một số đồ dùng sinh hoạt, trang phục và nhạc cụ truyền thống của dân tộc Hmông - Pdf 14

1



1.1. Nghiên cứu tư duy, văn hóa, đời sống của các dân tộc ít người ở miền
núi là việc làm có ý nghĩa chiến lược nhằm phát triển kinh tế nâng cao đời sống
văn hóa Việt Nam. Hơn nữa, bảo tồn văn hóa miền núi chính là thực hiện nhiệm
vụ quan trọng trong công tác văn hóa đặt ra tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: toàn diện,
thống nhất trong đa dạng.
1.2. Bản sắc văn hóa Việt Nam không chỉ được cấu thành bởi riêng văn
hóa tộc người Kinh mà còn có sự góp mặt của nhiều dân tộc khác như Tày, Thái,
Hmông, Nùng, Dao, Tiến hành khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy, một số
phương diện của văn hóa dân tộc Hmông đã được các học giả quan tâm nhưng
vẫn có những phạm vi còn bỏ ngỏ, cần được chú ý hơn.
1.3. Với địa bàn cư trú rộng, lại có lịch sử hình thành lâu đời, cộng thêm
bề dày văn hóa, dân tộc Hmông đã đóng góp cho nước nhà những thành tựu
không nhỏ. Như các dân tộc khác, tộc người Hmông có quá trình hình thành,
vận động và phát triển vừa độc lập tương đối, vừa là sản phẩm tổng hòa các yếu
tố nội ngoại sinh. Tìm hiểu về dân tộc Hmông, chúng tôi nhận thấy bộ phận văn
hóa này có những điểm giống như các dân tộc khác nhưng đồng thời cũng có
những giá trị riêng. Những giá trị sáng tạo đó thể hiện mối quan hệ của tộc
người với thiên nhiên thông qua các tri thức sản xuất nông nghiệp; với xã hội
thông qua phong tục tập quán, lễ hội, với nhân sinh quan thông qua các nghi
thức vòng đời; với vũ trụ và thế giới tự nhiên thông qua các loại hình tôn giáo
tín ngưỡng; với lí tưởng thẩm mĩ thông qua các loại hình nghệ thuật
1.4. Trong vốn văn hóa dân tộc Hmông, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày và
nhạc cụ là vấn đề còn chưa được quan tâm đúng mức. Đồ dùng sinh hoạt và
nhạc cụ dân tộc Hmông không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn
mang ý nghĩa tinh thần. Sự phát triển của đồ dùng sinh hoạt và nhạc cụ Hmông
là sự phản ánh một phần về tinh thần phát triển văn hóa tộc người. Đó là quá

