Văn học – giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học part 7 - Pdf 14


181
ta đi thả lờ bắt cá, loay hoay mãi không biết làm thế nào, anh ta liền hỏi ý
kiến vợ, chị vợ bực mình bảo rằng cứ thấy chỗ nào nhiều phân cò thì thả lờ ở
đó, kết quả là anh ta mang lờ treo hết lên cây sung vì thấy dưới gốc cây trắng
những phân cò). Sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học mới đã khai thác cái
cười nhẹ nhàng ở một số truyện trào phúng để giáo dục trẻ em: Mua kính

khuyên trẻ không thể ỷ vào phép màu của chiếc kính mà tránh né nhiệm vụ
học hành; Đổi giày – phê phán thói quen sinh hoạt cẩu thả, bừa bãi của
người đời trong đó có trẻ em, khẳng định rằng, nguy hiểm hơn, thói bừa bãi
đó còn tác động vào cả nếp nghĩ và việc làm hàng ngày của của chúng ta,
làm rối loạn mọi trật tự cuộc sống; Há miệng chờ sung – cười người đã lười
mà còn dám chê thói xấu
đó ở người khác, thật chẳng biết mình là ai! Đi chợ
– phê phán những người quá máy móc dẫn đến hỏng việc, ngay cả chuyện
đồng nào mua mắm đồng nào mua tương, bát nào đựng mắm bát nào đựng
tương họ cũng coi là một vấn đề
Truyện trào phúng được dùng để châm biếm, đả kích thói xấu của một
hạng người có mặt trong các thứ bậc xã hội. Những người này có thể vừa
mắ
c phải những thói xấu thông thường vừa mắc cả những thói xấu thuộc về
bản chất giai cấp mà mình đại diện. Cái cười ác ý nhằm vào những tên nhà
giàu vừa keo bẩn vừa độc ác; bọn hào lí, quan lại vừa hay xu nịnh cấp trên
vừa nạt nộ kẻ dưới; các loại thầy như thầy cúng, thầy đồ, thầy địa lí, thầy
bói, nhà sư…vừa dốt nát vừa kém tư cách; các nhân vật
chóp bu cầm cân
nảy mực nhưng cũng tầm thường như bao người khác, hành động không
theo một nguyên tắc nào…Có thể lấy truyện Thầy đồ ăn vụng chè làm ví dụ.
Thầy đi làm gia sư tại nhà một bà goá, bà chủ hằng đêm đóng cửa cẩn thận
và còn để một đàn chó dữ canh cửa. Bấy lâu thầy không được ăn uống thoả

giáo dụ
c đạo đức cho trẻ em?
+ Nêu hai hình thức thể hiện bài học triết lí trong truyện ngụ ngôn.

183

Hoạt động 2: Hướng dẫn phương pháp tiếp nhận và phân tích TCDG (2
tiết)
Thông tin cho hoạt động 2:
Đặc điểm tiếp nhận của trẻ em: Trong hai phương diện quan trọng của
tiếp nhận văn học là đồng cảm và đối thoại thì bạn đọc trẻ em mới chỉ đạt tới
mức độ đồng cảm. Đồng cảm là cùng cảm thông, người đọc hiểu được
những gì tác giả muốn nói, từ ý nghĩa trực tiếp đế
n gián tiếp, cái hiển ngôn
tới cái hàm ngôn, hiểu tình cảm, tư tưởng tác giả muốn biểu đạt… Tiếp xúc
với tác phẩm văn chương, trẻ em bộc lộ ngay thái độ yêu ghét đối với từng
nhân vật, đồng tình hay phản đối ngay hành vi này hay hành vi khác của họ,
đồng thời nêu lên những nhận xét đánh giá từ những tình cảm yêu ghét đó.
Như trên đã nói, TCDG tác động đến tình cảm của bạn đọc trước, sau đó
mới tác động đến nhận thức của họ, điều đó giải thích vì sao trẻ em lại yêu
thích TCDG đến vậy. Cũng chính vì hoạt động tiếp nhận văn học của trẻ em
còn nặng về xúc cảm, cảm tính, nên càng cần đến sự định hướng dẫn dắt của
người lớn.
Cụ thể, cần hướng dẫn trẻ em cách tiếp cận các tác phẩm TCDG theo
các hướ
ng sau:
- Từ góc độ đặc trưng thể loại: điều này giúp trẻ nhanh chóng nắm bắt
được nội dung cơ bản cũng như mục đích sáng tác của từng thể loại.
- Từ góc độ nhân vật: mỗi thể loại xây dựng một kiểu nhân vật riêng
cho mình, vì vậy nhân vật là nơi hội tụ những vấn đề cơ bản nhất của nhận

hiện thái độ đánh giá của nhân dân, nhân vật của truyền thuyết thường bất
tử, trở thành Thánh nhân, có khả năng âm phù dương trợ. Nói đến cổ tích là

