DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nguyên nghĩa
BCĐ Ban chỉ đạo
BHYT Bảo hiểm y tế
CCB Cựu chiến binh
CNH-HĐH Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
CN-TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
DĐĐT Dồn điền đổi thửa
GTSX Giá trị sản xuất
GTVT Giao thông vận tải
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
KHKT Khoa học kỹ thuật
MTTQ Mặt trận tổ quốc
MTQG Mục tiêu quốc gia
NN-ND-NT Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn
NTM Nông thôn mới
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTNT Phát triển nông thôn
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCQG Tiêu chí quốc gia
THCS Trung học cơ sở
UBND Uỷ ban nhân dân
VH - TT - DL Văn hoá - Thể thao - Du lịch
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
3.2.1. Hoàn chỉnh Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: 54
3.2.1. Hoàn chỉnh Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: 54
3.2.2. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn 55
3.2.2. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn 55
3.2.3. Hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hoá và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất
thôn có thêm việc làm, thu nhập được nâng cao góp phần xoá đói giảm nghèo.
Hệ thống chính trị ở nông thôn luôn có nhiều chuyển biến, tiến bộ; dân chủ cơ
sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,
lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém bền
vững, thiếu quy hoạch, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh
tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; kết cấu hạ
tầng kinh tế- xã hội còn yếu kém, thiếu đồng bộ; môi trường ngày càng ô
1
nhiễm. Đô thị hoá nông thôn còn tự phát, cảnh quan bị phá vỡ; nhiều nét văn
hoá truyền thống của làng, xã bị pha tạp, phôi pha bản sắc văn hoá dân tộc;
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu lao động ở nông thôn còn chậm, các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp
có quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh thấp.
Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn nhất là ở các vùng
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn ở mức thấp; chênh lệch giàu nghèo giữa
thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng lớn, phát sinh nhiều vấn đề
xã hội bức xúc về việc làm, thu nhập…
Những hạn chế, yếu kém trên có những nguyên nhân khách quan và
chủ quan. Về khách quan, nhu cầu đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn lớn song khả năng đáp ứng của các nguồn lực còn thấp. Cơ chế chính
sách cho phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa đồng bộ, chưa có bộ tiêu chí
chuẩn để thực hiện. Khu vực nông thôn Quảng Ninh nhất là miền núi có địa
hình phức tạp và chịu nhiều tác động của thiên tai. Về chủ quan, quan điểm
đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chưa thống nhất; nhận thức về vị trí, vai
trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; cơ chế,
chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; một
số chủ trương, chính sách, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ
sung kịp thời; đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào
nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển;
thiết đối với thực tiễn tỉnh Quảng Ninh nói chung, huyện Đông Triều nói
riêng. Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh. Nêu ra những thành công đã đạt được, đồng thời xác
định những hạn chế và nguyên nhân trong quá trình xây dựng nông thôn mới
3
tại huyện Đông Triều, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng mô hình nông
thôn mới đến năm 2020.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đề tài thực hiện hệ thống hoá cơ sở lý luận về nông nghiệp, nông thôn
và nông thôn mới.
- Đánh giá thực trạng việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại huyện
Đông Triều. Từ đó, đánh giá những kết quả đạt được, tìm ra tồn tại, hạn chế
cùng các nguyên nhân trong quá trình thực hiện.
- Đề xuất được các giải pháp phát triển mô hình nông thôn mới trên địa
bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, đề tài đi sâu phân tích
thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Triều, tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Đông Triều.
+ Nội dung: Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới theo 5 nhóm
chỉ tiêu với 19 tiêu chí.
+ Về thời gian: Nghiên cứu việc xây dựng nông thôn mới từ năm 2010
đến nay.
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của Luận văn
quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.
Nông thôn nước ta là khái niệm để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ ở
đó người dân sinh sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, dân số
sống ở nông thôn chiếm khoảng 70% tổng dân số nước ta.
Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó chủ yếu là
lao động nông nghiệp, hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự
nhiên. Có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
(nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của người
dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu, cung cấp hàng hóa
cho xuất khẩu, cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị, là thị trường
rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ).
Trên góc độ tự nhiên, nông thôn là vùng đất rộng lớn bao quanh các đô
thị như thành phố, thị xã, thị trấn, có sự khác nhau về địa hình, khí hậu, thủy
văn… Trên góc độ kinh tế, nông thôn chủ yếu là sản xuất nông, lâm, thủy sản.
Về đường xá, hệ thống nước sạch, điện thường hạn chế, thấp kém hơn đô thị.
Về xã hội, trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật, giáo dục, đời sống vật chất,
tinh thần của cư dân nông thôn nhìn chung thấp hơn đô thị. Di sản văn hóa,
phong tục tập quán trong nông thôn đa dạng, phong phú hơn đô thị.
6
Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo
thời gian để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế
giới. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay ta có thể hiểu: Nông thôn là vùng
sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư
này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong
một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của tổ chức khác.
1.1.1.2. Đặc trưng của nông thôn
Một số đặc trưng cơ bản của nông thôn như sau:
Một, là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng dân cư bao gồm
chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu là nông nghiệp. Ngoài ra còn có các
hoạt động sản xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp,
thế giới về: Trình độ phát triển kinh tế còn thấp, mang nặng tính thuần nông;
Tỷ lệ lao động, vốn đầu tư, cơ cấu sản phẩm hàng hóa, thì lĩnh vực nông
nghiệp vẫn chiếm chủ yếu; Cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông còn nhiều khó
khăn, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng núi, vùng xa, gây trở ngại cho tổ chức sản
xuất và lưu thông hàng hóa; Hệ số sử dụng đất, năng suất lao động thấp và
mất cân đối giữa các vùng, miền núi và đồng bằng; Mạng lưới diện đã có
nhiều tiến bộ nhưng mới đáp ứng phần lớn cho sinh hoạt và thủy lợi, chưa đủ
cho nhu cầu phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; Cơ sở chế biến
và bảo quản nông sản vừa thiếu vừa yếu, làm cho quá trình chuyên môn hóa,
tập trung hóa sản xuất bị hạn chế.
Các vấn đề xã hội lại đặt ra như tỷ lệ tăng dân số ở khu vực nông thôn
khá cao tạo ra sức ép nhiều mặt về ruộng đất, nhà ở, việc làm. Hiện còn
khoảng 1/3 dân số nông thôn thiếu việc làm khi nông nhàn gây áp lực lên
thành phố do tình trạng di dân ngày càng đông đi ra thành phố tìm việc làm.
Bộ máy quản lý hành chính và trình độ quản lý cán bộ nông thôn còn thấp.
Các vấn đề kinh tế: Phát triển các loại hình kinh tế và kinh doanh nông
nghiệp để tạo ra sản xuất hàng hóa lớn; Vấn đề đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
8
kinh tế và xã hội cho nông thôn; Vấn đề nâng cao mức sống của dân cư nông
thôn và nhiều vấn đề khác cần có giải pháp, trong đó giải pháp tìm ra nguồn
lực và động lực nào để phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn lâu dài,
bền vững.
- Vai trò của nông thôn:
Nước ta là một nước nông nghiệp nên nông thôn có vai trò đặc biệt
quan trọng. Dân số ở nông thôn chiếm gần 70% lao động xã hội. Đã từ lâu,
nông thôn luôn là nguồn cung cấp lao động dồi dào, là thị trường tiêu thụ rộng
lớn có ý nghĩa thúc đây nền kinh tế nước ta phát triển.
Sự phát triển ổn định và cùng sinh sống của 54 dân tộc khác nhau trong
nông thôn có ý nghĩa to lớn, có vai trò quan trọng trong gìn giữ đất nước, ổn
định chính trị, an sinh xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa của cả nước.
cuộc sống của các cư dân nông thôn.