3
2005; Nguyễn Mạnh Tiến: “Phân tích tâm lí Hmông tộc từ dân ca”, Tạp chí
, số 3 năm 2012;
Đồ dùng sinh hoạt và nhạc cụ thuộc văn hóa dân tộc Hmông là vấn đề
được quan tâm khá sớm. Năm 1967, trong công trình sưu tầm về dân ca Hmông,
Doãn Thanh viết: “Hầu hết nam nữ thanh niên Mèo đều biết hát và biết sử dụng
những nhạc cụ như sáo, đàn môi, khèn” [31, tr.6]. “Nguồn sống chính của đồng
bào là làm nương rẫy. Có một vài nơi làm ruộng bậc thang và làm một số nghề
thủ công khác như đúc lưỡi cày, rèn dao, cuốc và dệt vải, đan lát” [31, tr.10].
Năm 1996, nhà nghiên cứu Trần Hữu Sơn trong mục 
dân gian Mông đã chú ý giới thiệu tới nó tuy chưa cụ thể hóa, ông viết: “Nghệ
thuật tạo hình dân gian Hmông thể hiện ở trang phục, đồ dùng sinh hoạt, tranh
cắt giấy” [27, tr.139]. Trần Hữu Sơn cũng đặc biệt chú ý tới khèn - nhạc cụ
Hmông, “Khèn là loại nhạc cụ đặc trưng của dân tộc Hmông. Trong lễ tang,
ngày hội Gầu Tào, người Hmông luôn sử dụng cây khèn (múa khèn, thổi khèn).
Những người thổi khèn giỏi là những người có uy tín trong bản” [27, tr.176].
Nhưng ngày nay, đây là một trong những yếu tố văn hóa cổ truyền bị mai
một: “Trong xã hội truyền thống, cuộc đời người Hmông luôn gắn liền với âm
nhạc. Tiêu chuẩn một chàng trai Hmông ngoài việc giỏi cày nương phải biết thổi
sáo, múa khèn. Khèn lá, đàn môi luôn là người bạn của các cô gái. Nhưng hiện
nay số thanh niên biết sử dụng nhạc cụ truyền thống dân tộc chiếm tỉ lệ thấp hơn
số thanh niên không biết sử dụng nhạc cụ” [27, tr.175].
Xác minh điều này, nhà nghiên cứu Trần Hữu Sơn (dựa theo nguồn báo
cáo điều tra nhu cầu văn hóa của Sở Văn hóa - Thông tin Hoàng Liên Sơn, nay
là tỉnh Lào Cai) cung cấp cho chúng tôi biểu số 25 [27, tr.176] như sau:



%
ng

Việt Nam lần thứ II, ngày 19 đến 20 tháng 12 năm 1997, đồng chí Đỗ Mười –
Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại buổi khai
mạc Đại hội có trích dẫn văn kiện đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
như sau: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện bình đẳng – đoàn
kết tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước”. Đảng ta cũng khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”.
Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng,
đạo đức tri thức tâm hồn. Đồng chí nhấn mạnh: “Khai thác và phát triển mọi giá
trị văn hóa, nghệ thuật và sắc thái của các dân tộc trên đất nước, tạo ra sự thống
nhất trong đa dạng và phong phú của nền văn hóa Việt Nam” [26, tr.9].
Hưởng ứng văn kiện này, ngay sau đó, có nhiều công trình nói về văn
hóa các dân tộc thiểu số ra đời. Năm 1998, Quách Thị Oanh, Tạ Đức viết bài
“Sự đổi mới nghề dệt may của người Hmông” trên , số 1-2
khẳng định: “Ở đâu có cây lanh ở đó có người Hmông, hoặc ở đâu có người
Hmông ở đó có nghề dệt lanh, may vải lanh” hay gọi sợi lanh là sợi “Xú
Mống” [17, tr.52 – 56].
Năm 2005, Phạm Côn Sơn khi giới thiệu vẻ đẹp đất nước Việt Nam có
dành nhiều trang giới thiệu về văn hóa dân tộc Hmông. Ông đặc biệt nhấn mạnh:
“Đàn ông Hmông có một tài nghệ đặc biệt: thổi và biểu diễn bằng động tác tay,
chân, thân người với loại khèn (kèn) gọi là . Thổi kềnh là một nhu cầu quan
trọng như cơm ăn, nước uống. Nghe tiếng kềnh, người ta biết được họ đang
khóc hay đang cười. Đàn ông Hmông còn có loại sáo đặc biệt, gọi là Tr.
Sáo người Việt thường bằng ống tre hay ống trúc, có 6 lỗ bấm và thổi ngang.