185
nói đến những truyện cổ sử dụng yếu tố thần kì để phản ánh hiện thực và mơ
ước của người xưa, từ số phận những con người nhỏ bé, bất hạnh mà nêu lên
những bài học đạo đức cho trẻ em. Ngụ ngôn là những bài học triết lí được
đúc kết từ những tình huống ứng xử cụ thể, với các nhân vật loài vật là chủ

yếu. Truyện cười chế giễu những thói xấu, cái thiếu hoàn thiện của con
ngưòi bằng tiếng cười với các nhân vật đủ loại từ người thường đến thánh
thần.
+ Phân tích các truyền thuyết Thánh Gióng; An Dương Vương; Sơn
Tinh, Thuỷ Tinh… hoặc một số truyện tự chọn khác nhằm làm rõ đặc trưng
kì ảo hoá lịch sử của truyền thuyết. Cần chỉ ra nh
ững sự thực lịch sử được
phản ánh trong các câu chuyện đó, đồng thời phân tích vai trò của các yếu tố
kì ảo, hoang đường mà truyền thuyết sử dụng nhằm tôn vinh công trạng
những người anh hùng.
+ Truyện cổ tích được coi là thể loại được sáng tác với mục đích giáo
dục đạo đức cho trẻ em vì: những mâu thuẫn, xung đột trong gia đình, ngoài
xã hội được cổ tích phản ánh đều xoay quanh phạm trù đạ
o đức, các nhân
vật chính diện hay phản diện đều thể hiện lí tưởng đạo đức của người xưa,
đó là quan niệm ở hiền gặp lành, ác giả ác báo (Phân tích một số ví dụ tiêu
biểu).
+ Hai hình thức thể hiện bài học triết lí trong truyện ngụ ngôn là công
khai và tiềm ẩn. Các bài học được đúc kết bằng nhan đề câu chuyện hoặc
bằng lời nói của nhân vật đều tr
ực tiếp cung cấp cho người nghe những

ca dao, tục ngữ, câu đố, đồng dao.
* Ca dao: là phần lời của bài hát dân gian (dân ca), là thơ ca dân
gian truyền thống.
Ca dao có hai đặc trưng cơ bản.

187
Thứ nhất, về phạm vi phản ánh, ca dao là nơi bộc lộ xúc cảm, tình
cảm, tư tưởng của quần chúng nhân dân lao động, là tiếng tơ đàn muôn điệu
của tâm hồn quần chúng. Đó là tình cảm nảy sinh trong công việc lao động,
trong quan hệ gia đình, cộng đồng, đặc biệt là quan hệ lứa đôi.
Thứ hai, về thể thơ, thể thơ được dùng phổ bi
ến nhất trong ca dao là
lục bát (90% số bài sử dụng thể thơ này), song thất, song thất lục bát, hỗn
hợp tự do. Sở dĩ như vậy là vì thể thơ lục bát có khả năng biểu hiện tự nhiên
những trạnh thái tình cảm đa dạng, tinh tế của con người, lại dễ nhớ, dễ
thuộc vì vậy dễ truyền tụng.
Nội dung ca dao vô cùng phong phú, nhưng nổi bật nh
ất và sâu sắc
nhất là nội dung phản ánh tình cảm gia đình và các mối quan hệ cộng đồng.
Khi nói về quan hệ gia đình, ca dao đã thể hiện sâu sắc đạo lí truyền
thống dân tộc: đề cao chữ hiếu, xem trọng quan hệ ruột thịt máu mủ, giáo
dục tình cảm đoàn kết trong gia đình.
- Con người có cố có ông
Như chim có tổ, như sông có nguồn.
- Công cha như núi ngất trời
Nghĩ
a mẹ như nước ngời ngời biển đông.
- Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Khi nói về thiên nhiên đất nước, ca dao coi đó vừa là đối tượng miêu

Đạo cương thường chớ đổi đừng thay
Dẫu có làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày ta cũng
theo nhau.
Các bài ca giao duyên đều miêu tả tình huống nảy sinh tình cảm, nền
tảng của các cuộc gặp gỡ là khung cảnh thiên nhiên trữ tình và khung cảnh
lao động sôi nổi: đêm trăng tát nước, buổi sớm cắt cỏ, buổi chiều câu cá
Chúng khẳng định một nét rất đặ
c trưng trong tình cảm của người lao động:
tình yêu nảy nở và thăng hoa trong cuộc sống lao động hàng ngày.

