DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ, công chức
CNTT : Công nghệ thông tin
CQT : CQT
DN : Doanh nghiệp
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
ĐTNT : Đối tượng nộp thuế
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GTGT : Giá trị gia tăng
NNT : Người nộp thuế
NQD : Ngoài quốc doanh
NSNN : Ngân sách Nhà nước
MST : Mã số thuế
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development),
QLT : Quản lý thuế
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TNCN : Thu nhập cá nhân
TTĐB : Tiêu thụ đặc biệt
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Để ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ, Cục Thuế rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của Ông/Bà về các nội dung: 7
Để ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ, Cục Thuế rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của Ông/Bà về các nội dung: 7
ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
1. Sơ đồ
Để ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ, Cục Thuế rất mong
Mục đích của quản lý thuế nhằm đảm bảo cho cơ quan quản lý thuế thực hiện
tốt trách nhiệm quản lý thuế, người nộp thuế nộp đúng, nộp đủ, nộp kịp thời
tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước; bảo đảm công bằng nghĩa vụ, quyền lợi
hợp pháp của người nộp thuế.
1
Nền kinh tế càng phát triển, các mối quan hệ kinh tế càng đa dạng,
phức tạp thì yêu cầu đối với quản lý thuế ngày càng cao.
Bắc Ninh là tỉnh mới được tái lập lại từ năm 1997, tuy là một tỉnh nhỏ,
song với tiềm năng, thế mạnh về địa lý, về truyền thống kinh tế làng nghề, về
con người của một vùng địa linh nhân kiệt đã nhanh chóng hoà cùng với cả
nước tạo thế, tạo đà vững bước phát triển. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh
Bắc Ninh lần thứ XVIII đã đề ra hướng phấn đấu đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh
công nghiệp vào năm 2015, sớm hơn cả nước 5 năm. Cho nên tốc độ đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh tăng mạnh, nhu cầu chi tiêu, cũng như giao dự
toán thu Ngân sách của tỉnh ngày càng cao. Bên cạnh đó công tác quản lý
thuế hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế như: Chính sách thuế chưa rõ ràng,
chưa quản lý hết người nộp thuế, đối tượng chịu thuế, tổ chức bộ máy cơ quan
thuế còn hạn chế, tình trạng nợ đọng thuế gia tăng, thực hiện các chức năng
quản lý thuế còn hạn chế , cho nên đòi hỏi công tác quản lý thu thuế đạt hiệu
quả càng cấp thiết.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sĩ kinh tế,
chuyên ngành quản lý kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá công tác quản lý thuế từ đó đề xuất một số giải pháp
chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế, công tác
quản lý thuế và hiệu quả quản lý thuế.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Hiệu quả công tác quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh.
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh
Bắc Ninh.
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THUẾ
1.1. Khái quát chung về thuế
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế
Thuế ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay thuế đã trải
qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm thuế cũng không ngừng
được hoàn thiện.
Theo các nhà kinh điển: “Thuế là cái mà nhà nước thu của dân nhưng
không bù lại” và “Thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy
ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được
lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đưa
ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng về thuế. Theo tác giả “Thuế
là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực
tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực
nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Theo thời gian, khái niệm cổ
điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa hoàn thiện như sau:”Thuế là một
khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do
các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm
bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh
tế - xã hội của Nhà nước”.
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra các khái niệm thuế
như sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của
Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác
định của Nhà nước. Trái với các khoản vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp.
5
Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoán cụ thể, không hoàn
trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện
các chức năng quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Khi nghiên cứu khái niệm về thuế phải hiểu trên hai giác độ: Thuế vừa
là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và
thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội hay
công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế; Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khi các Nhà
nước hình thành, song các lý luận về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn
chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế.
1.1.2. Phân loại thuế
1.1.2.1. Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế.
