BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN
MARKETING QUỐC TẾ ĐỀ TÀI:
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU GẠO QUA THỊ TRƯỜNG
CHÂU PHI GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH: Huỳnh Tuấn Cường
(MSHV: TNBK1-01004)
Lớp Cao học Quản trị Kinh doanh
Đồng Tháp, tháng 10 năm 2013
ĐỀ TÀI :
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 2
CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU GẠO QUA THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI
năm sau khi kết thúc chiến tranh, Việt Nam làm một nước nghèo, thiếu lương thực,
phải nhập khẩu gạo. Đến nay Việt Nam đã dần vươn lên từ nước thiếu lương thực
dần dần có thể tự cung tự cấp và trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo
lớn nhất trong khu vực và trên Thế giới. Kể từ năm 2001, sản lượng gạo tại Việt
Nam đã liên tục tăng và tăng 34% lên 27,4 triệu tấn vào niên vụ 2011-2012.
1.2 Thương hiệu:
Dân gian ta có câu thơ:
“Cần Thơ gạo trắng, nước trong
Ai đi đến đó, lòng không muốn về”
Qua đây, cũng nói lên được phần nào phẩm chất và thương hiệu gạo của vùng
Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Tuy nhiên, đó
cũng chỉ là những câu thơ mang thương hiệu gạo Việt Nam trong phạm vi của đất
nước chứ chưa vươn ra được thị trường ngoài nước. Do trong những năm qua, có rất
nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo khi thấy thị trường này có
lợi nhuận cao, chưa xây dựng được vùng nguyên liệu, chưa có chính sách phát triển
xuất khẩu lâu dài nên sẵng sàng rời bỏ thị trường khi gặp khó khăn hoặc không có đủ
khả năng tham gia do điều kiện đáp ứng còn hạn chế. Từ đó, ảnh hưởng đến uy tín và
vị thế của mặt hàng này trên thị trường xuất khẩu trong nhiều năm qua.
Thấy được những khó khăn đó, chính phủ Việt Nam cũng đang có nhiều chính
sách hỗ trợ thương nhân xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh việc xuất khẩu gạo ra thị
trường thế giới.
Một trong những việc làm cụ thể và trước tiên đó là phải xây dựng được uy tín
của doanh nghiệp Việt Nam, Bộ Công Thương đã ban hành “Quy hoạch thương nhân
kinh doanh xuất khẩu gạo“. Theo đó, từ nay đến năm 2015 đảm bảo tối đa 150 đầu
mối, 3 tiêu chí để được cấp Giấy chứng nhận là: Đủ điều kiện kinh doanh theo Nghị
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 4
định 109/2010/NĐ-CP: có kho chứa, cơ sở xay, xát thóc, gạo để đáp ứng điều kiện
Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và khu vực Trung Đông, được thể hiện qua biểu đồ số
liệu dưới đây:
Tỷ Trọng Xuất Khẩu Gạo Bình Quân Đến Các Châu Lục trong 17 năm qua
(Đvt: %)
2. LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG QUỐC GIA MỤC TIÊU
Với biểu đồ thể hiện tỷ trọng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 17 năm qua, cho
thấy Châu Á là thị trường nhập khẩu lớn nhất chiếm 47,53%, tiếp theo là Châu Phi
với 25,57%, đứng hàng thứ 3 là khu vực Trung Đông: 11,53% và thấp nhất là Châu
Âu với Châu Úc lần lược là 5,32%, 0,55%.
Đối với thị trường Châu Âu, Châu Úc và Châu Mĩ có giá trị xuất khẩu tương đối
cao, nhưng với điều kiện hiện nay chưa thể đẩy mạnh xuất khẩu vào những thị trường
này do yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng.
Tình hình diễn biến về chính trị của các nước ở khu vực trung đông hiện nay có
nhiều biến động nên việc giao thương cũng còn nhiều khó khăn và thách thức.
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 6
Đối với một số nước ở khu vực Châu Á nhập khẩu gạo từ Việt Nam từ năm 2013
do chính sách thu mua lúa với giá cao ở Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia và
Philippines đã khuyến khích nông dân các nước này thâm canh mở rộng diện tích
trồng lúa, dẫn đến việc tiêu thụ gạo nhập khẩu giảm. Đơn cử: Philippines - quốc gia
từng nhập khẩu gạo nhiều nhất thế giới, sẽ không nhập thêm gạo trong năm hiện tại,
do nước này có thể tự cung tự cấp lúa gạo trong nước, theo Bộ trưởng Nông nghiệp
Proceso Alcala.
