BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Oanh
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học môn hoá học
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS - TS. TRẦN THỊ TỬU
Thành phố Hồ Chí Minh – 2008
tạo đóng vai trò rất quan trọng, đổi mới giáo dục và đào tạo là một trong những
trọng tâm chiến lược của đất nước.
Để đáp ứng nhu cầu về nguồn lực con người - yếu tố quyết định của sự phát
triển đất nước, phải tạo sự chuyển biến t
oàn diện về giáo dục và đào tạo. Đó là:
“Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo
của người học, coi trọng thực hành, thí nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét,
học vẹt, học chay. Đổi mới và thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử” (Nghị quyết
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX).
Để nâng cao chất lượng giáo dục và sớm kịp thời hoà nhập với cộng đồng
quốc tế, chúng ta phải đổi mới cả về nội dung chương trình, phương phá
p dạy học
và phương pháp kiểm tra đánh giá.
Đánh giá vừa là khâu cuối cùng vừa là điểm khởi đầu cho một chu trình kín
tiếp theo với chất lượng cao hơn. Vì thế, kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
là một công việc rất phức tạp và rất cần thiết. Quá trình đó, nếu được tiến hà
nh một
cách khoa học sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc điều khiển hoạt động dạy học, có tác
dụng rất lớn trong việc củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ và giáo
dục nhân cách cho học sinh.
Nghị quyết số 37/ 2004/ QH 11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Quốc hội khoá
XI về giáo dục đã xác định “Tiếp tục cải tiến công tác thi cử theo hướng gọn nhẹ,
hiệu quả, thiết thực”.
Trước yêu cầu đó, trong những năm gần đây, vấn đề cải tiến kiểm t
ra, đánh giá
đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm. Một trong những phương hướng cải
tiến có hiệu quả hiện nay là kết hợp các phương pháp đánh giá truyền thống và
từng
bước áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào tất cả môn học ở các cấp
học và ở cả các kỳ thi : tốt nghiệp, tuyển sinh...
KHTN và các tài liệu tham
khảo.
Xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn có cách suy luận để
giải nhanh phần hiđrocacbon lớp 11 THPT ban KHTN.
Thực nghiệm sư phạm xác định tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu có hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn có cách suy luận để giải nhanh
chính xác, khoa học thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy, học và phát triển khả
năng tư duy của học sinh THPT.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận
- Phương pháp trắc nghiệm.
- Bài tập hóa
học ở trường phổ thông.
- Cấu trúc, nội dung chương trình hoá học THPT.
- Một số phương pháp giải nhanh bài tập hóa học ở trường THPT.
Phương pháp điều tra
- Trao đổi ý kiến với các giáo viên dạy hoá học ở trường THPT.
- Thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh sau khi sử dụng hệ thống câu hỏi.
Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phân tích chương tr
ình hoá học THPT, các số liệu thực nghiệm.
- Tổng hợp các kết quả thực nghiệm.
Thực nghiệm sư phạm
- Đánh giá hiệu quả hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn có cách suy
luận để giải nhanh phần hiđrocacbon lớp 11 ban KHTN.
- Xử lý kết quả bằng phương pháp thống kê toán học.
7. Phạm vi của đề tài
Xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn (4 lựa chọn) có cách suy
luận để giải nha
1.1.
2.2. Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
của học sinh bằng hệ thông câu hỏi trắc nghiệm gọi là “khách quan” vì cách cho
điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm.
Mỗi bài TNKQ gồm nhiều câu hỏi với nội dung kiến thức rộng, mỗi câu nê
u
ra một vấn đề với những thông tin cần thiết sao cho học sinh phải trả lời vắn tắt cho
từng câu.
Bảng 1.1. So sánh hai loại hình trắc nghiệm.
Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan
- Học sinh tự lựa chọn câu trả lời và cách
diễn đạt.
- Số câu hỏi ít, nhưng tổng quát.
- Học sinh mất nhiều thời gian để suy
nghĩ và viết .
- Chất lượng đánh giá ít chính xác, phụ
thuộc người chấm.
- Đề thi không phủ kín chương trình
- Dễ soạn, khó chấm, chấm lâu hơn.
- Học sinh phải chọn một trong những
câu trả lời đã cho.