189
Khi nói về quan hệ xã hội, ca dao trở thành lời tâm tình của những
tâm hồn đau khổ. Đó là tiếng hát than thân của những người đi ở, người
nông dân nghèo, trẻ chăn trâu, người đi phu, người phụ nữ, đặc biệt là người
phụ nữ. Xã hội phong kiến phụ quyền tồn tại hàng ngàn năm với những quan
niệm bất công, khắt khe, đã đẩy người phụ nữ xu
ống địa vị thấp kém nhất
trong gia đình và ngoài xã hội, khiến họ phải chịu đựng bao nỗi khổ nhục cả
về vật chất lẫn tinh thần. Những câu ca này thường bắt đầu bằng các cụm từ
Thương thay, Thân em như…
- Thương thay con quốc giữa trời
Dẫu kêu ra máu, biết người nào nghe.
- Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rử
a chân.
- Thân em như ớt chín cây
Càng tươi ngoài vỏ, càng cay trong lòng.
Có biết bao nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nhưng nỗi khổ
thường được nhắc tới trong các câu hát than thân là nỗi khổ tinh thần, nỗi
khổ của thân phận mong manh, nhỏ bé, ít giá trị. Thân phận là điều lớn lao,

ẩn dụ là lối so sánh ngầm dựa trên cơ sở đồng nhấ
t hai hiện tượng
tương tự. Trong ca dao, ẩn dụ có ý nghĩa nhận thức và biểu cảm.
- Em tưởng nước giếng sâu, em nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây.
- Xưa kia ngọc ở tay ta
Bởi ta chểnh mảng, ngọc ra tay người.
Một số hình ảnh ẩn dụ, do được sử dụnglặp đi lặp lại trở thành kí hiệu
bền vững mang tính biể
u tượng: trúc – mai, thuyền – bến, loan – phượng,
mận - đào (biểu tượng kép), con cò, con bống, con rùa, con hạc (biểu
tượng đơn).

191
* Tục ngữ: là thể văn vần dân gian gồm những câu nói ngắn gọn, dễ
nhớ, dễ truyền, có chức năng đúc kết kinh nghiệm, tri thức lâu đời của nhân
dân về thiên nhiên, lao động sản xuất, con người và xã hội.
Về đặc trưng thể loại, tục ngữ nổi lên là một kho kinh nghiệm, kho
triết lí dân gian sâu sắc. Nó khác với ngụ ngôn ở hình thức câu nói ngắn gọn,
vừ
a là đơn vị ngôn ngữ đặc biệt vừa là một hiện tượng ý thức xã hội. Chức
năng thực hành – sinh hoạt của tục ngữ được vận dụng một cách tự nhiên
khiến cho nó gắn bó với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Bao kinh nghiệm sống ở
đời: cách đối nhân xử thế ; cách xem thời tiết; cách chọn giống cây trồng,
vật nuôi; cách nuôi dạy con cái… đã được tục ngữ đúc kế
t và truyền tụng.
Càng trải qua nhiều trải nghiệm cuộc đời, người ta càng thấy ý nghĩa của
một thứ tư duy lôgíc thực tiễn sắc sảo, đầy sức thuyết phục trong tục ngữ.
- Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.
- Mẹ ngoảnh đi con dại, mẹ ngoảnh lại con khôn.