Trong khi đó, hiện tại Châu Phi là thị trường rộng lớn, dân số đông, nhu cầu về
lương thực tăng theo từng ngày và tăng theo tốc độ tăng trưởng kinh tế. Khi đời sống
người dân được nâng cao thì nhu cầu dùng gạo thay thế cho những sản phẩm khác
như ngũ cốc tăng lên đáng kể, tăng lên 7.4 triệu tấn trong niên vụ 2012-2013. Hiện tại
Phi và khu vực Châu Phi một cách trực tiếp.
Từ những yếu tố trên thì việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường mới như châu Phi
là một biện pháp tích cực, về lâu dài đây là thị trường hấp dẫn và đầy tiềm năng để
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư phát triển bền vững.
2.1 Lựa chọn Quốc gia mục tiêu:
Sau khi chọn thị trường khu vực Châu Phi làm thị trường mục tiêu, việc tiếp theo
là cần lựa chọn Quốc gia mục tiêu. Vì với khả năng của một doanh nghiệp, một lúc
không thể giao thương với nhiều quốc gia do hạn chế về tài chính, quy mô, khả năng
nắm bắt và tìm hiểu thông tin về thị trường.
Vì vậy, kế hoạch Marketing này đã chọn một số quốc gia mà trong những năm
qua có mối quan hệ lâu dài với Việt Nam và có những lợi thế xuất khẩu nhất định làm
đại diện như: Nam Phi, Senegal, Angola. Từ đó, lựa chọn ra một quốc gia có những
ưu thế vượt trội hơn làm quốc gia mục tiêu trong chiến lược xuất khẩu gạo của công
ty.
2.1.1 Thị trường Nam Phi:
- Tổng quan:
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 8
Nước Cộng Hòa Nam Phi có diện tích 1.219.090 km
2
, dân số 48.810.427 người.
có khí hậu ôn hòa, tiếng anh là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất trong 11 loại
ngôn ngữ đang được sử dụng tại quốc gia này. Nam Phi theo chế độ Cộng hòa, dân cư
gồm nhiều sắc tộc, nhiều nhóm văn hóa và tôn giáo.
Về đối ngoại: đang tăng cường quan hệ với các quốc gia Châu á và đặc biệt là
các quốc gia nằm trong khối ASEAN. Nam phi cũng là ủy viên không thường trực của
HĐBA/LHQ khóa 2007-2008. Nam phi được coi là đầu tàu kinh tế ở Châu phi ngày
càng có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy liên kết kinh tế ở Châu lục.
nước ngoài.
Sự đa dạng về văn hóa đã làm cho công việc chuẩn bị đàm phán kinh doanh trở
nên khó khăn hơn nhiều. Vì vậy, bất ngờ ngoài dự kiến xảy ra trong quá trình đàm
phán kinh doanh tại Nam Phi là điều không thể tránh khỏi.
- Chỉ số kinh tế:
Nam Phi rất giầu tài nguyên, khoáng sản (vàng, kim cương, platin…), có nền
công nghiệp, nông nghiệp tương đối phát triển. Là một quốc gia rất giàu về tài nguyên
thiên nhiên, với cơ sở hạ tầng phát triển và tiềm năng tài chính tốt, Nam Phi đã trở
thành “cửa ngõ” được ưa chuộng cho việc đầu tư vào khu vực Miền Nam Châu Phi.
Nam Phi hiện là nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp lớn nhất vào Châu Phi. Công nghiệp
khai thác mỏ, chế tạo và thương mại của Nam Phi có thể sánh ngang với các nước ở
Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á.
Theo Quĩ tiền tệ Quốc tế IMF cho biết GDP của Nam Phi chiếm 1/3 GDP của
toàn châu lục. Mức tăng 1% trong phát triển kinh tế của Nam Phi có liên quan đến
1/2-3/4 tăng trưởng của các nước còn lại của Châu Phi.