5
Trà pùn tử của người Hmông có hình thức khác hơn gồm 1 hoặc 2 ống, có hay
không có lưỡi gà, không lỗ bấm, có thể thổi dọc hay thổi ngang. Âm thanh rất lạ,
gồm những âm thô và rè, cạnh những âm trong trẻo, êm ái như tiếng người thủ

đó, tiêu biểu là pí pặp, khèn bè, sáo Hmông, ” [1, tr.225].
Như vậy, khi đề cập đến văn hóa Hmông, tất cả các tác giả đều khẳng
định rằng, các vật dụng như , , khèn bè, sáo, đều là những hình
ảnh quen thuộc gắn liền với văn hóa Hmông nhưng chưa có một công trình nào
đi sâu nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy, xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu về văn hóa dân tộc Hmông ở phương diện đồ dùng sinh hoạt và
nhạc cụ.
3.  và 
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài giới thiệu bằng hình ảnh một cách có hệ thống một số đồ dùng và
nhạc cụ mang bản sắc văn hóa của dân tộc Hmông.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung giới thiệu hai đối tượng:
Một là, đồ dùng sinh hoạt phổ biến của dân tộc Hmông.
Hai là, nhạc cụ dân tộc Hmông.
Trong quá trình thực hiện đề tài, nếu thấy cần thiết, nhóm nghiên cứu có
thể tham khảo, so sánh với một số đồ dùng sinh hoạt và nhạc cụ của các dân tộc
ít người khác như Thái, Nùng, Sự lựa chọn này xuất phát từ hiện trạng thực tế
các công trình nghiên cứu về vấn đề này còn khuyết thiếu.

4.1. Nhiệm vụ của đề tài
- Giới thiệu tổng thể về đồ dùng sinh hoạt và nhạc cụ dân tộc Hmông.
- Làm rõ những vấn đề thuộc bản sắc văn hóa dân tộc Hmông.
4.2. Giới hạn của đề tài

7
Đề tài chỉ nghiên cứu, giới thiệu đồ dùng sinh hoạt phổ biến và nhạc cụ
dân tộc Hmông chứ không nghiên cứu, giới thiệu toàn bộ đồ dùng sinh hoạt phổ
biến và nhạc cụ của các dân tộc ít người khác.


Thực hiện đề tài này, chúng tôi đóng góp 4 vấn đề sau:
- Tổng quan về dân tộc Hmông trên các phương diện lịch sử, văn hóa, kinh
tế, văn hóa
- Đánh giá và khảo sát một cách hệ thống để phác thảo diện mạo đồ dùng
sinh hoạt phổ biến của dân tộc Hmông mang bản sắc văn hóa.
- Đánh giá và khảo sát một cách hệ thống để phác thảo diện mạo nhạc cụ dân
tộc Hmông bản sắc văn hóa.
- Cung cấp một số hình ảnh về đồ dùng và nhạc cụ sinh hoạt mang bản
sắc văn hóa dân tộc Hmông.

Ngoài phần ,  , ,
đề tài được chia làm 2 phần.
* Phần  gồm 3 chương:
  Khái quát về đặc điểm lịch sử, kinh tế, văn hóa dân tộc
Hmông
  Giới thiệu một số đồ dùng sinh hoạt và trang phục truyền
thống của dân tộc Hmông
Giới thiệu một số nhạc cụ truyền thống của dân tộc Hmông
* Phần  gồm:
   Giới thiệu một số hình ảnh đồ dùng sinh hoạt của dân tộc
Hmông
   Giới thiệu một số hình ảnh nhạc cụ sinh hoạt của dân tộc
Hmông.