Theo cách phân loại truyền thống đã hình thành từ rất lâu, thuế được
chia thành hai loại: Thuế trực thu và thuế gián thu; Sự phân loại này phụ
thuộc vào đối tượng đánh thuế, mối quan hệ tương hỗ giữa NNT và nhà nước.
- Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp lên một khoản thu nhập (tiền
lương, lợi nhuận, lợi tức ) hoặc tài sản (ruộng đất, nhà cửa, chứng khoán )
của NNT.
- Thuế gián thu là một loại thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ và được ấn
định dưới hình thức một khoản phụ thêm được cấu thành trong giá cả hàng
hoá, dịch vụ nhằm điều tiết một phần thu nhập của người tiêu dùng.
Khi áp dụng hình thức thuế gián thu, mối quan hệ giữa NNT và nhà
nước được thể hiện một cách gián tiếp.
1.1.2.2. Phân loại theo đối tượng đánh thuế
Phân loại theo đối tượng đánh thuế, hệ thống thuế bao gồm các loại:
- Thuế đánh vào hàng hóa: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, nhập
khẩu, thuế giá trị gia tăng.
- Thuế đánh vào thu nhập, như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu
hướng của Nhà nước.
7
Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc là chính sách thuế phải
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ; Do vậy, bằng các
sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau, Nhà
nước điều chỉnh quy mô đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực khác nhau.
Thực hiện cân đối hàng - tiền, cân đối cung cầu ở tầm vĩ mô, hình
thành cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ giữa Trung
ương và Địa phương đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng tích lũy trong toàn
bộ nền kinh tế quốc dân; Đây là điều kiện quan trọng ổn định để thúc đẩy tốc
độ phát triển của nền kinh tế.
Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước xác định đúng đắn cơ cấu và quan
hệ giữa các sắc thuế, quy định chính xác, hợp lý đối tượng nộp thuế, chế độ
miễn giảm, phương pháp quản lý thuế để đảm bảo việc thu đúng thu đủ đồng
thời khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết
cho xã hội, khuyến khích những thành phần kinh tế cần thiết, các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời hạn chế, thu hẹp những
ngành nghề, những mặt hàng cần thiết phải hạn chế kể từ sản xuất đến tiêu
dùng xã hội theo định hướng của chiến lược phát triển kinh tế của Đảng, Nhà
nước có lợi cho quốc kế dân sinh.
Thuế góp phần khuyến khích việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
môi trường sinh thái đồng thời khuyến khích việc khai thác, sử dụng một cách
tiết kiệm có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vật tư trong nước.
Bằng các quy định phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế,
Thuế không những khuyến khích được hoạt động xuất khẩu hàng hoá nội
địa, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời thuế đã tạo điều kiện tốt
cho quan hệ hợp tác quốc tế trong khu vực và quốc tế. Mở rộng, phát triển
đầu tư hợp tác quốc tế thông qua chính sách khuyến khích đầu tư và xuất
nhập khẩu.
8
chức trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành
chính Nhà nước. Quản lý hành chính là sự tác động của cơ quan hành chính
Nhà nước và con người hoặc các mối quan hệ xã hội để đạt được các mục tiêu
của Chính phủ. Tiếp cận dưới góc độ thực thi quyền lực Nhà nước thì quản lý
hành chính là thực thi quyền hành pháp của Nhà nước. Tiếp cận dưới góc độ
công việc cụ thể thì quản lý hành chính là điều chỉnh hành vi con người, hành
vi xã hội và tổ chức thi hành pháp luật đã ban hành.
Từ những cách hiểu như trên về quản lý hành chính, theo tác giả thì
quản lý thuế được hiểu là việc chủ thể quản lý thuế áp dụng các chức năng,
quy trình quản lý thuế tác động vào đối tượng quản lý thuế nhằm đạt được kết
quả mong muốn hoặc mục tiêu đặt ra, tức là quản lý thuế là hoạt động tác
động và điều hành hoạt động đóng thuế của người nộp thuế.