Câu đố có hai đặc trưng thể loại.
Thứ nhất, về mục đích sáng tác, câu đố được sáng tạo nhằm phát triển
tư duy cho con người, đặc biệt là trẻ em. Câu đố thực sự là trò chơi trí tuệ,
vừa có tác dụng phát huy trí tưởng tượng vừa rèn luyện tư duy lô gíc và khả
năng phát hi
ện vho trẻ em. Vì vậy, về bản chất câu đố là một bài toán đang
cầncó lời giải đúng. Những đặc điểm của đối tượng đố được miêu tả trong
phần dữ liệu đố, đó là phần lời thơ hoặc văn xuôi có vần. ở đây, đối tượng có
thể được miêu tả theo lối so sánh với một vật chuẩn có sẵn hoặc nói chệch
sang một sự vật khác, đòi hỏi người giải đố phải gọi tên sự vật đó ra.Các sự
vật, hiện tượng được miêu tả trong câu đố thường là những gì quen thuộc,
gần gũi trong cuộc sống hàng ngày, nhờ câu đố, lại được tái hiện trong tư
duy và nhận thức của con người khiến người ta nhớ mãi. Nếu như đó là sự
vật lạ, thì cũng là dịp
để trao đổi học tập, mở rộng kiến thức.

193
Thứ hai, về hình thức thể hiện, câu đố sáng tạo ra một thế giới hình
tượng ẩn dụ bằng việc sử dụng phép lạ hoá. Phép lạ hoá vốn là cách thức thể
hiện hình tượng quen thuộc của thơ ca và văn chương nghệ thuật nhằm tạo
ra chất lượng mới cho những gì được phản ánh, đó là hệ quả của việc sử
dụng các biệ
n pháp tu từ trong diễn đạt ngôn ngữ. Với mục đích đánh lạc
hướng tư duy của người giải đố, câu đố dẫn người ta đi thật xa đối tượng
bằng những ẩn dụ kì ảo, mặc dù vẫn không bỏ qua việc miêu tả đặc điểm đối
tượng. Do vậy, câu đố càng trừu tượng bao nhiêu thì càng hấp dẫn bấy
nhiêu.
Câu đố có hai nội dung cơ bả
n, một mặt cung cấp những tri thức
thông thường về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống (đặc điểm hình

* Đồng dao: là những câu hát dân gian có nội dung và hình thức phù
hợp với trẻ em, được trẻ em hát lên lúc vui chơi, có thể do người lớn sáng
tác nhưng cũng có thể do trẻ em sáng tác. Đồng dao còn được gọi là Ca dao
và vè cho trẻ em.
Đặc trưng nổi bật của đồng dao là gắn với hoạt động vui chơi của trẻ

em, trẻ hát đồng dao trong sinh hoạt và trong khi chơi các trò chơi dân gian.
Các câu hát của trẻ trong sinh hoạt hàng ngày thường là các câu vè (vè
chim, vè cây, vè hoa, vè quả…) với thể thơ phổ biến là thơ bốn , năm chữ.
Các câu vè liên kết chặt chẽ với nhau theo cặp, mỗi cặp gồm hai vế, tạo
thành một kết cấu vững chắc. Vế thứ nhất nêu đặc điểm hoặc một gợi ý có
tính ẩn dụ nào đó v
ề tên gọi của sự vật, vế thứ hai nêu tên gọi của sự vật đó,
hai vế được nối với nhau bằng liên từ là. Trật tự giới thiệu của vè có thể là
xuôi nhưng cũng có thể là ngược, các bài học nhận thức tự nhiên vì vậy mà
vui vẻ và hấp dẫn.
Vè nói xuôi:
Dây ở trên mây
Là trái đầu rồng.
Có vợ có chồng

195
Là trái đu đủ.
Chọc ra nhiều mủ
Là trái mít ướt.
Mình tựa gà xước
Vốn thiệt trái thơm…
(Vè trái cây)
Vè nói ngược:
Bao giờ cho đến tháng ba

+ Nhiệm vụ 3: trao đổi thảo luận về nội dung cơ bản của từng thể
loại, đặc biệt là Câu
đố và Đồng dao vì đây là các thể loại thơ ca dân gian
dành riêng cho trẻ em.
- Đánh giá hoạt động 1 - SV thực hiện các bài tập sau:
+ Nêu đặc trưng cơ bản của các thể loại thơ ca dân gian.
+ Nêu tác dụng của phép lạ hoá trong câu đố.
+ Trình bày hình thức diễn xướng một số bài đồng dao vui chơi.
Hoạt động 2: Tìm hiểu, phân tích một số thể loại thơ ca dân gian phù
hợp và dành riêng cho trẻ
em (2 tiết)