Nhìn chung, thị trường Nam Phi có tiềm năng lớn và đặc biệt tồn tại hai dạng
thị trường tiêu thụ với yêu cầu về chất lượng và giá cả hàng hoá khác nhau, đó là thị
trường của người giàu và thị trường của người nghèo, dung lượng của hai thị trường
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 10
này gần tương đương nhau. Ngoài ra qua thị trường Nam Phi hàng hoá nhập khẩu từ
bên ngoài còn dễ dàng thâm nhập sang các miền Nam Châu Phi khác, nhất là các
nước thuộc Liên minh thuế quan.
Các chỉ tiêu kinh tế:
Năm
2009
2010
2011
Vàng, kim cương, platium, kim loại và khoáng chất khác
Kim ngạch nhập
khẩu
81.86 tỷ USD
92.86 tỷ USD
Mặt hàng chính
Máy móc thiết bị, hoá chất, các sản phẩm dầu khí, thực
phẩm
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 11
Dân số của Nam Phi Đơn vị tính: Người
Dân số năm
2012
48,810,427
100%
Trong đó : Từ 0 đến 14
tuổi
13.910.971
28.5%
Từ 15 đến 64
tuổi
32.141.666
65.8%
Năm2012
Xuất
khẩu
115.666.
903
147.167
.936
378.315
.804
494.061.
977
80,173
Nhập
khẩu
73.222.
692
137.195
.577
126.899
.646
165.146.
754
835,21
Tổng
188.889.
595
284.363
.513
505.215
.450
với nhu cầu sản phẩm đa dạng, trong đó có một số mặt hàng Việt Nam có thế mạnh
như gạo, dệt may, linh kiện, phụ tùng xe máy. Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu của
ta vào thị trường này mấy năm trở lại đây luôn tăng trưởng liên tục và diện mặt hàng
không ngừng được mở rộng.
Về đối ngoại: Là thành viên của Cộng đồng kinh tế Tây phi (ECOWAS); WTO
và một trong những nước đề xuất ra Sáng kiến đối tác mới vì sự phát triển châu Phi
(NEPAD), Senegal chủ trương đẩy mạnh hội nhập khu vực và thống nhất mức thuế
xuất trong khu vực. Đồng thời Senegal cũng là thành viên Liên hợp quốc, UA (trước
là OUA), KLK, ICO, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp và hàng chục tổ
chức quốc tế và khu vực khác.
Giao thông và Liên lạc: tương đối phát triển, có hệ thống sân bay phát triển
mạnh. Senegal có cơ sở hạ tầng vận tải (cảng biển, sân bay, đường sá) và viễn thông
vào loại tốt nhất Tây Phi. Hệ thống ngân hàng phát triển với số lượng các ngân hàng
uy tín lớn thứ hai trong tiểu vùng, chỉ đứng sau Bờ Biển Ngà.
Về văn hóa xã hội: Senegal có nhiều nhóm sắc tộc khác nhau và vì thế có nhiều
ngôn ngữ được sử dụng tại nước này. Người Wolof là nhóm sắc tộc lớn nhất tại
Senegal chiếm 43% dân số; người Serer (15%) là nhóm đứng thứ hai, tiếp sau là các
nhóm sắc tộc khác gồm Fula (24%), Lebou (10%), người Jola (4%),
người Mandinka (3%), Toucouleur, Soninke, Bassari, ngoài ra còn có nhiều cộng
đồng sắc tộc nhỏ khác nữa. Khoảng 50.000 người Châu Âu (chủ yếu là người Pháp),
một số người Mauritani và người Li ban hiện đang sống tại Senegal, chủ yếu trong
các thành phố. Đa phần các dân tộc sử dụng cả ngôn ngữ của riêng mình, như
ngườiWolof, và những người lai Bồ Đào Nha/da đen nói các loại ngôn ngữ Bồ Đào
Nha Creole.
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 14
Hồi giáo là tôn giáo chính ở nước này với khoảng 94% dân số là tín đồ; cộng
đồng Thiên chúa giáo chiếm 4% dân số gồm Cơ đốc giáo La Mã các phái Tin
2009
2010
2011
GDP (ppp)
23.46 tỷ USD
28.48 tỷ USD
25.4 tỷ USD
Tăng
GDP
2.2%
4.2%
4%
GDP theo đầu
ngƣời
10,800
10,900
10,900
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Senegal:
Kim ngạch xuất
khẩu
2.053 tỷ
USD
2.515 tỷ
USD
Mặt hàng chính
Cá, lạc (đậu phộng), sản phẩm dầu mỏ, phốt phát, bông
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 16
Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương, chính sách phát triển quan hệ kinh
tế, thương mại, nông nghiệp với các nước châu Phi trong đó có Senegal. Trong thập
kỷ 90, Việt Nam và Senegal đã triển khai chương trình hợp tác nông nghiệp với sự tài
trợ của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO).