Chức năng, quy trình quản lý thuế được xây dựng dựa trên quy định
của pháp luật về thuế hiện hành và các quy định khác có liên quan trong đó
nêu rõ nhiệm vụ, nội dung, trình tự xử lý công việc theo quy định của Luật
quản lý thuế.
1.1.2. Chủ thể và đối tượng quản lý thuế
1.1.2.1. Chủ thể quản lý thuế
Chủ thể trực tiếp là các tổ chức, cơ quan nhà nước tham gia trực tiếp
vào quá trình hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra thuế bao gồm: Bộ tài
chính, Tổng cục thuế, Tổng cục hải quan, Kho bạc nhà nước, Ủy ban nhân
dân, Hội đồng nhân dân các cấp, Cục Thuế các tỉnh, thành phố, Chi cục Thuế
các huyện, thị xã, thành phố, Hội đồng tư vấn thuế xã, phường.
Chủ thể gián tiếp là các tổ chức, cơ quan nhà nước tham gia gián tiếp
vào quá trình hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra công tác đăng ký, kê khai,
tính thu nộp, quyết toán và thanh tra, kiểm tra. Bao gồm: các cơ quan Nhà
nước có chức năng phối hợp với CQT trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp
10
luật về thuế, phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc quản lý thuế; tạo
Tuyên truyền hỗ trợ NNT là nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan Thuế các
cấp; Cơ quan thuế có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền - hỗ
trợ, phổ biến chính sách pháp luật về thuế cho người nộp thuế, người dân và
các cơ quan, tổ chức khác trên địa bàn quản lý, thực hiện cải cách thủ tục
hành chính thuế tại bộ phận một cửa của CQT. Mục đích của công tác tuyên
truyền, hỗ trợ NNT là nhằm giúp NNT kịp thời hiểu chính sách, pháp luật
thuế để thực hiện cho đúng, đồng thời tránh rủi ro cho NNT.
Tuyên truyền hỗ trợ chính sách, pháp luật thuế được thực hiện dưới
nhiều hình thức như: Tuyên truyền qua hệ thống Tuyên giáo; Tuyên truyền
qua tờ rơi, ấn phẩm, pano, áp phích; Tuyên truyền trên các phương tiện thông
tin đại chúng; Tuyên truyền qua trang thông tin điện tử và các hình thức
truyên truyền khác; Tổ chức tập huấn, đối thoại với NNT; Xây dựng và cấp
phát tài liệu hỗ trợ NNT; Giải đáp các vướng mắc về thuế cho NNT bằng hình
thức trực tiếp tại bộ phận một cửa, qua điện thoại hoặc bằng văn bản; Khảo
sát, thăm dò ý kiến về nhu cầu hỗ trợ của NNT để có định hướng cho công tác
hỗ trợ. Ngoài ra còn tổng hợp đề nghị khen thưởng, tuyên dương và tôn vinh
người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế với Ngân sách Nhà nước và
các tổ chức, cá nhân khác ngoài ngành thuế có thành tích xuất sắc trong việc
tham gia công tác quản lý thuế.
1.2.3.2. Đăng ký thuế, kê khai thuế
Đăng ký thuế là việc NNT kê khai những thông tin của NNT theo mẫu
quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa
vụ về thuế với Nhà nước theo các qui định của pháp luật.
Sau khi nguời nộp thuế thực hiện kê khai đầy đủ, chính xác các chỉ tiêu
theo mẫu quy định, CQT kiểm tra đối chiếu thông tin NNT do cơ quan đăng
kí kinh doanh cung cấp và tiến hành cấp cho NNT một mã số thuế. Mã số
thuế là một chuỗi các dãy số được quy định theo một trật tự nhất định, mã số
thuế thể hiện tất cả các thông tin đến việc đăng kí thuế trên hệ thống dữ liệu
12
CQT và được cấp cho duy nhất một NNT, được thể hiện trên mọi văn bản
thuế, thông tin kê khai thuế của NNT trong hệ thống dữ liệu của CQT và
những thông tin liên quan trong việc xác định sự tuân thủ pháp luật về thuế
của NNT, xác định và phân loại NNT có rủi ro về thuế, khai sai, khai thiếu
thuế để từ đó có cơ sở yêu cầu NNT khai điều chỉnh, bổ sung hồ sơ khai thuế
hoặc ra Quyết định kiểm tra tại trụ sở NNT; Việc kiểm tra tại trụ sở CQT
được thực hiện thường xuyên, liên tục.
