LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, nhân loại trong thế kỷ 21 vẫn đang đứng trước
bao tai ương về chiến tranh, môi trường, nghèo đói, dịch bệnh và đủ thứ tai
họa khác. Riêng ở nước ta, chiến tranh dù đã qua hơn 30 năm nhưng bao
người con thân yêu của đất nước và con cháu, gia đình họ vẫn đang phải
gánh chịu những hậu quả khốc liệt của chiến tranh; hậu quả của chất độc da
cam, của thương tật, bệnh tật ; Trong khi họ đã hy sinh bao máu xương để
giành độc lập tự do, hòa bình cho đất nước. Lương tâm và nghĩa vụ đòi hỏi
chúng ta, những người lành mạnh phải quan tâm chăm sóc những con
người bất hạnh ấy. Tạo những điều kiện tốt nhất giúp họ có việc làm phù
hợp và được học tập, vui chơi giải trí , và nhất là bày tỏ tình cảm thương
yêu chân thành, ra sức động viên, giúp đỡ trên mỗi bước vươn lên của họ.
Thời gian qua, các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương
đã tích cực triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người khuyết tật trong các
lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, dạy nghề, tạo việc làm, khám chữ bệnh
Qua đó, đời sống của phần lớn người khuyết tật được cải thiện rõ rệt, vai trò
và sự đóng góp bình đẳng của người tàn tật cũng ngày càng được khảng định
trong các lĩnh vực đời sống, xã hội.
Là quê hương có truyền thống nhân đạo “Uống nước nhớ nguồn”,
trong những năm qua, tỉnh Hải Dương luôn chú trọng đến “Công tác chăm
sóc người khuyết tật”. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chính sách
chăm sóc người khuyết tật vẫn còn những bất cập, một số quy định của pháp
luật vẫn chưa đi vào cuộc sống. Các qui định liên quan đến chính sách đối
với người khuyết tật còn thiếu, chưa đồng bộ; biện pháp tổ chức thực hiện
chưa thực sự hiệu quả; Việc tiếp cận các công trình, cơ sơ văn hóa, vui chơi,
giải trí của một bộ phận người khuyết tật còn nhiều trở ngại, khó khăn
1
Nắm bắt được vấn đề này, sinh viên đã chọn chuyên đề “ Thực trạng
công tác chăm sóc người khuyết tật ở Tỉnh Hải Dương” như góp tiếng nói bé
nhỏ để kêu gọi mọi người hãy thể hiện trách nhiệm và lương tâm của mình,
cùng với Đảng và Nhà nước làm tốt hơn nữa “Công tác chăm sóc người
- Bệnh tật
- Tai nạn giao thông
- Tai nạn lao động
- Thương tật do chiến tranh
c. Phân loại người khuyết tật
- Khuyết tật trí tuệ: Thiểu năng trí tuệ, mức độ trung bình, mức độ
nặng, mức độ rất nặng.
3
- Khuyết tật vận động: Tổn thương 1 chi, 2 chi, 3 đến 4 chi, khuyết tật
ở cơ quan phát âm.
- Khuyết tật về giác quan: Khiếm thính, khiếm thị
- Khuyết tật về ngôn ngữ
- Bệnh tâm thần
- Tàn tật đa thể
- Tàn tật cơ thể
- Tự kỷ - thu mình
1.2 Quan điểm của Đảng – Nhà nước và chính quyền địa phương về công
tác chăm sóc người khuyết tật
Trong bất kỳ mọi thời đại, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm
sóc, bảo vệ người khuyết tật.
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách mới nhằm khuyến
khích, củng cố, phát triển công tác dạy nghề và sản xuất của người tàn tật.
Điều 1 Quyết định số 15/TTg ngày 20/10/1992 của Thủ tướng Chính phủ đã
khảng định: “Các cơ sở sản xuất – kinh doanh do thương binh, bệnh binh và
người tàn tật lập ra để cải thiện đời sống và phục hồi chức năng toàn diện
của mình theo chủ trương và luật pháp hiện hành được Nhà nước bảo hộ và
khuyến khích phát triển ”. Điều 5 Quyết định này còn quy định: “Thương
binh, người tàn tật và các thành viên khác làm việc tại cơ sở kinh tế của
thương binh, người tàn tật nếu học tập nâng cao tay nghề, đào tạo lại nghề
tại các trường, trung tâm dạy nghề do Nhà nước quản lý được miễn học phí,
cảnh nổi tiếng: Côn Sơn –Kiếp Bạc, Đền Cao
Đây là một vùng đất giàu bản sắc văn hoá dân tộc, mang đậm dấu ấn
của nền văn hóa Việt Nam.
