Luận văn: NGUYỄN LINH QUANG NGHIÊN CỨU CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRÊN ĐẤT RUỘNG KHÔNG CHỦ ĐỘNG NƢỚC TẠI THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI - Pdf 15


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
O0O NGUYỄN LINH QUANG

NGHIÊN CỨU CƠ CẤU CÂY TRỒNG
TRÊN ĐẤT RUỘNG KHÔNG CHỦ ĐỘNG NƢỚC
TẠI THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI Chuyên ngành : Trồng trọt
Mã số : 60.62.01 LUẬN VĂN
THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

PGS. TS Nguyễn Thế Đặng


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt
tình của nhiều tập thể cá nhân, các cơ quan và địa phƣơng nơi thực hiện
đề tài.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế
Đặng và tập thể các thầy cô giáo trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân thành cảm ơn UBND Thành phố Lào Cai, UBND các
xã nơi thực hiện đề tài, Trƣờng Trung cấp Nghề tỉnh Lào Cai, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, phòng Kinh tế Thành phố,
phòng Nội vụ Thành phố, phòng Tài nguyên môi trƣờng Thành phố,
phòng Thống kê Thành phố, Trạm khuyến nông Thành phố, Trạm Khí
tƣợng – Thuỷ văn, và đặc biệt là các hộ nông dân tham gia triển khai thử
nghiệm
Tập thể cán bộ khoa SĐH, khoa Nông học – Trƣờng Đại học Nông
lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học
tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè đồng
nghiệp và gia đình đã quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong
suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn này.
Xin trân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 9 tháng 10 năm 2007
Tác giả

Nguyễn Linh Quang
1.3.
Nghiên cứu các loại hình sử dụng đất
16
1.4.
Tình hình nghiên cứu khai thác đất 1 vụ ở Việt Nam
20

CHƢƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
24
2.1.
Đối tƣợng nghiên cứu
24
2.2.
Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
24
2.3.
Nội dung nghiên cứu
24
2.3.1.
Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tác động đến
sản xuất trên đất ruộng không chủ động nước trên địa
bàn Thành phố Lào cai.
24
2.3.2.
Đánh giá thực trạng sản xuất trên đất ruộng không chủ
động nước của Thành phố Lào Cai.
24
2.3.3.
Đánh giá cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân hiện có trên

2.4.4.1.
Lựa chọn các hộ nông dân tham gia thử nghiệm.
26
2.4.4.2.
Bố trí thử nghiệm
26
2.4.4.3.
Đánh giá lựa chọn hợp phần phù hợp
28

CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
30
3.1.
Đặc điểm cơ bản của vùng nghiên cứu
30
3.1.1.
Đặc điểm về tự nhiên
30
3.1.2.
Đặc điểm về đất đai
36
3.1.3.
Đặc điểm về kinh tế xã hội
40
3.1.3.1.
Đặc điểm chung
40
3.1.3.2.
Đặc điểm ngành nông - lâm nghiệp và thuỷ sản

56
3.4.
Kết quả thử nghiệm cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân
trên đất ruộng không chủ động nƣớc
67
3.4.1.
Thử nghiệm về cơ cấu giống ngô
68
3.4.2.
Thử nghiệm về cơ cấu giống đậu tương
71
3.4.3.
Thử nghiệm về cơ cấu giống khoai tây
73
3.4.4.
Thử nghiệm về cơ cấu giống lạc
75
3.5.
Tổng hợp kết quả
77

CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
79
4.1.
KẾT LUẬN
79
4.1.1.
Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của
Thành phố ảnh hưởng tới sản xuất trên đất ruộng không
chủ động nước

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
STT
NỘI DUNG
Trang
1
Hình 3.1: Đồ thị diễn biến nhiệt độ, lƣợng mƣa, ẩm độ không
khí trung bình các tháng qua 3 năm (2004-2006)
33
2
Hình 3.2: Đồ thị diễn biến diện tích cơ cấu cây trồng qua 3 năm
của Thành phố Lào Cai
54

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

STT
NỘI DUNG
Trang
1
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của Thành phố Lào Cai
37
2
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của Thành phố
Lào Cai
39
3
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất ruộng Thành phố Lào Cai
39
4
Bảng 3.4: Tỷ lệ hộ nghèo của Thành phố Lào Cai qua các năm