Trường hợp những NNT có khả năng vi phạm các quy định pháp luật về
thuế, NNT không tuân thủ đầy đủ các quy định trong việc đăng ký thuế, kê khai
thuế, nộp thuế và chấp hành các quyết định của CQT như quyết định ấn định
thuế, quyết định cưỡng chế thuế hoặc NNT có đề nghị hoàn thuế, các thông tin
trong việc kiểm tra việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT tại trụ sở CQT không
có đầy đủ thông tin, tài liệu, thì CQT sẽ tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT.
Kiểm tra tại trụ sở NNT được thực hiện theo Quyết định kiểm tra của
Thủ trưởng CQT. Căn cứ hồ sơ, tài liệu NNT đã báo cáo CQT và các chứng
từ, tài liệu lưu giữ tại trụ sở NNT, đối chiếu với tình hình thực tế sản xuất,
kinh doanh, CQT tiến hành so sánh, đối chiếu tìm ra những hành vi vi phạm
của NNT để xử lý theo qui định của Pháp luật thuế.
Khi kiểm tra thuế với phạm vi hẹp không kiểm tra toàn diện việc chấp
hành pháp luật về thuế của NNT, CQT thực hiện thanh tra thuế với phạm vi
rộng hơn nhằm phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế của NNT.
Thanh tra thuế có thể thực hiện theo kế hoạch, CQT xây dựng hàng năm
hoặc theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền và được thực hiện tại trụ sở NNT.
1.2.3.4. Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
Việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT đối với Nhà nước mang tính
chất bắt buộc, song việc chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT còn phụ thuộc vào
sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT; Do vậy, trong nội dung chức năng của
quản lý thuế thì quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế là một nội dung quan trọng
trong việc động viên số tiền thuế phát sinh kịp thời vào NSNN.
14
Quản lý nợ thuế là công tác kiểm tra, đối chiếu, so sánh số thuế NNT
lý thuế như:
Phần mềm quản lý hồ sơ khai thuế (QHS): Tất cả các hồ sơ khai thuế
của NNT gửi cho cơ quan thuế được tiếp nhận vào phần mềm để theo dõi, tra
cứu rất thuận tiện.
Phần mềm quản lý thuế (QLT): Các dữ liệu về thuế của NNT kê khai
trên tờ khai, sau khi quét mã vạch, hoặc được nhập từ tờ khai vào hệ thống, số
liệu được nhập vào phần mềm QLT, giúp cho CQT theo dõi, xử lý, báo cáo,
phân tích tình hình thu, nộp thuế đầy đủ, kịp thời nhanh chóng.
Phần mềm hỗ trợ kê khai thuế (HTKK): Được cung cấp miễn phí cho
NNT để khai các loại thuế theo mẫu biểu quy định rất thuận thiện, đồng thời
tờ khai tích hợp mã vạch hai chiều, CQT chỉ cần dụng thiết bị quét mã vạch là
nhận được số liệu. Ngoài ra còn ứng dụng rất nhiều phần mềm phục vụ cho
công tác quản lý thuế: Hệ thống quản lý NNT (TIN), Khai thuế qua mạng,
Phần mềm đăng ký thuế TNCN, Quản lý công văn (QLCV), Thanh tra, kiểm
tra, Quản lý nợ.v.v
Hiện nay, người nộp thuế ngày càng tăng, cơ sở dữ liệu của ngành thuế
ngày càng nhiều, vì vậy đòi hỏi ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế
ngày càng phải được hiện đại hóa, nâng cấp thì mới đáp ứng được yêu cầu.