Bộ Công Thương cũng xác định đây là thị trường có nhiều triển vọng xuất khẩu
và thời gian qua tập trung vào các hoạt động tuyên truyền quảng bá về thị trường này.
Nhờ vậy, doanh nghiệp trong nước ngày càng biết đến những tiềm năng kinh tế,
thương mại của Senegal, đặc biệt là tạo điều kiện cho doanh nghiệp hai bên giao dịch
trực tiếp, giảm bớt chi phí trung gian.
Về phần mình, Chính phủ và nhân dân Senegal có nhiều thiện cảm . Phía bạn
đánh giá cao sự giúp đỡ của Việt Nam trong việc phát triển nông nghiệp Senegal
trong khuôn khổ thỏa thuận hợp tác ba bên Việt Nam-FAO-Senegal.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Senegal:
Năm
Tổng kim
ngạch
Nhập khẩu
Xuất khẩu
2005
42.64
0.75
41.89
2006
10.93
1.45
9.48
2007
15.98
2
, dân số 18,056,072 người (tính đến tháng
7/2012) là quốc gia nằm ở phía tây nam Châu phi.
Địa hình nước Angola chủ yếu là đồi núi, độ cao trung bình là 1000m (cao nhất
là núi Môco 2.620 m) so với mặt nước biển. Khí hậu chia thành 2 vùng nhiệt đới ẩm
(phía bắc) và nhiệt đới sa mạc (phía nam), với 2 mùa khá rõ (mùa hè bắt đầu từ tháng
10 và mùa đông bắt đầu từ tháng 4 hàng năm), nhiệt độ trung bình cao nhất khoảng
24-26ºC và thấp nhất khoảng 14-16ºC. Angola có nhiều nguồn nước và sông ngòi, lớn
nhất là các sông Kwanza, Zaire, Cunene và Cubango.
Nền kinh tế Angola đang từng bước được tái thiết sau 20 năm nội chiến, tốc độ
tăng trưởng cao và lạm phát được được kiểm soát (từ 325% năm 2000 xuống còn
18% năm 2005). Tuy nhiên đến nay Angola vẫn là 1 quốc gia nghèo và lạc hậu. Nông
nghiệp thu hút đến 85% dân số nhưng chỉ tạo ra 8% của cải xã hội.
Tuổi thọ trung bình của người dân chưa đến 40 tuổi (2006) do đói nghèo, bệnh
tật Nền kinh tế đất nước dựa chủ yếu vào sản xuất dầu mỏ. Ngoài ra, Angola cũng sở
hữu nhiều mỏ vàng, kim cương, sắt, phốt phất, boxít và uranium.
Về giao thông liên lạc: Angola có các cảng biển như: Soyo, Lobito.
Đối ngoại: Là thành viên của LHQ, AU, SADC, COMESA, ACP, PALOP,
WTO, AfDB, IMF, WB…
Angola theo đường lối không liên kết, thực dụng, ưu tiên quan hệ với các nước
nói tiếng Bồ và các nước khu vực, đặc biệt là miền Nam châu Phi, tranh thủ quan hệ
với Mỹ, Tây Âu, Nhật bản, Trung Quốc, duy trì quan hệ với các nước bạn bè truyền
thống.
Hiện nay Việt Nam và đất nước angola có Đại sứ quán tại cả hai nước.
- Về văn hóa – xã hội:
Khi gặp đối tác, việc chào mừng cần theo đúng nghi thức, lịch sự và bao gồm
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 18
chức vụ cao hơn bạn hoặc người lớn tuổi hơn là vi phạm nghiêm trọng về nghi thức
trong giao tiếp kinh doanh ở Angola.
Người Angola thường sử dụng cử chỉ đầu và cánh tay để nhấn mạnh thông điệp
muốn nói và thích sử dụng hình ảnh minh họa. Người Angola thích đứng gần khi trò
chuyện, nếu bạn lùi lại thì họ có thể lại tiến đến gần hơn để nói chuyện.