- Số câu hỏi nhiều và có tính chuyên
biệt.
- Học sinh mất nhiều thời g
ian để đọc
và suy nghĩ.
- Chất lượng đánh giá khách quan hơn
(máy chấm).
Không thích hợp cho việc thẫm định các khả năng sắp đặt và vận dụng kiến thức.
b. Câu điền khuyết
Nêu một mệnh đề bị khuyết một bộ phận (chỗ trống), thí sinh phải điền nội
dung thích hợp và
o chỗ trống.
Ưu điểm
Phát huy được óc sáng kiến. Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ
ra, tìm ra câu trả lời.
Khuyết điểm
Phạm
vi kiểm tra của loại câu hỏi này thường chi tiết, vụn vặt. Việc chấm bài
thường mất thời gian, không khách quan.
c. Câu đúng - sai
Đưa ra một nhận định, thí sinh phải lựa chọn một trong 2 phương án trả lời
để khẳng định nhận định đúng hay sai.
Ưu điểm
Là loại câu hỏi đơn giản dùng để kiểm tra kiến thức về sự kiện. Vì vậy việc
soạn câu tương đối dễ dàng, ít phạm lỗi, khách quan khi chấm.
Nhược điểm
Học sinh có thể đoá
n mò mà xác suất đúng cao nên độ tin cậy thấp.
d. Câu nhiều lựa chọn
Đưa ra một nhận định có 4-5 phương án trả lời, thí sinh phải lựa chọn để
đánh dấu vào 1 phương án đúng duy nhất. Câu hỏi gồm có 2 phần, phần dẫn
và phần lựa chọn:
- Phần dẫn là một câu hỏi, ý tưởng phải rõ ràng giúp học sinh hiểu rõ câu trắc
nghiệm muốn hỏi điều gì.
- Phần lựa chọn gồm 4 – 5 phương án trong số đó có một phương án đúng.
Những phương án còn lại được gọi là gây “nhiễu”.
dẫn phải là câu
trọn vẹn để học sinh hiểu được mình đang hỏi vấn đề gì.
- Câu chọn cũng phải rõ ràng, dễ hiểu và phải có cùng loại quan hệ với câu
dẫn, phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn.
- Các câu nhiễu phải có tác dụng gây nhiễu với các học sinh có năng lực tốt
và tác động thu hút học sinh kém.
- Nên có 4-5 phương án để chọn c
ho mỗi câu hỏi. Nếu số phương án trả lời ít
hơn thì khả năng đoán mò, may rủi sẽ tăng lên. Nhưng nếu có quá nhiều
phương án để chọn thì giáo viên khó soạn và học sinh mất nhiều thời gian để
đọc.
- Không được đưa 2 câu chọn cùng ý nghĩa, mỗi câu kiểm tra chỉ nên soạn
một nội dung kiến thức nào đó.
- Các câu trả lời đúng phải đư
ợc sắp xếp theo thứ tự ngẫu nhiên, số lần xuất
hiện ở các vị trí A, B, C, D, E phải gần như nhau.
Dạng trắc nghiệm khách quan được ưa chuộng nhất hiện nay là loại câu có
nhiều phương án lựa chọn, hay dùng nhất là 4 phương án lựa chọn.
1.1.4. Định hướng đổi mới về kiểm tra đánh giá
Phải xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng dạy và
học chưa đáp ứng đư
ợc yêu cầu của thực tiễn là do công tác kiểm tra và đánh giá
chưa được hoàn chỉnh. Vì vậy, “việc xây dựng và hoàn chỉnh các phương pháp
kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông đến nay vẫn là một trong
những vấn đề quan trọng nhất” [24, tr. 289].
Kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học là một công việc rất phức tạp và
rất cần thiết. Quá trình đó, nếu đư
ợc tiến hành một cách khoa học sẽ có ý nghĩa rất
lớn trong việc điều khiển hoạt động dạy học, có tác dụng rất lớn trong việc lĩnh hội,
củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo phát triển trí tuệ cho học sinh. Vì vậy phải đổi
chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách tích cực chủ động sáng tạo [24]. 1.2.2. Tác dụng của bài tập hóa học [4],[12], [24]
- Bài tập hóa học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để
dạy học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế, biến các kiến thức
đó thành kiến thức của chính mình.
