lượng cảm quan tốt khi
nhúng quả vào chế phẩm 1, 2 lần và tỉ lệ tổn thất có giảm khi nhúng
2, 3 lần nhưng chất lượng cảm quan giảm ở lần 3 và tốn thời gian sử
dụng chế phẩm, tiêu hao chế phẩm lớn
19
3.4.3.4.Tối ưu hóa quy trình sử dụng chế phẩm chứa tinh dầu nghệ
8,58
2
1
-1
0
7,83
3
-1
1
0
7,65
4
1
1
0
7,77
5
-1
0
-1
8,11
6
1
0
-1
7,95
7
-1
0
1
7,18
14
0
0
0
7, 00
15
0
0
0
7,26
16
0
0
0
7,22
17
0
0
0
7,24
Chuẩn F của mô hình được xác định là 20,59 (
T
Y
). Các giá trị
p<0,05 cho biết các hệ số hồi quy có nghĩa, như vậy mô hình có các
hệ số hồi quy X1, X2, X1X2, X2X3, X
1
2
. Hệ số R
thời gian tiếp xúc (X2) nhưng ở mức độ thấp hơn. Còn số lần nhúng
chế phẩm (X3) thì ít ảnh hưởng. (Hình 3.1.a)
Hình 31a: Ảnh hưởng của các yếu tố đến tỉ lệ tổn thất khối lượng Hình 3.1b: Ảnh hưởng của nồng
độ chế phẩm và số lần nhúng tới
tỉ lệ tổn thất
Hình 3.1c: Ảnh hưởng của nồng
độ chế phẩm và thời gian tiếp
xúc tới tỉ lệ tổn thất
Tối ưu hóa bằng phần mềm Design-Expert 7.1 như sau: Nồng độ
chế phẩm 96%, thời gian tiếp xúc 60 giây, số lần nhúng 1; khi đó tỉ
lệ tổn thất khối lượng đạt 6,98%. Với điều kiện tối ưu này thì mục
tiêu về hiệu suất đạt 100% mong muốn (hình 3.2).
Hình 3.2: Mức độ đáp ứng sự mong đợi giảm tỉ lệ tổn thất khối lượng
21
Từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm tối ưu ở trên, chúng tôi
tiến hành xác định độ bám dính của chế phẩm trên bề mặt quả sau
nhúng 20 phút bằng máy NiKKo- Eclipse E600 theo TCVN
2097:1993. Kết quả cho thấy màng có độ bám dính cao nên có thể
phủ lên bề mặt quả dễ dàng và bằng phương pháp nhúng độ dày
màng của chế phẩm BQCTD là 4,53μm.
nghiệm (LD
50
) vì không tìm được liều gây chết chuột.
Chế phẩm chứa tinh dầu nghệ dùng bảo quản quả tươi sau thu
hoạch an toàn, không gây độc cấp tính cho chuột thí nghiệm. Các
thành phần chế phẩm bảo quản sử dụng nguyên liệu sẵn có, rẻ và an
toàn đối với con người cũng như môi trường. Đặc biệt, có thể thay
thế tinh dầu nghệ cho các chất diệt nấm tổng hợp là những biện
pháp đầu tiên thường được dùng để kiểm soát bệnh của quả sau thu
hoạch
3.5 Nghiên cứu tạo chế phẩm chăm sóc da có chứa tinh dầu nghệ
3.5.1 Đánh giá khả năng ức chế sinh trưởng nấm da của tinh dầu
nghệ vàng
Đánh giá hoạt tính đối kháng nấm gây bệnh trên da của tinh dầu nghệ
và gentamycin 80μg, streptomycin 10μg vô trùng làm đối chứng
dương bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch (bảng 3.16)
Bảng 3.16: Hoạt tính đối kháng của tinh dầu với nấm da
Kết quả trên cho thấy, tinh dầu nghệ vàng có hoạt tính đối kháng
nấm gây bệnh trên da rất tốt.
Bằng phương pháp đếm khuẩn lạc, xác định MIC (nồng độ ức
chế tối thiểu) của tinh dầu nghệ thu được bằng phương pháp LCHN
23
là 0,5% cho Candida albicans và 0,7% cho Trychophytol
mentargrohytes .
3.5.2 Nghiên cứu tạo chế phẩm chăm sóc da có chứa tinh dầu
8
Vitamin E
0,4
9
NaOH
0,02
10
Nước tinh khiết
84
Với kết quả kiểm tra chất lượng của chế phẩm chăm sóc da có chứa
tinh dầu nghệ vàng cho thấy việc sử dụng tinh dầu nghệ vàng trong
chế phẩm không làm thay đổi thành phần, đặc tính của chế phẩm mà
còn kháng nấm da, có tác dụng chống lão hóa, giữ ẩm, phục hồi và
cải tạo làn da. Do đó, việc nghiên cứu và sử dụng tinh dầu nghệ vàng
thay thế chất bảo quản và chất kháng sinh trong chế phẩm chăm sóc
da ứng dụng trong thực tiễn là rất khả thi
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Đã thu nhận tinh dầu nghệ vàng ở Hưng Yên bằng phương pháp
lôi cuốn hơi nước, xác định tính chất hóa lý và thấy rằng tinh dầu
nghệ vàng Hưng Yên chứa chủ yếu nhóm sesquiterpen (ar-turmerone
30%).
24
- Bằng phương pháp chưng cất phân đoạn dưới áp suất thấp tách
quản sau thu hoạch ở Việt Nam
3. Chế phẩm chăm sóc da có chứa tinh dầu nghệ cần tiếp tục tiến
hành thử tiền lâm sàng và lâm sàng để có thể thay thế hoàn toàn sản
phẩm điều trị nấm da bằng chất kháng sinh tổng hợp hiện đang sử
dụng25
25