Khi nói chuyện với một người đồng cấp, ánh mắt nhìn thẳng có nghĩa rằng
bạn là người chân thành. Khi nói chuyện với một người cấp cao hơn bạn về độ tuổi
hoặc vị trí, ánh mắt gián tiếp thể hiện sự tôn trọng.
Tránh làm thảo luận về kinh doanh trong các sự kiện mang tính xã hội. Người
Angola có xu hướng tách bạch kinh doanh với đời sống xã hội của họ.
- Về kinh tế:
Công nghiệp chiếm 65,8% GDP của Angola, với nhiều ngành khác nhau, trong
đó khai khoáng đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Các sản phẩm công nghiệp chủ
yếu của Angola là dầu mỏ, vàng, kim cương, sắt, phốt phất, boxít, uranium, ximăng,
các kim loại cơ bản, chế biến cá và thức ăn, thuốc lá, đường, dệt may, sửa chữa tàu
Trong đó dầu lửa chiếm tới 90% giá trị xuất khẩu của Angola.
Nông nghiệp thu hút tới 85% lao động nhưng chỉ đóng góp khoảng 9,6% vào
GDP của Angola và hàng năm Angola vẫn phải nhập khẩu 1 nửa lượng lương thực
phục vụ cho nhân dân. Angola chỉ sản xuất các loại nông sản chính như chuối, mía,
cà phê, xi đan, ngô, bông, sắn, thuốc lá, rau, lâm sản, hải sản, cây mã đề, vật
nuôi…Do đó, gạo là mặt hàng mà Angola phải nhập khẩu.
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 20
Chỉ tiêu kinh tế:
2009
2010
Mặt hàng chính
Dầu thô, kim cương, sản phẩm dầu hỏa tinh khiết, cà
phê, cây xidan, cá và sản phẩm về cá, gỗ xây dựng, cotton
Kim ngạch nhập
khẩu
18.34 tỷ
USD
24.76 tỷ
USD
Mặt hàng chính
Máy móc và thiết bị điện, phương tiện và các bộ
phận thay thế, thuốc, thực phẩm, dệt may, sản phẩm quân
sự
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 21
Cấu trúc dân số của Angola Đơn vị tính: người
Dân số năm 2012
18,056,072
100%
Trong đó : Từ 0 đến 14 tuổi
7.926.616
43.9%
Từ 15 đến 64 tuổi
đến cuối năm 2008, thời gian thông quan trung bình vẫn là một tháng và nhà nhập
khẩu thường phải đối mặt thêm với một số sự chậm trễ, thường là do hạn chế về
năng lực của cảng Luanda. Ví dụ, một số công-ten-nơ hàng hóa ở phía trong đã được
thông quan nhưng không thể chuyển ra được do vướng những công-ten-nơ khác
chưa thông quan ở bên ngoài.
Việc nhập khẩu một loại hàng hoá vào Angola yêu cầu cần có giấy phép nhập
khẩu do Bộ Thương mại Angola cấp. Giấy phép nhập khẩu có thể được gia hạn hàng
năm và có giá trị đối với tất cả các lô hàng, chủng loại hàng hoá tương ứng của nhà
nhập khẩu có giấy phép đó.
2.2 Tiến hành phân tích, đánh giá chọn lựa quốc gia thị trường mục tiêu
2.2.1 Tính toán một số chỉ tiêu so sánh:
2.2.1.1 Chỉ tiêu dân số (khách hàng tiềm năng)
Thị trường khách hàng tiềm năng mà Doanh nghiệp hướng tới là dân số có độ
tuổi từ 15-65 (tính cho năm 2012) do ở độ tuổi này thì dân số dùng gạo là lương thực
chủ yếu trong các bữa ăn.
2.2.1.1.1 Thị trường Nam phi:
Dân số có độ tuổi từ 15-65 (tính cho năm 2012): 32.141.666 người, chiếm 65.8%
dân số.
Vậy số khách hàng tiềm năng là: 32.141.666 người.
2.2.1.1.2 Thị trường Senegal:
Dân số có độ tuổi từ 15-65 tính năm 2012 là 5.462.121 người, chiếm 43.2%.