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú thông qua
đó mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc nhất.
- Là phương tiện để ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách sâu sắc nhất.
- Rèn luyện các kỹ năng hóa học như cân bằng, tính t
oán, nhận biết...
- Phát triển năng lực nhận thức, trí thông minh cho học sinh.
- Phát huy tính tích cực, tự lực, hình thành phương pháp học tập hợp lý cho
HS.
- Phương tiện để kiểm t
ra kiến thức, kỹ năng có tác dụng rèn tính kiên nhẫn,
chính xác khoa học và sáng tạo cho học sinh.
1.2.3. Phân loại bài tập hóa học [4], [12], [24]
Có rất nhiều cách phân loại bài tập hóa học. Tùy vào mục đích, nội dung,
tính chất... ta có thể phân các loại như sau:
- Dựa vào mức độ kiến thức: Có dạng bài tập cơ bản hay tổng hợp.
- Dựa vào tính chất của bài tập: Có bài tập định tính hay định lượng.
- Dựa và
o mục đích dạy học: Có dạng bài ôn tập, luyện tập, kiểm tra.
- Dựa vào cách tiến hành trả lời: Có dạng TNKQ hay tự luận.
- Dựa vào kỹ năng, phương pháp giải bài tập: Có dạng bài tập lập công thức,
tính khối lượng, thể tích các chất, hiệu suất phản ứng, nhận biết...
1.2.4. Lựa chọn và xây dựng bài tập trong giảng dạy hóa học
1.2.4.1. Lựa chọn v
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh phát triển thì phát hiện sớm vấn đề và
giải quyết tốt vấn đề là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống. Vì
thế, rèn cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề hiện nay cần được đặt
ra như một mục tiêu đào tạo.
1.2.
4.2. Xây dựng bài tập hóa học mới
Theo các xu hướng hiện nay:
- Loại những bài toán nghèo nàn về nội dung hóa học, nặng về thuật toán học.
- Loại những bài tập giả định rắc rối xa rời thực tiễn hóa học.
- Xây dựng theo các mẫu bài tập sẵn có hoặc tương tự.
- Tăng cường sử dụng bài tập TNKQ.
- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm.
- Xây dựng bài tập để phát triển tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn
đề.
- Đa dạng hóa các loại hình bài tập như bằng hình vẽ, sơ đồ, lắp rắp dụng cụ.
- Xây dụng bài tập có nội dung hóa học phong phú, sâu sắc, phần tính toán
đơn giản nhẹ nhàng.
- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập định lượng.
Các dạng bài tập mới cần chú ý xây dựng
Bài tập để rèn
luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn
đề là bài tập rèn l
uyện tư duy sáng tạo. Đây là những bài tập ngoài cách giải
thông thường còn cách giải phát huy trí thông minh, độc đáo dựa vào đặc điểm
của bài toán, gồm:
- Lắp rắp dụng cụ thí nghiệm.
- Sử dụng đồ thị.
- Vẽ đồ thị.
- Quy tắc đường chéo.
- Bài tập thực nghiệm định lượng.
- Dẫn xuất halogen- Ancol- Phenol.
- Anđehit- Xeton- Axitcacboxylic.
Kế hoạch dạy học
2,5 tiết x 3
5 tuần = 87,5 tiết.
1.3.2. Đặc điểm kiến thức phần hiđrocacbon
- Gồm 3 chương: 5, 6, 7.
- Chương 5, 6, 7 đề cập đến các loại hiđrocacbon.
Bảng 1.2. Nội dung kiến thức phần hiđrocacbon và số tiết lên lớp.
NỘI DUNG SỐ TIẾT
Chương 5: HIĐROCACBON NO
Mở đầu về hiđrocacbon
5.1. Ankan
5.2. Xicloankan
6
Chương 6: HIĐROCACBON KHÔNG NO
Mở đầu về hiđrocacbon không no
6.1. Anken
6.2. Ankađien
6.3. Khái niệm về tecpen
6.4. Ankin
8
Chương 7: HIĐROCACBON THƠM. NGUỒN HIĐROCACBON
THIÊN NHIÊN
Mở đầu về hiđrocacbon thơm(Aren)
7.1 Benzen và ankyl benzen
7.2 Styren và naphtalen
7.3 Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên
7
hữu cơ khi xác định khối lượng của các chất phản ứng hay sản phẩm
hoặc để tính lượng một nguyên tố nào đó.