1.2.4. Vai trò của quản lý thuế
1.2.4.1. Bảo đảm thu đúng, thu đủ thu kịp thời, động viên nguồn thu vào
NSNN, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế
Như đã phân tích ở trên vai trò của thuế là nguồn thu chính cho NSNN,
với cơ chế NNT tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật hiện nay
thì quản lý thuế có vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường sự tuân thủ
pháp luật về thuế của NNT.
16
Để thực hiện mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào NSNN thì
quản lý thuế với những yếu tố như: Tính ổn định, minh bạch, rõ ràng của quy
trình và thủ tục tuân thủ thuế như các quy trình tuyên truyền, hỗ trợ, đăng ký,
kê khai, nộp thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
thực hiện theo từng nội dung quy định trong mỗi quy trình và được theo dõi,
phân tích, kiểm tra và xử lý vi phạm khi NNT có hành vi vi phạm. Do vậy,
việc thực hiện tốt quản lý thuế có vai trò giáo dục, uốn nắn, hướng NNT tuân
thủ pháp luật về thuế nói riêng và pháp luật của Nhà nước nói chung.
1.3. Hiệu quả quản lý thuế
1.3.1. Khái niệm về hiệu quả quản lý thuế
Theo tác giả, hiệu quả quản lý thuế là việc thực hiện các chức năng của
quản lý thuế mang lại kết quả mong muốn hoặc đạt được mục tiêu đã đặt ra
với mức chi phí quản lý thuế thấp nhất; Chi phí quản lý thuế bao gồm chi phí
tuân thủ của NNT và chi phí tiến hành các hoạt động quản lý thu của CQT.
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế thực chất là việc đánh giá việc giải
quyết mối quan hệ giữa người nộp thuế và Nhà nước, mối quan hệ này được
thể chế hoá thành các luật thuế, các quy trình quản lý thuế; Trong đó, người
nộp thuế có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước khi
phát sinh nghĩa vụ thuế; Đồng thời, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình
yêu cầu người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT đối với Nhà nước.
Từ việc tổ chức bộ máy quản lý thuế, đến việc sử dụng các công cụ và
phương pháp thích hợp yêu cầu người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế của
mình với chi phí bỏ ra quản lý là thấp nhất, đồng thời NNT tuân thủ pháp luật
về thuế với chi phí tuân thủ thấp nhất, thời gian giải quyết thủ tục hồ sơ về
thuế thấp nhất và mức độ hài lòng cao nhất về chất lượng phục vụ của CQT.
Có thể thấy rằng, quản lý thuế truyền thống coi tổ chức, cá nhân nộp
thuế là đối tượng quản lý của CQT, nhưng quản lý thuế hiện nay đã nhấn
18
mạnh muốn đạt được hiệu quả quản lý thuế cần phải xem xét tổ chức, cá nhân
nộp thuế là khách hàng của CQT; Vì vậy, hiện nay yếu tố môi trường định
hướng hoạt động quản lý thuế ở hầu hết các quốc gia là khách hàng - NNT và
mức độ tuân thủ nghĩa vụ thuế của họ.
NNT là khách hàng của CQT và là một nhân tố môi trường quan trọng
nhất mà CQT phải quan hệ, tất cả những hoạt động của CQT để đảm bảo
quản lý thuế phải thống nhất từ trung ương đến địa phương, bảo đảm hiệu lực
của cả hệ thống trong quá trình triển khai hệ thống chính sách thuế mới.
Công chức thuế là người thi hành pháp luật về thuế, một hệ thống thuế
hoạt động hiệu quả ngoài công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
thuế, thì việc chính sách, pháp luật thuế có hiệu quả trong thực tế hay không
phụ thuộc rất lớn vào quá trình triển khai, tổ chức thi hành pháp luật mà công
chức thuế chính là người làm việc trực tiếp với người nộp thuế. Công chức
thuế có thể giải thích, tư vấn, hỗ trợ người nộp thuế từ việc tìm hiểu, nghiên
cứu pháp luật về thuế, đến việc chấp hành các quy định trong các văn bản
pháp luật về thuế, thực hiện đầy đủ các quy định trong quy trình quản lý thuế.