Thông tin cho hoạt động 2: Các thể loại thơ ca dân gian dành riêng
cho trẻ em chính là câu đố và đồng dao. Bên cạnh đó, một số câu ca dao thể
hiện tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu lao động cũng
rất gần gũi và bổ ích đối với trẻ. Chúng đều tác động tới trẻ em từ những
phương diện sau:
+ Về mặt nhận thức: Câu đố và đồng dao đều cung cấp cho trẻ những
tri thứ
c đời sống, đó là giúp trẻ có được những hiểu biết về thế giới đồ vật,

197
cây cối, các con vật, các hiện tượng đời sống qua những câu ca dễ hiểu, dễ
nhớ , dễ thuộc.
+ Về phương diện tình cảm: Khi tham gia các hoạt động đố – giải đố
hoặc tham gia các trò chơi dân gian, tình bạn của các em càng được gìn giữ
và phát triển. Các em được sống trong không khí chan hoà, thân ái, được

Nhiệm vụ:
+ Nhiệm vụ 1: đọc phần thông tin cơ bản cùng các tài liệu tham khảo
số 3 và 7.
+ Nhiệm vụ 2: trao đổi, thảo luận về ý nghĩa, tác dụng của ca dao,
câu đố, đồng dao ở các phương diện giáo dục nhận thức, tình cảm và thẩm
mĩ cho trẻ em.
Đánh giá hoạt động 2: Lựa chọn và phân tích một số câu ca dao, tục
ngữ, câu đố… trong chương trình Tiếng Việt tiểu học.
Thông tin phản hồi cho các hoạt động
- Thông tin phản hồi cho hoạt động 1:
+ Đặc trưng của các thể thơ dân gian: Căn cứ vào thông tin nguồn đã
được cung cấp, phân tích một số dẫn chứng ở mỗi thể loại nhằm làm nổi bật
đặc trưng của từng thể loại.
+ Tác dụng của phép lạ hoá trong câu đố: tạo ra đặc trưng phản ánh
sự vật củ
a câu đố, phục vụ mục đích đố - giải. Phép lạ hoá khiến cho câu đố
đạt được hai yêu cầu: vừa miêu tả sinh động, chính xác đối tượng, vừa đánh
lạc hướng người giải đố. Hệ quả của nó là làm cho câu đố trở nên đa nghĩa,
hấp dẫn.
+ Hình thức diễn xướng một số bài đồng dao vui chơi: đó là hoạt
động tổ chức các trò chơi dân gian kết hợ
p với hát đồng dao của trẻ em. Có
thể giới thiệu một số trò chơi tiêu biểu như: Rồng rắn lên mây, Thả đỉa ba
ba, Xỉa cá mè đè cá chép, Kỉm kìm kim…

199
- Thông tin phản hồi cho hoạt động 2: trong bài viết, SV phải nêu
được nội dung, ý nghĩa, các biện pháp nghệ thuật tiêu biểu của các câu ca.
VD. Bài Cảnh đẹp non sông (SGK Tiếng Việt 3, tập 1) là tập hợp các bài ca
dao nói về một số cảnh đẹp thuộc ba miền đất nước, nên các bài ca dao này

năng của chúng.
Đề 4. So sánh, ví von là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng thường
xuyên và phổ biến nhất trong ca dao truyền thống. Hãy phân tích một số câu
ca dao làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đề 5. Đặc điểm của tục ngữ là lời ít ý nhiều, cô đọng ngôn ngữ đến
mức tối đa, có cấu trúc đối xứng. Hãy chứng minh.
2. Thông tin phản hồi của đánh giá
Đề 1. Cần giải thích: + Khi nói đến tâm hồn là nói đến lĩnh vực xúc
cảm tình cảm của trẻ em.
+ Khi nói đến trí tuệ là nói đến lĩnh vực nhận thức và
phát tri
ển tư duy của trẻ.
Cần dùng dẫn chứng để chứng minh rằng VHDG luôn có tác dụng bồi
dưỡng tình cảm và nhận thức cho trẻ. VD. Thần thoại giải đáp cho trẻ những
thắc mắc Tại sao? Như thế nào? Từ đâu? Truyền thuyết hình thành trong trẻ
em niềm tự hào về truyền thống văn hiến của dân tộc. Cổ tích tạo ra mối
quan hệ cảm thông ho
ặc phê phán giữa trẻ em và các nhân vật chính diện
hoặc phản diện. Câu đố khắc sâu trong tâm trí trẻ những hiểu biết về thế giới
xung quanh…
Đề 2. Cần giải thích khái niệm thế giới khác được dùng ở đây: thế giới
của ước mơ, của những điều tốt đẹp, khác hẳn với thế giới hiện thực trong
đó chứa đựng nhữ
ng điều rủi ro, bất hạnh của người lao động. Sau đó chứng
minh rằng cổ tích, đặc biệt là cổ tích thần kì luôn thể hiện ước mơ của người
xưa, về hai phương diện chủ yếu là lí tưởng đạo đức và khát vọng công lí.