9



KHÁI QUÁT 
 

An Tây, Hồ Nam ngày nay. Theo 
của Nguyễn Tôn Nhan, người Hmông xuất hiện ở khu vực trung và hạ lưu sông
Trường Giang, ngày nay là vùng Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây với vương
quốc Cửu Lê do vua Suy Vưu đứng đầu bao gồm 9 bộ lạc, mỗi bộ lạc có 9 thị
tộc, có khả năng dùng đồng chế tạo vũ khí. Bị liên minh bộ lạc Hoàng đế - Viêm
đế đánh bại sau mấy chục trận chiến ở cánh đồng Trác Lộc, một bộ phận Cửu Lê
không chịu khuất phục, đã rút lui về lưu vực Giang Hán Phương Nam và lập nên
bộ lạc liên minh Tam Miêu. Ở thời kì của vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, vương quốc
Tam Miêu của người Mông đã được xây dựng khá hùng mạnh. Sau khi Sở
Trang Vương xưng Vương, đã dời đô từ lưu vực Giang Hán Phương Nam về
vùng Hồ Bắc, phần lớn người dân Tam Miêu cùng các tộc người ở miền trung
lưu vực sông Trường Giang thuộc vương quốc Kinh Sở. Nước Kinh Sở thời
Chiến Quốc và Miêu tộc ngày nay là hậu duệ của Cửu Lê, Tam Miêu. Đến thời
nhà Hán, việc mở rộng lãnh thổ và chính sách đàn áp khốc liệt đã đẩy người
Hmông lui dần xuống phía Nam sông Hoàng Hà và rút về lưu vực sông Dương
Tử, rồi vượt sông Dương Tử đi về phía Nam và Tây Nam. Vào khoảng thế kỉ IV
sau Công Nguyên, lợi dụng sự suy yếu của triều đình nhà Hán, người Hmông đã
kiểm soát vùng Hồ Bắc, Hồ Nam và lập ra vương quốc Hmông. Đến thế kỉ IX,
vương quốc Hmông bị nhà Hán đánh bại, người Hmông lại bị truy diệt và phải
di cư xuống vùng Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam, để tránh các
cuộc tàn sát liên tục của triều đại nhà Hán. Từ cuối thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ
XIX, các cuộc khởi nghĩa chống chế độ chia rẽ và áp bức dân tộc vẫn liên tiếp
nổ ra. Từ năm 1840 đến năm 1869, người Hmông ở Quý Châu, Vân Nam,

11
Quảng Tây đã kiên cường nổi dậy, tham gia phong trào Thái Bình Thiên Quốc
chống nhà Thanh, điển hình là cuộc khởi nghĩa Hàm Đông năm 1853 dưới sự
lãnh đạo của Trương Tú Mi bắt đầu từ Đông Nam Quý Châu lan sang các tỉnh
Hồ Nam và Vân Nam, kéo dài suốt 18 năm. Khi đó, riêng vùng Quý Châu có
trên 60 vạn người Hmông, sau khởi nghĩa chỉ còn sót lại vài vạn người. Các

chiến tranh theo các triền núi cao về phía Tây Bắc Việt Nam qua các con sông
Xanh, sông Đỏ, sông Vàng rồi đến Xầm Nưa, Sầm Tớ, đến Noọng Hét với
khoảng 20 hộ gia đình cùng họ Giàng và sau đó đón thêm những nhà thông gia
gồm 80 hộ gia đình là các dòng họ Lầu, Ly, Mùa, Vàng, về ở cùng. Sau cuộc
khởi nghĩa Pa Chay (1918 – 1922), người Hmông bị thực dân Pháp đàn áp nên
một bộ phận di tản sang Nghệ An, Việt Nam. Vùng Noọng Hét là nơi sinh sống
của cộng đồng cư dân Hmông cổ nhất ở Lào, là nơi tập trung nhiều tù trưởng,
tộc trưởng Hmông lớn nhất như BLia Dao Lầu, Nhìa Vư Lầu, Thào Tu Giàng,
Tông Páo Thào, Phụng Ly, Các nhà khoa học và công trình nghiên cứu đều
thấy người Hmông di cư từ phía Bắc vào Việt Nam muộn hơn so với nhiều dân
tộc khác. Các nhóm Hmông trắng (HmôngzĐơưz), Hmông hoa (HmôngzLênhx),
Hmông đen (HmôngĐuz), Hmông xanh (HmôngzNjuôz) và các dòng họ người
Hmông đến Việt Nam khi các vùng thấp đã có người cư trú nên họ phải định cư
định canh trên vùng núi cao. Những người già là trưởng họ và bà cô Hmông ai
cũng nhớ rằng, sau khi rời Quý Châu, tổ tiên của họ đã từng sinh sống rất lâu ở
Pàng Tàu Làng, một địa danh nay là Phủ Khai Hoa của Châu Vân Sơn thuộc
tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Các dòng họ Hmông ở Việt Nam cũng như ở Lào
ngày nay đều nhớ địa danh Tê Tô Lông, Pàng Tàu Làng và bài cúng “chỉ
đường” cho người chết trong lễ thức tang ma. Bài cúng “chỉ đường” do thầy
cúng xướng ca đều cúng đua vong hồn người chết của dòng họ qua các miền đất
mà họ đã sinh sống như Tê Tô Lông, Quý Châu, Pàng Tàu Làng, Đồng Văn,
Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, rồi từ đó vong hồn người chết sẽ lên trời về với
tổ tiên. Cho nên, cao nguyên Đồng Văn thuộc tỉnh Hà Giang luôn được coi là
quê hương của phần lớn người Hmông ở Việt Nam, là nơi lưu giữ được nhiều