Trong các phản ứng cháy của hiđrocacbon, axit, rượu... khối lượng O,
C, H... luôn được bảo toàn dựa vào khối lượng thu được tính được
số mol... dựa vào tỷ lệ các chất ta xác định được CTPT, CTCT...
Định luật bảo toàn khối lượng không tính đến lượng chất dư trong
phản ứng hóa học.
1.4.
2. Phương pháp bảo toàn điện tích
a. Nội dung
Tổng số điện tích dương bằng tổng điện tích âm về giá trị tuyệt đối. Vì vậy
dung dịch luôn trung hòa về điện.
b. Áp dụng
Phương pháp này thường được sử dụng trong các bài tập hóa vô cơ.
1.4.3. Phương pháp bảo toàn electron
a. Nội dung
Trong quá trình phản ứng thì:
Số e nhường = số e thu. Hoặc: Số mol e nhường = số mol e thu.
b. Áp dụng
Phương pháp này thường được sử dụng trong các phản ứng oxi hóa khử. Khi
giải không cần viết phương trình phản ứng mà chỉ cần xác định xem có bao nhiêu
mol e do chất khử nhường ra và bao nhiêu mol e do chất oxi hóa thu vào.
1.4.4. Phương pháp trị số trung bình
a. Nội dung
Dùng giải nhanh các bài toán về hỗn hợp 2 ha
y nhiều chất.
Trị số trung bình có thể là: khối lượng mol nguyên tử trung bình (
A
), khối
lượng mol phân tử trung bình (
1.4.5. Phương pháp tăng giảm khối lượng
a. Nội dung
Khi chuyển từ chất A sang chất B (có thể qua nhiều giai đoạn trung gian) khối
lượng các chất có thể tăng hoặc giảm do các chất khác nhau có khối lượng mol khác
nhau. Dựa vào mối tương quan tỷ lệ thuận của sự tăng giảm ta tính được lượng chất
tham gia hay tạo thành sau phản ứng.
b. Áp dụng
Được áp dụng rộng rãi trong các bài toán vô cơ và hữu cơ.
Hóa vô cơ:
- Các muối thay đổi gốc axit.
- Các muối thay đổi cation kim loại.
- Từ oxit chuyển sang m
uối.
...
Hóa hữu cơ:
- Các muối thay đổi gốc axit.
- Các muối thay đổi cation kim loại.
- Từ hiđrocacbon chuyển sang dẫn xuất halogen, rượu...
- Từ axit chuyển sang este hoặc ngược lại.
...
1.4.6. Phương pháp đường chéo
a. Nội dung
Phương pháp đường chéo thường được dùng để giải bài toán trộn lẫn các
chất với nhau có thể đồng thể hoặc dị thể nhưng hỗn hợp c
uối cùng phải là
đồng thể.
Nếu trộn lẫn các dung dịch thì phải cùng một chất hoặc khác chất nhưng do
phản ứng với nước tạo thành một chất.
Trộn 2 dung dịch của chất A với nồng độ khác nha
u, ta thu được 1 dung dịch
Được áp dụng trong hóa vô cơ và hóa hữu cơ:
Hóa vô cơ
- Trộn 2 dung dịch khác nồng độ.
- Trộn chất rắn vào dung dịch ( Na
2
O vào dung dịch NaOH...).
- Cho chất khí vào dung dịch ( SO
3
vào dung dịch H
2
SO
4
... ).
...
Hóa hữu cơ
- Trộn 2 dung dịch khác nồng độ.
- Trộn 2 chất khí vào nhau (hiđrocacbon với nhau, hiđrocacbon với
H
2
...).
...
1.4.7. Phương pháp biện luận xác định CTPT, CTCT
a. Nội dung
Biện luận theo các nội dung sau:
Biện luận khối lượng mol nguyên tử theo hóa trị (A – n).
Biện luận theo lượng chất ( gam, mol... ) hoặc gốc hiđrocacbon ( M
R
).
Biện luận theo số nguyên tử C, H, O...