Chiến lược Marketing quốc tế GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường
HVTH Huỳnh Tuấn Cường Trang 23
Vậy số khách hàng tiềm năng là: 5.462.121 người.
2.2.1.1.3 Thị trường Angola :
Dân số có độ tuổi từ 15-65 (tính cho năm 2012) : 9.605.830 người, chiếm 53,2%
dân số.
Vậy số khách hàng tiềm năng là: 9.605.830 người.
2.2.2 Đánh giá về Chỉ số:
Ta đánh giá mức độ ảnh hưởng của văn hóa xã hội có tầm quan trọng hơn quan
hệ xuất nhập khẩu và tốc độ phát triển GDP của quốc gia. Vì gạo là mặt hàng thiết
yếu, với mức thu nhập trung bình như hiện nay, các gia đình hoàn toàn có khả năng sử
dụng gạo thay thế cho các loại ngũ cốc như trước đây. Đồng thời với thói quen tiêu
dùng cũng chịu tác động rất nhiều từ văn hóa, do đó dù thu nhập có tăng lên thì thói
quen này cũng không thay đổi. Bên cạnh đó, việc xây dựng mối quan hệ giao thương
từ trước nay, khả năng trao đổi cung ứng hàng hóa cũng là yếu tố quan trọng cho mối
quan hệ lâu dài. Đồng thời lượng khách hàng tiềm năng cũng là một trong những yếu
tố quan trọng cho việc lựa chọn quốc gia mục tiêu. Chỉ tiêu cuối cùng cho việc đánh
giá sự hấp dẫn của thị trường là tốc độ tăng trưởng GDP. Tương ứng ta đánh trọng số
lần lược cho 4 yếu tố Văn hóa – xã hội: khách hàng tiền năng : giá trị xuất nhập khẩu :
GDP và tăng trưởng GDP lần lược là 0.6: 0.2 : 0.1 : 0.1 và tiến hành đánh giá với
thang điểm 1000 cho các chỉ tiêu: (dự vào yếu tố tổng quan tình hình văn hóa – xã
hội và tình hình kinh tế trên):
Stt
Quốc gia
Văn hóa
–xã hội
Khách
hàng
tiềm
năng
Giá trị
xuất
nhập
khẩu
GDP&tăng
trưởng
0.1
0.1
1
2.2.3 Đánh giá và chọn thị trường quốc gia mục tiêu
Như vậy, với thị trường Nam phi ưu thế về số lượng khách hàng tiềm năng, cũng
như khả năng về sức mua và việc xuất nhập khẩu thuận lợi đã chứng tỏ thị trường tốt
nhất trong 3 quốc gia chọn.
3. XÁC ĐỊNH CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP
3.1 Một số chiến lược thâm nhập phù hợp
Chiến lược xâm nhập thị trường liên quan đến thời gian khi tiến vào một thị
trường. Về cơ bản có 3 chiến lược thâm nhập thị trường đó là: là người đầu tiên trên
thị trường; là một trong những người xâm nhập sớm; là người đến sau.
3.2 Chiến lược thâm nhập thị trường của Doanh Nghiệp.
Đối với mặt hàng gạo, đã trải qua thời gian dài, các công ty và doanh nghiệp
Việt Nam xuất sang thị trường này nên ta sử dụng chiến lượt là người đến sau.
Chiến lược xâm nhập-theo sau (Laggard-Entry Strategy)
Chiến lược xâm nhập theo sau là chiến lược tiến vào thị trường theo sau đuôi của
giai đoạn phát triển hoặc trong giai đoạn bão hoà của thị trường. Có hai dạng xâm
nhập theo sau, đó là : xâm nhập như là người bắt chước hoặc như là người khởi
xướng. Xâm nhập bắt chước là nhà xâm nhập tung sản phẩm có những đặc tính giống
như sản phẩm đã có trước đó. Còn xâm nhập khởi xướng là việc đổi mới, biến sản
phẩm thành một sản phẩm hoàn toàn mới vào thị trường. Xâm nhập theo kiểu bắt
chước thường không tồn tại được lâu. Xâm nhập khởi xướng có rất nhiều lợi ích vốn
có, tạo ra khả năng lợi nhuận lớn khi theo đuổi chiến lược này. Những lợi ích đó là: sự
sẵn có của khoa học công nghệ mới nhất, khả năng giành được những điều kiện tốt