13
những yếu tố văn hóa cổ truyền nhất của người Hmông ở Đông Nam Á cũng
như người Hmông đang cư trú ở trên thế giới, là nơi thử thách bản lĩnh sinh tồn
và đặc tính tâm lí của người Hmông.
Đất nước Việt Nam là “mảnh đất lành”, thiên thời, địa lợi, nhân hòa mà

1.2. Dân số và địa bàn cư trú
Cũng như dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Hmông có mặt ở nhiều
nước trên thế giới như tại Trung Quốc có trên 9.000.000 người, tại Lào có
khoảng 250.000 người, tại Thái Lan có khoảng 130.000 người, tại Pháp có
khoảng 30.000 người, tại Mianma có khoảng 15.000 người, tại Ôxtrâylia có
khoảng 1.600 người, tại Canada có khoảng 1.500 người, tại Guyana có khoảng
1.500 người, tại Áchentina có gần 1000 người, tại Nam Phi có gần 500 người

 
Hiện nay, người Hmông ở Việt Nam có 858.518 người, chiếm 1,03% dân
số cả nước và xếp thứ 8 về tỉ trọng số dân trong 54 dân tộc của cộng đồng dân
tộc Việt Nam. Dân tộc Hmông có mặt ở 20 tỉnh (nếu tính dân số từ 100 người
trở lên) cư trú tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, một bộ phận ở
Tây Thanh Hóa, Tây Nghệ An, Tây Nguyên, và tập trung ở 10 tỉnh (nếu tính dân
số từ 10 nghìn trở lên), trên các triền núi cao biên giới có độ cao trên dưới
1.000m, thích ở cạnh núi đá vôi, thích nghi với vùng ôn đới, có vị trí chiến lược
quan trọng về nhiều mặt và có tiềm năng phát triển kinh tế. Đồng bào Hmông cư

15
trú tương đối tập trung theo đồng tộc, dòng họ để nương tựa vào nhau, đồng thời
ngày càng có xu hướng cư trú xen ghép với các dân tộc khác do yêu cầu của