11
Bảng 3.11: Đánh giá tính ổn định về nguồn vật tƣ, thị trƣờng và
khả năng cho giá trị kinh tế của các cây trồng vụ Xuân trên đất
ruộng không chủ động nƣớc
62
12
Bảng 3.12: Đánh giá khả năng chống chịu với điều kiện ngoại
cảnh
của các cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng không chủ động nƣớc
64
13
Bảng 3.13: Tổng hợp xếp hạng chỉ tiêu đánh giá các cây trồng
vụ Xuân trên đất ruộng không chủ động nƣớc
66
14
Bảng 3.14 : Năng suất, hiệu quả kinh tế của các giống ngô và
lựa chọn của nông dân
69
15
Bảng 3.15: Năng suất, hiệu quả kinh tế của các giống đậu tƣơng
và lựa chọn của nông dân
71
16
Bảng 3.16: Năng suất, hiệu quả kinh tế của các giống khoai tây
và lựa chọn của nông dân
74
17
Bảng 3.17: Năng suất, hiệu quả kinh tế của các giống lạc và lựa
chọn của nông dân
76

rửa trôi, sạt lở đất, dẫn đến tài nguyên đất bị thoái hoá. Mặt khác trước sức ép về
dân số nhu cầu sản phẩm nông nghiệp ngày một tăng cao, vì vậy vấn đề khai thác
triệt để tiềm năng đất đai và sức sản xuất của đất là vấn đề cần thiết và cấp bách.
Song việc khai thác đất đai phải đảm bảo canh tác lâu bền gắn liền với bảo vệ môi
trường.
Để hạn chế những thiên tai bất thường, giảm thiểu tình trạng thoái hoá đất,
Nhà nước đã có những quy định pháp lý, nghiêm cấm tình trạng phá rừng làm
nương dẫy tại các vùng miền núi, đưa việc sản xuất trên đất nương rẫy vào quản
lý chặt chẽ. Trước thực trạng trên để đảm bảo vấn đề lương thực cho người nông
dân miền núi và xã hội, thúc đẩy công cuộc xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy các
ngành kinh tế khác phát triển, đảm bảo việc bảo vệ môi trường sinh thái, thực hiện
tốt chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, cần tiến hành tổ chức
khai thác triệt để nguồn tài nguyên đất ruộng vẫn còn khả năng khai thác, và tổ
chức khai thác hiệu quả nhất bằng việc đưa những biện pháp tốt nhất vào đồng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10

ruộng. Diện tích đất này ở miền núi hiện nay một phần lớn là đất ruộng không chủ
động nước.
Đối với Thành phố Lào Cai cũng có một số yếu tố không nằm ngoài thực
trạng trên, song Thành phố cũng đã có những chính sách cụ thể thúc đẩy việc khai
thác đất ruộng không chủ động nước.
Thành phố Lào Cai có tổng diện tích đất tự nhiên là 22.925 ha, trong đó đất
nông nghiệp là: 13.896,13 ha (chiếm 60,62%) so với tổng diện tích đất tự nhiên.
[18]
Trong những năm qua Thành phố đã và đang đẩy mạnh phát triển kinh tế
xã hội, từng bước đạt được những thành tựu đáng kể. Diện tích gieo trồng được
mở rộng, năng suất, sản lượng lương thực cũng đang dần được tăng lên. Bên cạnh
những thành tựu đạt được thì sản xuất nông nghiệp của Thành phố vẫn còn nhiều

- Đánh giá cơ cấu cây trồng vụ Xuân hiện có trên đất ruộng không chủ
động nước của các xã vùng nghiên cứu của Thành phố Lào Cai.
- Thử nghiệm cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng không chủ
động nước của nông dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂY TRỒNG
Trên con đường phát triển nông nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay,
nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đã có nhiều những nghiên cứu và ứng dụng
thành công nhiều giống cây trồng, vật nuôi và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến
nhằm không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng nông sản phẩm, lấy đó làm
cơ sở cho việc phát triển kinh tế của đất nước.
Trong lịch sử phát triển lâu đời của sản xuất nông nghiệp các hệ thống canh
tác đã được hình thành, phát triển thay thế lẫn nhau. Có những hệ thống canh tác
hiệu suất rất thấp nhưng vẫn tồn tại dai dẳng bên cạnh những hệ thống có hiệu
suất cao hơn. Có những hệ thống hiện đại được đưa vào nhưng do môi trường sản
xuất không thích hợp nên phải nhường chỗ cho các hệ thống cũ. Hiện nay thì các
hệ thống này tồn tại xen kẽ nhau và mỗi hệ thống tồn tại thích hợp với từng điều
kiện của mỗi địa phương.
Theo mức độ tiến bộ của tổ chức sản xuất người ta chia ra các hệ thống
nông nghiệp như:
- Hệ thống nông nghiệp cổ truyền.
- Hệ thống nông nghiệp chuyển tiến.
- Hệ thống nông nghiệp hiện đại.