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền
vững về môi trường. Vì vậy trong điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ
các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu:
Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền
vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và
các tổ chức khác.
1.1.2.2. Các bộ phận cơ bản cấu thành trong nông thôn
Bao gồm: Chủ thể trong nông thôn; Các hoạt động kinh tế; Các tổ
chức; Cơ sở hạ tầng; Khoa học và công nghệ áp dụng; Y tế, sức khỏe cộng
đồng; Văn hóa - giáo dục; Môi trường và tài nguyên thiên nhiên; Các chính
sách kinh tế và xã hội. Các hợp phần tạo nên sự thống nhất và tác động qua lại
lẫn nhau hình thành một chỉnh thể nông thôn.
10
- Xét về chủ thể trong nông thôn: Người dân được xác định là chủ thể
trong nông thôn, người nông dân với sản xuất nông nghiệp là thành phần chính.
Ở đây có sự đa dạng về thành phần và sắc tộc, tôn giáo. Đặc trưng cơ bản chủ
thể trong nông thôn có dân số với lực lượng lao động nông nghiệp chiếm một
tỷ lệ lớn và được coi là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò nông thôn Việt Nam.
Theo cách nhìn nhận về mối quan hệ có sự gắn kết, ảnh hưởng giữa các
chủ thể trong nông thôn, có nhiều hình thức, cấp độ, vai trò và sự tác động lẫn
nhau các bộ phận đó: Cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng. Cá nhân hay
thành viên của chủ thể nông thôn với những nhu cầu, nguyện vọng, năng lực và
ứng xử khác nhau, tùy thuộc vào đặc tính riêng từng người. Các bộ phận đó
hợp lại tạo nên sự thống nhất, có sự tác động qua lại lẫn nhau hình thành một
chỉnh thể nông thôn, nông dân chiếm một tỷ lệ lớn và đóng vai trò chủ đạo.
- Xét về các hoạt động kinh tế trong nông thôn: Bao gồm các hoạt động
sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các hoạt
động thương mại, dịch vụ. Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ
Ngay sau khi nước ta thành lập năm 1945, mặc dù vẫn tập trung chỉ đạo
cho công cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí minh đã quan tâm tới xây dựng và phát triển nông thôn,
Người nêu rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của nông thôn: “Nông thôn giàu
có sẽ mua nhiều hàng hoá của công nghiệp sản xuất ra, đồng thời sẽ cung cấp
đầy đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị. Như thế là nông
thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển, công nghiệp phát triển lại thúc
đẩy nông nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn”. Hồ Chủ Tịch coi phát triển nông
nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn của mọi vấn đề kinh tế xã hội.
Bác Hồ luôn coi nông dân là lực lượng to lớn của cách mạng, xây dựng
khối liên minh công nông do Đảng lãnh đạo để đoàn kết dân tộc, là cơ sở, là
chỗ dựa quan trọng chiến tranh bảo vệ, giải phóng và xây dựng đất nước.
12
Thực tiễn trong bảo vệ, xây dựng đất nước, trong phát triển kinh tế ở
nước ta đến nay cho thấy, cùng với chính sách đổi mới, mở cửa đã minh
chứng điều nhận định trên. Nền nông nghiệp nước ta không những đảm bảo
lương thực đủ ăn cho 90 triệu người dân nước ta mà còn xuất khẩu một lượng
lớn hàng nông sản. Qua nhiều kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn được quan tâm đặc biệt. Xuất phát từ thực
tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước, nhận thức của Đảng và Nhà nước
ngày càng được nâng cao, càng được quan tâm tới phát triển nông nghiệp,
nông dân, nông thôn trong tổng thể phát triển chung của đất nước. Hiện nay
lực lượng nông dân vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, là lực lượng quan trọng
của cách mạng, mà chính nông nghiệp, nông dân nước ta luôn khẳng định vai
trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta.