lĩnh kiên cường, bất khuất, tự lực cánh sinh, lao động siêng năng, có kế hoạch,
có kĩ thuật và cần cù, sáng tạo, đồng bào Hmông đã tạo dựng được một cuộc
sống tự lập và bảo đảm được nhu cầu kinh tế tối thiểu để tồn tại. Không chỉ có
vậy, họ còn hi vọng có cuộc sống ổn định, đầy đủ, hạnh phúc và đang cố gắng
với quyết tâm cao nhất để phát triển nền kinh tế định canh định cư. Việc di cư
người Hmông được đoán định gồm nhiều lí do, do nguyên nhân bất khả kháng
để tìm cuộc sống ổn định, phòng chống thiên tai và dịch họa và một phần có
nguyên do từ văn hóa cổ.
Địa hình sinh sống hiểm trở đã chi phối nền kinh tế tự cung tự cấp và biến
mỗi gia đình Hmông trở thành một đơn vị kinh tế độc lập. Trừ dầu hỏa và muối
ăn phải trao đổi, mua bán, mỗi gia đình Hmông đã nổi tiếng từ lâu với nhiều
nghề thủ công như: xe lanh dệt vải, in hoa văn trên váy áo bằng sáp ong, rèn đúc
mang đậm tính nghệ thuật và bản sắc văn hóa độc đáo. Người Hmông có kĩ
thuật rèn dao, búa, cuốc, cào cỏ rất sắc bén và kĩ thuật khoan nòng súng kíp rất
khéo léo, dùng được lâu và được nhiều người ưa thích. Do nhu cầu của đời sống
kinh tế cũng như tín ngưỡng, tôn giáo, chăn nuôi gia súc là một ngành rất phát
triển ở dân tộc này, nhất là kinh nghiệm lựa chọn chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà.
Người Hmông ăn nhiều thịt mỡ lợn và rau cải, nấu rượu ngon từ ngô và thường
dùng rượu để cưới xin, tang ma và thể hiện tình cảm với độ say dịu ngọt, tạo nên
đặc trưng riêng. Sự kết hợp hài hòa giữa hoạt động kinh tế và văn hóa được thể
hiện rất sinh động ở chợ phiên, nhất là Tết độc lập (ngay 2 – 9 hằng năm) được
đồng bào Hmông rất mong đợi và yêu thích.
Ngày nay, nền kinh tế ở dân tộc Hmông cũng như nhiều dân tộc thiểu số
dần dần chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa và xuất hiện những mô
hình tốt. Tình hình kinh tế – xã hội có những tiến bộ quan trọng và thu được
nhiều thành tựu về các lĩnh vực ăn, mặc, ở, học tập, chữa bệnh, giao thông, nước
sinh hoạt, điện thắp sáng, ứng dụng khoa học – công nghệ mới vào sản xuất,
chuyển đổi tập quán sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, xóa đói,

17

18
dân tộc khác, họ luôn giải quyết bằng tín chấp lời hứa danh dự như: bắt tay, lạy
nhau, cụng bát rượu, cắt tiết gà ăn thề, Họ coi những cử chỉ đó là biên bản
thống nhất đã được kí kết và các bên liên quan sẽ thực hiện. Dân tộc Hmông
cũng như một số dân tộc thiểu số khác ở nước ta có một đặc tính văn hóa, tập
quán, tâm lí là rất cả tin nhưng cũng rất dễ hoài nghi: họ đã tin ai thì tin đến
cùng, tin một cách vô tư, họ đã mất lòng tin với ai thì sự hoài nghi thành kiến lại
càng sâu sắc, khó gỡ. Vì thế, người Hmông tin cả những lời nói, cử chỉ xã giao
của người dân tộc khác và sẽ bị coi là lừa dối nếu không làm đúng vậy, sẽ được
tin tuyệt đối và ủng hộ giúp đỡ hoặc mất niềm tin và không thể lấy lại được.
Thực tế, các tù trưởng, tộc trưởng Hmông trong chế độ cũ sẵn sàng nghe theo,
phục tùng, kể cả khi cần thiết phải hi sinh quyền lợi của mình. Người Hmông
luôn có tinh thần độc lập tự chủ và tự lực cánh sinh cao nên khi gặp khó khăn ít
khi kêu ca, ỷ lại, đòi hỏi, trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác mà luôn chủ
động tự mình giải quyết.
Trong dân tộc Hmông, dòng họ và quan hệ dòng họ với vai trò quan trọng
nổi bật của trưởng họ là một đặc điểm văn hóa hiếm thấy ở các dân tộc khác.
Người Hmông có quan hệ dòng họ xa và dòng họ gần, tức cùng họ nhưng khác
ma, nhưng vẫn coi là anh em cùng một tổ tiên. Khi có cùng chung kí hiệu về
tang ma (lễ tang người chết) và các lễ thức “ma bò” (cúng giỗ tổ tiên), “ma lợn”
(cúng thần nhà), “ma cửa” (cúng thần cửa), thì đồng bào Hmông coi là anh em
“cùng ma” và đây là bốn lễ thức cơ bản nhất thể hiện “kí hiệu” họ hàng riêng
của mỗi dòng họ Hmông. Khi “cùng ma” thì người Hmông coi nhau như anh em
ruột thịt “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu”, được ăn ở chung một mái
nhà, được tin yêu giúp đỡ và được chết ở nhà nhau. Khi “cùng ma”, cùng dòng
họ thì không được yêu nhau và kết duyên thành vợ chồng. Dòng họ “cùng ma”
là một đơn vị xã hội thể hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ một cách tự nhiên
của các thành viên kể cả khi vui, khi buồn. “Cùng ma” là một đặc trưng vô cùng
quan trọng của dòng họ và là nền tảng văn hóa tinh thần rất đặc sắc, tạo nên sự
cố kết hợp chặt chẽ cho sự tồn tại của cộng đồng dòng họ. Theo quan niệm của