5
Hải Dương có nguồn lao động khá dồi dào: Rất chăm chỉ, chịu khó,
có kiến thức văn hoá và tinh thần sáng tạo để tiếp thu kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến.
Hiện nay, toàn tỉnh Hải Dương có gần 30 trường Trung học, Cao đẳng
và Đại học (không kể các trường do huyện, thị quản lý) với đội ngũ giáo
viên gần 1.000 người và trên 13.000 học sinh theo học/năm, hàng năm tốt
nghiệp trên 4.000 học sinh cung cấp cho đội ngũ lao động của tỉnh ngày
càng đông đảo.
Có thể nói rằng điều kiện tự nhiên - điều kiện kinh tế xã hội là nguồn
lực to lớn cả về vất chất lẫn tinh thần để thực hiện công tác chăm sóc người
khuyết tật của Tỉnh.
6
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI
KHUYẾT TẬT Ở TỈNH HẢI DƯƠNG
1. Thực trạng “Người khuyết tật” ở tỉnh Hải Dương
1.1. Số lượng người khuyết tật
Tổng số người khuyết tật trên địa bàn tỉnh là 26.156 người, chiếm tỷ
lệ 1,6% dân số toàn tỉnh. Qua điều tra cho thấy tỷ lệ NKT huyện Chí Linh
cao nhất là 3.638 người (chiếm 2,5%) dân số của huyện và thấp nhất là TP
Hải Dương 923 người (chiếm 0,7%), còn lại Nam Sách là 1.785 (chiếm
1,3%), Thanh Hà 2.319 người (chiếm 1,4%), Ninh Giang 1.402 người
(chiếm 1%), Thanh Miện 1.916 người (chiếm 1,5%), Kim Thành 1.823
người (chiếm 1,5%), Tứ Kỳ 3.108 người (chiếm 1,9%), Gia Lộc 3.258 người
(chiếm 2,2%), Cẩm Giàng 1.718 người (chiếm 1,4%), Bình Giang 1.966
người (chiếm 1,9%), Kinh Môn 2.291 người (chiếm 1,4%). Trong đó
Phân bố theo nhóm tuổi
+ Người có khó khăn vận động nguyên nhân chủ yếu là di chứng bệnh
tật và chưa rõ nguyên nhân 5.517 người, chiếm 60.9%.
+ Người khó khăn vận động do nguyên nhân bẩm sinh 1.920 người,
chiếm 25,9%.
+ Người khó khăn vận động do tai nạn đứng thứ 3 là 651 người,
chiếm 8,8%.
+ Người khó khăn vận động do bị thương chỉ có 325 người, chiếm
4,4%.
8
Phân loại nhóm khó khăn vận động theo mức độ
+ Người khó khăn vận động do liệt 1 chi dưới chủ yếu ở mức độ 0
(chiếm 50%) và mức độ 2 (chiếm 31,7%). Người ở mức độ 1 chỉ có 18,3%.
+ Người khó khăn vận động do bại não chủ yếu ở mức độ 2 (chiếm
51%) và mức độ 1 (chiếm 41,8%), ở mức độ 0 chỉ có 7,2%. Nhìn chung
trong nhóm khó khăn vận động chủ yếu ở hai mức độ: 2 và 1
1.2. Hoàn cảnh sống
Theo báo cáo của Sở Lao động – TB &XH tỉnh Hải Dương thì phần
lớn người khuyết tật sống cùng với gia đình (chiếm 85,9%), số người khuyết
tật sống độc thân (chiếm 4,31%), số người khuyết tật sống trong bảo trợ xã
hội của tỉnh là 0,99%, số người khuyết tật sống lang thang (chiếm 8,8%).