201
Đề 3. Nhân vật ngụ ngôn là nhân vật chức năng vì chúng được sáng
tạo nhằm nêu bật đặc điểm tính cách cũng như hành vi ứng xử của một kiểu

202
Người khôn tiếng nói dịu dàng dễ nghe…

Chủ đề 4
Văn học thiếu nhi Việt Nam
( 15 tiết: 10 tiết lý thuyết 05 tiết thực hành)
1. Mục tiêu
1.1. Kiến thức: Trang bị cho sinh viên (SV) những hiểu biết chung nhất về
Văn học thiếu nhi Việt Nam , giúp SV có được những kiến thức liên quan
đến mảng Văn học thiếu nhi được tuyển chọn trong sách giáo khoa Tiếng
Việt tiểu học ( Kể cả chương trình Cải cách giáo dục lẫn Chương trình mới ).
1.2. Kĩ năng: Bồ
i dưỡng cho SV năng lực cảm thụ và phân tích các tác
phẩm Văn học thiếu nhi, từ đó biết vận dụng các kĩ năng này vào việc dạy
học các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn ở tiểu học.
1.3. Thái độ: Giúp SV hiểu rằng những kiến thức về Văn học thiếu nhi là
kiến thức tối thiểu, cơ sở mà mỗi giáo viên tiểu họ
c tương lai đều phải được
chuẩn bị và tự tích luỹ.
2. GIớI THIệU chủ đề
STT Tên các tiểu chủ đề Số tiết Trang số
1 Khái quát về văn học thiếu nhi 3
2 Giới thiệu một số tác giả tác phẩm tiêu biểu 7
3
Thực hành phân tích một số tác phẩm ( hoặc đoạn
trích ) trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
4
4 Kiểm tra 1

203

chắn cũng có những đặc điểm khác nhau.
Để dung hoà các ý kiến tranh luận, năm 1992, các tác giả cuốn Từ điển
thuật ngữ văn học
lần đầu tiên đã giới thiệu khái niệm VHTN như sau: Văn
học thiếu nhi, theo nghĩa hẹp, là các tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa
học dành riêng cho trẻ em, theo một phạm vi rộng, chỉ cả các tác phẩm văn
học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của trẻ em.
Nhiệm vụ:
+ Nhiệm vụ 1: đọc phần thông tin cơ bản.
+ Nhiệm vụ 2: tìm hiểu xem khái niệm mà Từ điển cung cấp đã có đầy
đủ ý nghĩa chưa.
+ Nhiệm vụ 3: bổ sung thêm những thông tin cần thiết cho khái niệm
đã nêu, nếu cảm thấy chưa đầy đủ.
Đánh giá hoạt động 1: SV trả lời các câu hỏi và thực hiện các bài tập
sau:
+ Nêu cách hiểu đầy đủ về khái niệm Văn học thiếu nhi.
+ Một tác phẩm có các nhân vật là trẻ em đã có thể coi là tác phẩm
VHTN chưa ?
Hoạt động 2: Tìm hiểu quá trình phát triển và những thành tựu chính
của VHTN Việt Nam

205
Thông tin cho hoạt động 2: VH viết cho thiếu nhi thực sự hình thành
với tư cách một bộ phận VH từ khi Nhà xuất bản Kim Đồng được thành lập
(17 - 6 - 1957 ), nhưng trước đó đã có một số nhà văn quan tâm tới việc viết
và dịch sách cho các em.
Trước cách mạng tháng Tám: Các nhà văn của chúng ta thường dịch
truyện của các nhà văn Pháp như Thơ ngụ ngôn La Phông ten và Truyện cổ
Perô, hoặc cho xuất bản sách viế
t bằng tiếng Pháp như loại sách Livre du


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status