lược các nước Đông Dương, đã triệt để khai thác những đặc tính tâm lý nêu trên
để dẫn dắt một bộ phận người dân tộc Hmông cũng như các dân tộc thiểu số

20
khác làm những chuyện liều lĩnh, nguy hiểm mà không biết kẻ thù chính là kẻ
xâm lược mình. Có nhiều ví dụ ở Việt Nam và ở Lào về tình trạng mâu thuẫn
giữa các dòng họ Hmông khi có bàn tay can thiệp của các thế lực xấu.
Có thể nói, chính sách “chia để trị” thâm độc của chủ nghĩa đế quốc trong
việc lợi dụng người Hmông đã gây chia rẽ rất sâu sắc giữa một số dòng họ
Hmông, dẫn đến xé lẻ và li tán cộng đồng dân tộc Hmông mà cho tới nay vẫn
tồn tại những vấn đề chưa được giải quyết. Bọn đế quốc xâm lược đã khai thác
triệt để những ưu điểm và nhược điểm của họ để phục vụ cho âm mưu xâm
chiếm các nước Đông Dương.
Mặc dù vậy, do những mối quan hệ về tín ngưỡng, thần quyền, kinh tế, xã
hội và nguồn gốc lịch sử, cộng đồng dân tộc Hmông (quan hệ giữa quần chúng
và tộc trưởng, tù trưởng, trưởng dòng họ, thầy thần quyền, bà cô) luôn gắn bó
chặt chẽ với nhau để đấu tranh, để bảo vệ nhóm dòng họ, dòng họ, dòng tộc và
do đó, cần có người đứng đầu. Họ không thể tách rời tổ chức vì sẽ dẫn đến tai
họa, nhất là trong xã hội phong kiến, thực dân đế quốc, có áp bức dân tộc.
1.5. Tín ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những thành tố quan trọng nhất của văn
hóa tinh thần, nó tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và đời sống sinh hoạt. Tín
ngưỡng, tôn giáo của người Hmông có những nét tương đồng với các tín
ngưỡng, tôn giáo ở các tộc người khác. Sự khác biệt thường bộc lộ ở sự phát
triển của một số loại hình hoặc ít chịu ảnh hưởng của tam giáo như một số tộc
láng giềng như Dao, Tày, Nùng, Trong các hình thức tôn giáo truyền thống
của người Hmông, việc thờ cúng tổ tiên, đặc biệt là Sa man giáo tương đối phát
triển. Nhưng những hình thức tôn giáo sơ khai như vật linh, tô tem giáo, các loại
ma thuật vấn tồn tại ở dạng tàn dư và đóng vai trò quan trọng. Tôn giáo, tín
ngưỡng đã hòa quyện với các lễ thức hội hè tạo nên những sắc thái, sự phong