Như vậy, có thể thấy được hoàn cảnh sống của người khuyết tật gặp
rất nhiều khó khăn trong cuộc sống: NKT phụ thuộc hoàn toàn và không
hoàn toàn chiếm 75%, chỉ có 25 % NKT có cuộc sống tự lập. Họ phải sống
trong những ngôi nhà đã xuống cấp một cách trầm trọng, quá dột nát, sụt
lún, không đảm bảo đến tính mạng của họ; họ thiếu cả đồ dùng sinh hoạt tối
thiểu cần có như: Tivi, đài, tủ Đã vậy, thu nhập gia đình NKT quá thấp
dưới 80.000 đồng/người/tháng (chiếm 63,1%), rất ít NKT có thu nhập khá
trên 150.000 đồng/người/tháng (chiếm 8%).
Họ luôn có tâm lý mặc cảm, tư ti, lo lắng, sống khép mình, không hòa
nhập và cho rằng mình là người bỏ đi trong xã hội. Họ thường xuyên khủng
mong mun gia ỡnh bit cỏch x lý, chm súc vi ngi khuyt tt. Phn
ln ngi khuyt tt u cú nhu cu tham gia vo cỏc hot ng giỳp gia
ỡnh, ni trỳ, thm chớ c tham gia lao ng sn xut (67%; 57,1% v
46,9%). Mt s ngi khuyt tt cũn cú nhu cu tham gia cỏc hot ng xó
10
hội (13,1%). Phần lớn gia đình người khuyết tật đều có nguyện vọng được
chăm sóc người khuyết tật tại nhà và có nhu cầu phục hồi chức năng cho
người khuyết tật để họ có cơ hội được hòa nhập vào cộng đồng. Một số ít gia
đình muốn đưa người khuyết tật vào cơ sở nuôi dưỡng, có thể do kinh tế
hoặc do tình cảm.
2. Thực trạng công tác chăm sóc người khuyết tật ở tỉnh Hải Dương
2.1. Những kết quả đạt được
a. Công tác trợ cấp xã hội
Trong những năm qua, tỉnh Hải Dương đã có rất nhiều chính sách
quan tâm, giúp đỡ và chăm lo tới người khuyết tật. Năm 2006, tỉnh đã xem
xét và trợ cấp cho 1.878 người khuyết tật nặng, trong đó có 1.437 người
khuyết tật nặng hưởng mức trợ cấp 170.000 đồng/người/tháng và 441 người
do bị nhiễm chất độc hóa học không tự phục vụ được hưởng mức trợ cấp
120.000đồng/tháng. 6 tháng đầu năm 2007, tỉnh đã xem xét trợ cấp cho
2.461 người khuyết tật, trong đó người khuyết tật là 1.678 người và 783
người bị nhiễm chất độc hóa học. Mức trợ cấp thường xuyên cho người
khuyết tật ở cộng đồng tại Hải Dương cao hơn gấp 2,6 lần so với mức thấp
nhất của Trung ương quy định. Những người tàn tật nặng, không nguồn thu
nhập, không người nuôi dưỡng, không nơi nương tựa được tiếp nhận vào
trung tâm bảo trợ xã hội để chăm sóc nuôi dưỡng. Trung tâm bảo trợ người
già người khuyết tật của Tỉnh hiện đang chăm sóc nuôi dưỡng 137 người tàn
tật nặng. Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi khuyết tật nuôi dưỡng 60 tuổi trẻ
mồ côi, khuyết tật, ngoài ra trung tâm còn tiếp nhận chăm sóc 65 trẻ khuyết
tật ở cộng đồng do cha mẹ gửi và đóng góp học phí. Chế độ tiền ăn của
người khuyết tật và nhóm trẻ khuyết tật nhẹ là 350.000đồng/tháng, trẻ
làm. Cán bộ dự án Tây Ban Nha mời ra xã để phỏng vấn tham gia vào
chương trình dạy nghề. Em được học nghề miễn phí. Dụng cụ, dao, dùi em
cũng được cung cấp. Nếu làm hỏng sản phẩm thì em không phải đến. Mỗi
tháng, chúng em được 180 ngàn đồng tiền ăn trưa. Mỗi nhóm của lớp được
100 ngàn đồng tiền trợ giúp mỗi thán để ai ốm đau đi thăm hỏi”.
Không chỉ vậy, có khoảng gần 3.000 lượt người khuyết tật được
vay vốn với lãi suất ưu đãi, được chính quyền địa phương giúp đỡ về chuyển
giao công nghề, hướng dẫn sản xuất và kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm. Đa số,
người khuyết tật tập trung vào phát triển mô hình VAC hay các hoạt động
buôn bán nhỏ, các nghề dịch vụ như sửa chữa máy tính, xe máy. Vì thế đã có
gần 700 hộ gia đình người khuyết tật thoát nghèo, với mức thu nhập khá ổn
định từ 500.000đ – 1.000.000đ/tháng.