Nông nghiệp mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực tăng
trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị,
xã hội. Cho đến nay sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu
để đi vào sự hội nhập kinh tế quốc tế và sự hội nhập toàn cầu của nước ta.
Đến Hội nghị Trung ương 7 khóa X của Đảng đã thông qua Nghị quyết
tinh hoa văn hóa của nông thôn truyền thống. Hiện nay, chưa có một định
nghĩa chính thức về nông thôn mới. Tuy nhiên có thể hiểu là: “Mô hình nông
thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức
nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong
điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng trên cơ sở nông thôn cũ
(truyền thống, đã có) nhưng manh tính tiên tiến về mọi mặt” –Theo PGS –
TSKH Phan Xuân Sơn ( đăng trên Tạp chí cộng sản)
Xây dựng nông thôn mới là một đòi hỏi khách quan để đáp ứng nhu cầu
tất yếu ngày càng cao của con người. Từng giai đoạn lịch sử, xây dựng và
phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn có khác nhau sao cho phù hợp
14
với nhu cầu của con người. Đối với nước ta hiện nay cần phải xây dựng nông
thôn mới, là một nông thôn giàu đẹp, văn minh, sản xuất phát triển, thu hẹp
khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.
Nông thôn mới trước hết là một vùng nông thôn chứ không phải đô thị.
Là vùng nông thôn có những nét hiện đại mà nông thôn truyền thống không
có, nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới.
Xây dựng nông thôn mới hiện nay có sự khác biệt so với các chương
trình, dự án đầu tư cho nông thôn đã triển khai trước đây ở bốn mặt như sau:
Một là, nội dung xây dựng nông thôn mới (NTM) với sự phát triển
nông thôn toàn diện, trước đây xây dựng nông thôn thường thông qua chương
trình hay dự án chỉ giải quyết một số khía cạnh riêng lẻ.
Hai là, Cơ chế phối hợp đồng bộ, trên cơ sở phát huy tổng lực của xã
hội cho quá trình xây dựng NTM.
Ba là, nguồn lực dựa vào nội lực và do cộng đồng địa phương làm chủ.
Sử dụng phương châm phát huy nội lực là chính, lấy sức dân lo cuộc sống cho
dân. Trước đây, việc huy động nguồn nội lực có nhiều hạn chế, chưa phát huy
hiệu quả năng lực của người dân và cộng đồng.
Bốn là, xây dựng các xã điểm NTM làm cơ sở để nhân rộng cho các
xã khác.
người dân được nâng cao, thu nhập tăng, tỷ lệ hộ nghèo thấp.
- Vừa mang tính hiện đại nhưng cũng giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.
- Dân trí được nâng cao, trình độ lao động ngày càng tiến bộ.
- Môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được
tăng cường.
1.1.3.6. Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông
thôn mới
- So với xây dựng nông thôn trước đây, xây dựng nông thôn mới là
chính sách về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa
16
mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn
đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các
lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình
trạng rời rạc, hoặc duy ý chí. Vùng nông thôn với cơ cấu mới, mang những
nét đặc trưng của một vùng nông thôn phát triển theo hướng đô thị hóa mà
biểu hiện cụ thể đó là sự phát triển nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH sản
xuất. Ở đó nền sản xuất không chỉ đơn thuần là sản xuất các ngành nông
nghiệp mà có sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, thương mại,
dịch vụ, du lịch… Xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo:
- Sản xuất nông nghiệp hiện đại: Sản xuất chủ yếu ở nông thôn là nông
nghiệp, sản xuất các sản phẩm nông sản dồi dào với chất lượng cao. Sản xuất
nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các
điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ
thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp có sự kết hợp chặt chẽ
giữa sản xuất nông nghiệp hiện đại với phát triển công nghiệp và các ngành
khác, đưa sản xuất nông nghiệp ở nông thôn thành sản xuất hàng hoá thực sự,
tạo thuận lợi để hội nhập nền kinh tế thế giới. Có sự phân định rõ ràng giữa
nông thôn và thành thị trong mối quan hệ hỗ trợ và thúc đẩy.