Do không có tôn giáo chính thống nên có thể nói, người Hmông theo Sa
man giáo. Đây là hình thức tôn giáo chuyên biệt bởi họ có hệ thống thầy cúng
(gọi là ) chuyên nghiệp. Họ có mặt ở khắp các bản người Hmông. Để
hành nghề, họ có bàn thờ riêng, không có trang phục thầy cúng riêng như các
dân tộc khác. Người Hmông cần đến thầy cúng khi chữa bệnh, gọi hồn cho trẻ

22
nhỏ, làm ma cho người chết, Qua các bài cúng của , với thế giới chia
làm 3 cõi và con đường lên trời, có thể thấy được khát vọng thay đổi cuộc sống,
hướng tới sự ấm no, hạnh phúc.
* t: Dân tộc Hmông là một trong 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ
Việt Nam có tiếng nói riêng trên nhiều phương diện. Họ có nền văn hóa tinh
thần phong phú và đặc sắc. Trong tiến trình lịch sử, môi trường sống, điều kiện
tự nhiên, tộc người Hmông hình thành nên những đặc điểm văn hóa, xã hội có
tính bền vững và riêng biệt. Sinh hoạt văn hóa của người Hmông thể hiện bản
sắc riêng. Vẻ đẹp văn hóa đó được biểu tượng hóa bằng các tín hiệu thẩm mĩ
thông qua đồ dùng sinh hoạt và nhạc cụ dân tộc mà chúng tôi sẽ trình bày ở
.

khăn, )
2.1.1.
Nếu chia theo chất liệu sử dụng, người Hmông trong nếp sống sinh hoạt
thường sử dụng một số đồ dùng sau:
- Nhóm đồ dùng bằng tre: Lù cở (gùi).
- Nhóm đồ dùng chế tác kim loại: dao, cuốc, thuổng, đồ làm nương rẫy
(cày, cuốc, lưỡi cày, ).

24
- Nhóm đồ dùng may mặc từ cây lanh.
- Nhóm đồ trang sức.
Nếu chia theo thời điểm sử dụng, có thể thấy, người Hmông có các loại
đồ dùng theo 2 loại:
- Đồ dùng sinh hoạt của dân tộc Hmông trong sinh hoạt hằng ngày.
- Đồ dùng sinh hoạt của dân tộc Hmông trong sinh hoạt lễ hội.
Chúng tôi dựa trên cách phân chia thứ nhất để khảo sát đồ dùng sinh hoạt
dân tộc Hmông.
2.1.2. Đồ dùng sinh hoạt của dân tộc Hmông trong sinh hoạt
2.1.
2.1.
Lù cở là đồ dùng đặc trưng riêng của người Mông, không có ở các dân tộc
khác. Nhìn thấy lù cở sau vai, sau đầu, có thể nhận biết người đang dùng nó là
người dân tộc Hmông. Tất nhiên lù cở của người Hmông có những kết cấu khác
với các dân tộc khác cùng sử dụng địu tre ở sau lưng.

người khi đi làm nương hoặc xuống chợ. Thú vị nhất là hình ảnh khi người phụ
nữ lên nương, có con nhỏ thường mang theo lù cở để cho con ngồi vào trong đó,
chỉ cần xòe một chiếc ô, là em bé có ngay một chỗ ngủ ngon lành. Trên những
nẻo đường xuống chợ, là những lù cở đầy rau xanh, có khi là con gà thò mỏ ra,
hay một can rượu ngô vừa nấu, Khi phiên chợ tan thì chiếc lù cở lại làm nhiệm
vụ chuyên chở bao nhiêu vật dụng thiết yếu, là cân muối, là cân thịt lợn, là
những cuộn chỉ thêu,… theo chân người về bản. Với chiếc lù cở trĩu nặng trên
vai, đôi chân của đồng bào Hmông sống trên vùng cao mỗi ngày không biết đi
bao nhiêu cây số đường núi để lên nương, xuống chợ. Bất cứ lúc nào, trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status