Ông Đào Đức Minh (Hội chữ thập đỏ tỉnh Hải Dương) cho biết:
“Chúng tôi giúp vốn để họ đi lên bằng chính khả năng của mình. Nếu họ còn
thiếu kiến thức làm ăn thì chúng tôi dạy nghề. Và nếu muốn tiếp cận với thị
trường thì chúng tôi giới thiệu họ đến những đơn vị tài chính, những tổ chức
khác để được giúp đỡ”.
Đa số các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn
Tỉnh đã tuyển dụng lao động là người khuyết tật theo đúng qui định như
sau: 2% đối với doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất điện năng, luyện
kim, hóa chất, địa chất, đo đạc bản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai thác
khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tải; 3% đối với doanh nghiệp thuộc các
ngành còn lại.
Đặc biệt, trung tâm dạy nghề dành cho người khuyết tật Tỉnh Hải
Dương đã tổ chức một số nghề cho 120 người khuyết tật với các nghề như
tin học, điện dân dụng, may công nghiệp Trung tâm luôn nhận được sự
ủng hộ của nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài tỉnh. Vì vậy, sau khi học
13
xong người khuyết tật đều có việc làm và thu nhập ổn định tại các doanh
nghiệp trong tỉnh nhà.
Đặc điểm tâm lý chung của người khuyết tật là rất mặc cảm, tự ti,
coi mình là người thừa trong xã hội. Chính vì vậy, với hoạt động văn hóa,
thể dục thể thao sẽ giúp cho người khuyết tật được tái hòa nhập cộng đồng,
phát huy các tiềm năng sáng tạo, đảm bảo sức khỏe.
Trong tỉnh đã có rất nhiều câu lạc bộ, các tổ, đội, nhóm được thành
lập với mục đích thu hút sự tham gia người tàn tật như: CLB người khuyết
tật, CLB phụ nữ khuyết tật, CLB văn nghệ người khuyết tật Qua đây, các
thành viên trong nhóm có sự tương tác, hỗ trợ nhau. Đến với các CLB, tổ,
đội, nhóm họ đều là những người yếu thế trong xã hội nên họ rất cần sự chia
sẻ, cảm thông lẫn nhau.
Nhận thức được điều này, các cấp chính quyền tỉnh Hải Dương đã
tạo mọi điều kiến thuận lợi trong việc đầu tư xây dựng mới, cải tạo công
trình nhà ở, công trình công cộng, thiết kế và chế tạo các dụng cụ cho người
tàn tật. Hiện nay, Tỉnh Hải Dương đang thực hiện dự án xây dựng Trung tâm
hoạt động người thành phố trên diện tích gần 5.000m2, đã cơ bản hoàn thành
việc bồi thường giải phóng mặt bằng, để tiến hành vận động tài trợ xây dựng
các hạng mục công trình
2.2. Những kết quả chưa đạt được
- Theo kết quả điều tra thì ngay tại nơi làm việc, trường học, bệnh
viện, công sở cũng như ngay tại các gia đình có người khuyết tật thì thực
trạng kì thị và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật vẫn diễn ra một cách
trầm trọng. Nhận thức và thái độ của xã hội về người khuyết tật vẫn còn rất
15
tiêu cực, coi người khuyết tật là “không bình thường”. Có thể nói rằng, kì thị
và phân biệt đối xử là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng thiệt thòi của
người khuyết tật và việc người khuyết tật không tiếp cận được các cơ hội về
việc làm. Các doanh nghiệp ở tỉnh Hải Dương thường có khuynh hướng chỉ
muốn đóng góp từ thiện cho người khuyết tật hơn là tạo công ăn việc làm
cho người khuyết tật, nhận người khuyết tật vào làm việc. Nguyên nhân
chính là do nhận thức phổ biến coi người khuyết tật là không còn khả năng
một bộ phận không nhỏ người khuyết tật còn gặp rất nhiều khó khăn trong
cuộc sống.
3. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác chăm sóc người khuyết tật
ở tỉnh Hải Dương
3.1. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền
Bởi công tác tuyên truyền có vai trò rất lớn đối với người dân trong
cộng đồng. Thông qua công tác tuyên truyền, giúp người dân nâng cao nhận
thức, từ đó thay đổi hành vi, hành động. Hơn nữa, công tác tuyên truyền hiện
nay rất đa dạng, phong phú, giúp người dân thấy được những thiệt thòi của
người khuyết tật, những khó khăn mà người khuyết tật phải đương đầu. Từ
đó, khơi dạy mọi người lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết yêu thương lẫn nhau
trong mỗi con người.
Vì vậy, phải xây dựng và lựa chọn nội dung, hình thức tuyên truyền
một cách phù hợp với người dân trong cộng đồng.
Nội dung tuyên truyền có thể tập trung vào các nội dung sau
17
Tuyên truyền về những chính sách, pháp luật có liên quan đến nhiệm
vụ bảo vệ, chăm sóc người khuyết tật. Tuyên truyền về trách nhiệm của các
ngành, các cấp, các cá nhân trong cộng đồng.
Nêu gương những người tốt, việc tốt có vai trò trong công tác, bảo vệ
chăm sóc người khuyết tật hay những tấm gương người khuyết tật đã vượt
khó vươn lên, làm giàu chính đáng.
Cần phê phán, lên án những hành vi, những biểu hiện phi đạo đức
xâm phạm đến tính mạng, danh dự hay bóc lột sức lao động người khuyết
tật.
Hình thức tuyên truyền
Tổ chức các cuộc thi về bảo vệ chăm sóc người khuyết tật
Tổ chức các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, hội thảo, toạ đàm với chủ đề
chăm sóc, bảo vệ người khuyết tật.
Ngoài ra các ngành, các đoàn thể cần có hình thức tuyên truyền riêng
Đặc biệt, ở cộng đồng có rất nhiều cá nhân, tổ chức hảo tâm luôn sẵn sàng
chia sẻ họ. Người khuyết tật có cơ hội được học nghề, cấp vốn và tạo việc
làm. Đây là nguồn lực vật chất quí báu giúp người tàn tật vượt qua những
khó khăn trong cuộc sống. Tuy vậy, có một số bộ phận dân cư trong cộng
đồng vẫn còn có thái độ kì thị, phân biệt đối xử. Đây là nguyên nhân lớn
nhất khiến người khuyết tật khó hòa nhập cộng đồng.
c. Đối với mô hình chăm sóc người khuyết tật tại gia đình
Hiện nay, đa số người khuyết tật ở Tỉnh Hải Dương đang sinh sống tại
mô hình này. Người khuyết tật luôn luôn được sự chăm sóc rất kĩ lưỡng từ
phía những người thân trong gia đình. Tuy nhiên, ở mô hình này bộc lộ một
19
số hạn chế như sau: Người khuyết tật tự họ cảm thấy mình là gánh nặng cho
gia đình nên họ thường sống khép mình, ít giao lưu với những người xung
quanh. Một số gia đình khuyết tật nghèo gặp khó khăn trong việc chăm sóc
người khuyết tật về dinh dưỡng, sức khỏe, phục hồi chức năng.
Tóm lại, ở cả ba mô hình trên đều có những ưu điểm và hạn chế khác
nhau. Chính vì vậy, các cấp chính quyền cũng như người dân trong cộng
đồng cùng nhìn nhận và khắc phục những hạn chế ở mỗi một mô hình
KẾT LUẬN
20
Tàn nhưng không phế - câu nói ngắn gọn của chủ tịch Hồ Chí minh
đã thể hiện tư tưởng tích cực, một chủ nghĩa nhân văn cao đẹp, có ý nghĩa
nâng dắt, động viên con người phấn đấu trong mọi hoàn cảnh khó khăn. Đó
cũng chính là chủ nghĩa nhân ái Việt Nam trong thời đại mới.
Trong bài viết này, một lần nữa em muốn đánh giá lại thực trạng công
tác chăm sóc người khuyết tật ở tỉnh Hải Dương để chúng ta cùng nhìn nhận
những việc đã làm được và chưa làm được; từ đó rút ra giải pháp và có
những điều chỉnh kịp thời. Em tin chắc rằng, với sự quan tâm của Đảng –
Nhà nước, sự nhận thức đúng đắn của cộng đồng thì trong những năm tới
công tác chăm sóc người khuyết tật ở tỉnh Hải Dương sẽ đạt hiệu quả rất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
23