Đồng thời, qua việc thi hành pháp luật về thuế, sau quá trình kiểm tra, đánh
giá, so sánh với thực tế triển khai, công chức thuế chính là người rút ra những
kinh nghiệm, những hạn chế trong quản lý thuế; Từ đó, góp ý, đề xuất sửa đổi
các quy định pháp luật về thuế hiện hành cho phù hợp với tình hình thực tế.
Năng lực toàn diện của các cán bộ quản lý thuế phải được nâng cao về
quan điểm, lập trường, đạo đức, về trình độ nghiệp vụ thuế, về khả năng tổ
chức quản lý, thông thạo về kế toán, kiểm toán, có trình độ ngoại ngữ, biết sử
dụng vi tính phù hợp với sự phát triển của ngành và đáp ứng được yêu cầu
quản lý ngày càng cao trong tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
ngày càng đa dạng và phức tạp.
Đội ngũ cán bộ quản lý thuế tinh giản, có trình độ, có đạo đức sẽ là cơ
sở nền tảng cho quản lý thuế tốt. Do vậy, xây dựng nguồn nhân lực cho tổ
chức bộ máy ngành thuế là một công việc rất quan trọng. Xây dựng nguồn
20
nhân lực gồm có các công việc phân tích đánh giá nhu cầu về nhân lực, tuyển
dụng, bố trí nguồn nhân lực, đánh giá nguồn nhân lực, chế độ đãi ngộ, đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực. Công tác xây dựng nguồn nhân lực lại phụ
thuộc rất lớn vào mô hình tổ chức bộ máy ngành thuế, cơ chế quản lý thuế,
khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý; Để đánh giá so sánh về
nguồn nhân lực trong ngành thuế, người ta có thể sử dụng nhiều tiêu thức để
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là công cụ quan trọng của CQT trong thi
hành nhiệm vụ, nếu làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra thì hiệu quả quản lý thuế
sẽ thấy rõ; Bởi vì, NNT được thực hiện tự khai, tự nộp thuế, trong khi đó không
phải NNT nào cũng có ý thức tự giác khai đúng, khai đủ thuế nộp vào NSNN, do
đó cần phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra nhằm uốn nắn, cảnh báo
NNT đồng thời góp phần tăng thu cho NSNN qua việc truy thu thuế, xử phạt vi
phạm hành chính thuế do NNT khai sai, khai thiếu, vi phạm pháp luật thuế.
1.3.2.5. Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
Trong công tác quản lý thuế không tránh khỏi NNT nợ tiền thuế do
nhiều nguyên nhân như: NNT quên không nộp thuế đúng hạn, NNT cố tình
nợ tiền thuế để sử dụng mục đích khác, chiếm dụng tiền thuế, gặp rủi do trong
kinh doanh.v.v Do đó phải có bộ phận theo dõi thông tin nộp thuế của NNT,
phân tích tình trạng nợ đọng thuế của NNT để kịp thời đôn đốc NNT hoặc
thực hiện các biện pháp cưỡng chế nộp thuế. Nếu làm tốt công tác quản lý nợ
và cưỡng chế nợ, thực hiện theo đúng quy trình, xử lý phạt chậm nộp tiền
thuế nghiêm, áp dụng biện pháp cưỡng chế đúng trình tự sẽ hạn chế số thuế
nợ, làm lành mạnh và đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của
NNT, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế.
1.3.2.6. Công nghệ thông tin
Khối lượng công việc quản lý hành thu thuế là rất lớn, chi phí rất cao
và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu ngân sách nhà nước. Phương pháp
càng tiến bộ thì kết quả quản lý thu thuế càng cao. Do vậy, việc ứng dụng
22