- Giữ gìn nét truyền thống của văn hóa Việt: Nước ta với truyền thống
- Bản thân người nông dân - chủ thể xây dựng NTM phải xác định trách
nhiệm của mình trong việc xây dựng NTM, Nhà nước chỉ hỗ trợ bằng cơ chế,
chính sách, hỗ trợ tiền vốn (cho vay, đầu tư một phần). Bản quy hoạch xây
dựng NTM phải được người dân coi như "Bản hương ước của làng, xã" và do
chính người dân đứng ra thực hiện.
- Có cơ chế, chính sách để các nhà đầu tư mạnh dạn tham gia đầu tư
vào các dự án xây dựng NTM. Các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp,
18
nông thôn mang lại hiệu quả còn thấp và tính rủi ro cao, chủ yếu mang tính xã
hội do vậy cần có chính sách ưu đãi.
1.1.4. Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
- Nguyên tắc 1: Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng
nông thôn mới phải hướng tới thực hiện 19 tiêu chí của Bộ TCQG về nông
thôn mới đã ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ
tướng Chính phủ.
- Nguyên tắc 2: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa
phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách,
cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể
do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ
chức thực hiện.
- Nguyên tắc 3: Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia,
chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai
trên địa bàn nông thôn.
- Nguyên tắc 4: Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải
gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và
cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Nguyên tắc 5: Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn
lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện
các công trình dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm
giai đoạn 2010-2015).
Bước 5: Xây dựng quy hoạch NTM của xã.
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án (kế hoạch)
Bước 7: Hoàn thiện, giám sát, đánh giá và báo cáo định kỳ về tình hình
thực hiện dự án.
20
1.1.6. Nội dung Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
1.1.6.1. Xã nông thôn mới
Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
ban hành "Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới" bao gồm 19 tiêu chí với 39
chỉ tiêu và được chia thành 5 nhóm cụ thể: nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ
tầng kinh tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi
trường và về hệ thống chính trị. Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và
các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng
sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông
Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh
tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng.
19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: quy hoạch
và thực hiện quy hoạch; giao thông; thủy lợi; điện; trường học; cơ sở vật
chất văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư; thu nhập bình quân
đầu người/năm; tỷ lệ hộ nghèo; cơ cấu lao động; hình thức tổ chức sản
xuất; giáo dục; y tế; văn hóa; môi trường; hệ thống tổ chức chính trị xã
hội vững mạnh; an ninh, trật tự xã hội.
Với 19 tiêu chí, mỗi tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối
với từng xã để được công nhận đạt xã nông thôn mới. Ví dụ, về tiêu chí giao
thông, 1 xã thuộc Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ phải đạt 100%
đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao
thông vận tải.
Tiêu chí này đối với xã vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên là 70% còn đối với xã vùng Trung du miền núi phía Bắc và
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu
chí quốc gia nông thôn mới;
+ Nội dung: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ
thống giao thông trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục
22
đường xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá) và đến 2020 có 70% số xã đạt
chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hoá); Hoàn thiện hệ thống các
công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn
xã. Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí NTM và năm 2020 là 95% số xã đạt
chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn
hoá thể thao trên địa bàn xã. Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hoá xã, thôn
đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công
trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn xã. Đến 2015 có 50% số xã
đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công
trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45%
số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn chỉnh trụ sở xã
và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có
85% số xã đạt chuẩn; Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến
2015 có 45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hoá).
Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hoá hệ thống kênh mương nội
đồng theo quy hoạch).
- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập.
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10; 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia
nông thôn mới. Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt;
+ Nội dung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp
theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, có hiệu quả kinh tế cao; Tăng cường
công tác khuyến nông; Đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; Cơ giới hoá nông nghiệp, giảm
tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; Bảo tồn và phát
triển làng nghề truyền thống theo phương châm "mỗi làng một sản phẩm",