ràng, phù hợp với đặc điểm sản xuất của địa phương và khắc phục được những
hạn chế trong quá trình sản xuất của nông dân. Mô hình cây trồng được lựa chọn
cần phát huy được những gì mà người dân đã có, phải phù hợp với tập quán của
địa phương, sử dụng được nguồn lực sẵn có, để áp dụng an toàn với hệ sinh thái
tại địa phương. Mô hình đó phải được áp dụng phát triển rộng rãi, khơi dậy được
lòng nhiệt tình của nhân dân áp dụng vào sản xuất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14

Trong việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản
xuất nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế thì ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ hệ
thống cây trồng với các điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác còn cần
phải quan tâm tới phương hướng sản xuất ở vùng, khu vực đó. Vì vậy nghiên cứu
hệ thống cây trồng một cách khoa học sẽ có ý nghĩa quan trọng giúp cho các hộ
nông dân, các nhà quản lý có cơ sở định hướng sản xuất nông nghiệp một cách
đúng đắn và toàn diện.
Trong nghiên cứu hệ thống nông nghiệp cần phải trải qua các bước phân
tích hệ thống. Đó là:
Xác định mục tiêu dựa vào các đặc trưng không gian, thời gian, sức sản
xuất, tính ổn định và bền vững.
Giới hạn và thứ bậc của hệ thống.
Thiết lập các giả thiết tiền mô hình của hệ thống.
Thu thập số liệu: Số liệu thống kê, số liệu qua điều tra.
Phân tích mẫu theo 4 đặc trưng: Không gian, thời gian, lưu thông, quyết
định.
Hệ thống phụ: Với mục đích phân chia từ hệ thống lớn thành những hệ
thống nhỏ nhằm phát hiện những thuận lợi và yếu tố hạn chế trong những điều
kiện cụ thể hơn, chi tiết hơn.
Xác định những mấu chốt trong quá trình phân tích.

Vũ Tuyên Hoàng (1987), ở trung du miền núi các loại cây lương thực cần
được sắp xếp theo các hệ thống cây trồng hợp lý, trên cơ sở thâm canh, luân canh
tăng vụ. Trong hệ thống cây trồng cần xác định cây chủ lực (có thể là lúa, ngô
hoặc cây khác tuỳ thuộc điều kiện nơi sản xuất) [12].
Với quan điểm về sinh thái học các nhà nghiên cứu cho rằng: Trong một
kiểu vùng sinh thái, nhất định cần đảm bảo độ che phủ đất quanh năm, tối ưu, phát
huy được khả năng quang hợp của nhiều loại cây trồng xen, ghép, tranh thủ được
không gian với nhiều tầng sinh thái và hạn chế đến mức cao nhất tình trạng rửa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16

trôi, xói mòn đất. Do đó khi nghiên cứu về hệ thống cây trồng ở vùng đồi núi cần
chú ‎ ý đến tỷ lệ phối hợp các loại cây trồng trong hệ thống được xác định.
Tóm lại hệ thống cây trồng là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương
tác giữa các loại cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và
thời gian, nhưng không phải là mối quan hệ thuần tuý giữa cây trồng với nhau.
Mà mối quan hệ này được gắn liền với các yếu tố bên ngoài như điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế xã hội (lao động, thị trường, quản lý sản xuất, tập quán,
kinh nghiệm sản xuất, . . .). Năng suất một loại cây trồng (Y) chịu ảnh hưởng của
quản lý sản xuất (M) và môi trường bên ngoài (E) qua một hàm tương quan Y =
F(M, E) [22], các căn cứ đó giúp cho cây trồng đưa vào đạt hiệu quả cao như
mong đợi.
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG CƠ CẤU CÂY TRỒNG
Cơ cấu cây trồng nó là thành phần của cơ cấu sản suất nông nghiệp và là
giải pháp kinh tế quan trọng của phân vùng sản xuất nông nghiệp. Nó là thành
phần và các loại giống cây trồng bố trí theo không gian và thời gian ở một cơ sở
sản xuất hay một vùng sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng thường được lựa
chọn dựa trên lợi ích lớn nhất cho đa số người dân, cơ cấu cây trồng phải có độ an
toàn, sác xuất gặp rủi do thấp nhất, phù hợp với tập quán của địa phương, đảm bảo