Biện luận theo tính chất hóa học.
Chương 2
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH
QUAN NHIỀU LỰA CHỌN CÓ CÁCH SUY LUẬN ĐỂ GIẢI
NHANH PHẦN HIĐROCACBON LỚP 11 BAN KHTN
2.1. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN XÁC ĐỊNH DÃY ĐỒNG
ĐẲNG CỦA HIĐROCACBON
2.1.1. Xác định dãy đồng đẳng của hiđrocacbon dựa vào tỷ lệ số mol
CO
2
và H
2
O (
OH
CO
n
n
2
2
) khi đốt cháy hiđrocacbon
2.1.1.1. Cơ sở
= 1 → Anken hoặc xiclo ankan: C
n
H
2n
+
2
3n
O
2
→ nCO
2
+ nH
2
O
OH
CO
n
n
2
2
>1 → Ankin, ankađien, aren: C
n
H
2n-2
+
2
13
n
O
- Cho sản phẩm cháy hấp thụ hết vào dung dịch nước vôi trong dư, dung dịch
Ba(OH)
2
dư ... thì:
+ n
CO
2
= n
CaCO
3
( kết tủa)
+ Khối lượng dung dịch tăng: m
tăng
= m
CO
2
+ m
H
2
O
– m
kết tủa
+ Khối lượng bình tăng bằng tổng khối lượng CO
2
và H
2
O
- Cho sản phẩm cháy lần lượt qua các bình:
+ Bình 1 đựng H
2
2
O
→ Ankan
Câu 2. Đốt cháy hoàn toàn 1,4 gam hiđrocacbon X cần vừa đủ 3,36 lit oxi (đktc) chỉ
thu được CO
2
và H
2
O (hơi) với thể tích bằng nhau trong cùng điều kiện. Vậy
hiđrocacbon X là
A. xiclo ankan hoac anken.
B. C
2
H
4
.
C. xiclo ankan. D. an ken.
Suy luận: Chất khí thể tích tỉ lệ thuận với số mol → n
CO
2
= n
H
2
O
Vậy X là C
n
H
2n
H
8
, C
2
H
4
.
C. C
n
H
2n+2
, C
n
H
2n
. D. C
2
H
6
, C
2
H
2
.Suy luận:
- A có
2
Câu 5. Đốt cháy hòan toàn hỗn hợp X gồm 0,1 mol C
n
H
2n+2
, 0,2 mol C
m
H
2m
và 0,3
mol C
a
H
2a-2
, thu được 2,52 gam H
2
O và 7,04 gam CO
2
.Biết 2 hiđrocacbon có cùng
số nguyên tử cacbon và bằng 1/2 số nguyên tử cacbon của hiđrocacbon còn lại.
CTPT 3 hiđrocacbon lần lượt là:
A. C
2
H
6
, C
4
H
8
, C
2
2
H
4
, C
2
H
2
.
Caâu 6. Đốt cháy hoàn toàn a lít(đktc) hỗn hợp X gồm 3 hiđrocacbon thể khí:
C
n
H
2n+2
(A), C
m
H
2m
(B), C
a
H
2a-2
(C). Dẫn toàn bộ sản phẩm lần lượt vào dung dịch
H
2
SO
4
đặc và dung dịch NaOH dư thấy khối lượng bình H
2
SO
4
, C
2
H
4
, C
2
H
2
. B. C
2
H
2
, C
2
H
4
, C
2
H
6
.
C. C
4
H
4
, C
4
H
8
, C
H
2n
.
C. C
n
H
2n-2
. D. C
n
H
2n+2
.
Câu 10. Đốt cháy hoàn toàn 4,3 gam một hiđrocacbon X người ta thu được lượng
CO
2
nhiều hơn lượng H
2
O là 6,9 gam. Công thức phân tử của X là
A. C
6
H
12
. B. C
6
H
6
.
C. C
6
H
H
2
và C
3
H
4
.
Câu 12. X là hiđrocacbon thể khí ở t0 thường. Đốt cháy hoàn toàn m g X thu được
khí CO
2
và H
2
O(h) , trong đó CO
2
chiếm 76,52% về khối lượng. CTPT của X là
A. C
4
H
8
. B. C
4
H
10
.
C. C
4
H
6
. D. C
4