nghiệp phát triển. Hiện nay cơ cấu cây trồng theo nghĩa rộng biểu hiện các mối
quan hệ, tỷ lệ trồng trọt với chăn nuôi, giữa cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây
nguyên liệu, cây ăn quả, cây thực phẩm. Trong chăn nuôi giữa gia súc và gia cầm,
thuỷ đặc sản . . .Hơn nữa cơ cấu cây trồng phải gắn liền với lưu thông, chế biến,
nghĩa là phải có một nền thương nghiệp, công nghiệp chế bến phát triển phản ánh
quá trình trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp mở rộng. Thương nghiệp là
cầu nối giữa sản xuất và thị trường.
Trong thực tế sản xuất thì mỗi cơ cấu cây trồng đều có ưu, nhược điểm
song sự chuyển dich cơ cấu cây trồng như thế nào để giải quyết được nhu cầu cấp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18

bách của người dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại thành quả rõ
ràng, nhanh chóng và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không
gian, thời gian nhất định và được người dân chấp nhận và mở rộng. Cơ cấu cây
trồng được lựa chọn phải giải quyết được các yếu tố quan trọng nhất trong sản
suất.
Cơ cấu cây trồng về mặt diện tích, là tỷ lệ các loại cây trên đơn vị diện tích
đất canh tác. Tỷ lệ này một phần nào đó nói lên trình độ thâm canh sản xuất của
từng vùng. Tỷ lệ cây lương thực cao, tỷ lệ cây công nghiệp, cây thực phẩm thấp
phản ánh trình độ phát triển nông nghiệp thấp. Tỷ lệ các loại cây trồng có sản
phẩm tiêu thụ tại chỗ cao, các loại cây trồng có sản phẩm có giá trị xuất khẩu thấp
chính tỏ sản xuất ở vùng đó kém phát triển và ngược lại. Dựa vào cơ cấu cây
trồng ta có thể biết được nền nông nghiệp của tất cả các nước đang phát triển.
Lịch sử phát triển nông nghiệp chỉ rõ, việc phát triển nền nông nghiệp hàng
hoá trên cơ sở nền nông nghiệp tự cấp tự túc được thực hiện trước hết do sự biến
đổi sâu sắc trong cơ cấu cây trồng. V. Lênin đã viết rằng: “Tính chất cố định của
chế độ canh tác xưa kia đã bị những phương thức canh tác mới đập tan và nền
nông nghiệp hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã phát triển nhờ những thay đổi lúc

cho mọi vùng sản xuất mà nó chỉ có ý nghĩa kế thừa, chọn lọc để phù hợp với điều
kiện tự nhiên và trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Quá trình sản xuất xác lập
được mối quan hệ cân đối về lượng thì lập tức lại xuất hiện khác nhau về chất, nó
phản ánh quy luật chung của phát triển.
Cơ cấu cây trồng luôn biến đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện và phát
triển thông qua sự chuyển hoá lẫn nhau, từ cũ chuyển sang mới nhờ được thay thế
bằng các giống mới, cơ cấu từ đơn điệu đến đa dạng hoá, từ hiệu quả thấp đến
hiệu quả cao do yêu cầu tăng trưởng và phát triển của nhân loại cùng với sự phát
triển của văn minh nhân loại.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là một quá trình dài gắn liền với những tiến
bộ về khoa học kỹ thuật, không có một cơ cấu cây trồng nào có sẵn hoặc xuất hiện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20

thay đổi cơ cấu cũ ngay lập tức. Mà nó là một quá trình, quá trình này nhanh hay
chậm thì lại phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của các chủ thể quản lý, điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, vấn đề quan trọng là bắt đầu từ đâu và có những
giải pháp nào để mở đầu phản ứng dây truyền này.
Trải qua hàng nghìn năm, từ trong sản xuất nông nghiệp người nông dân đã
tích luỹ nhiều kinh nghiệm trong việc bố trí cơ cấu cây trồng sao cho hợp lý.
Đồng thời do sự phát triển của công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật và thực
nghiệm khoa học kỹ thuật trong sản xuất đã tìm ra những giống mới, loài cây mới
và những phương pháp mới giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề liên quan
của cơ cấu cây trồng. Sử dụng kinh nghiệm của người dân và những kết quả
nghiên cứu khoa học kỹ thuật để bố trí cây trồng phải có sự lựa chọn, cân nhắc để
tránh những yếu tố bảo thủ hoặc những công thức đòi hỏi phải có mức đầu tư cao,
không thích hợp với điều kiện sản xuất của vùng đó.
Theo Hoàng Đức Phương (1991), thì cơ cấu cây trồng hợp lý phải đạt được
hiệu quả cao trên 3 mặt: Năng suất, sản lượng, thu nhập và bảo vệ môi trường

hình, độ dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới của đất . . . để bố trí hệ thống
cây trồng phù hợp [2], [6], [25]. Việc sử dụng đất dốc, xói mòn nhiều, các tính
chất lý hoá của đất và các biện pháp canh tác có thể áp dụng để trống sói mòn theo
các điều kiện cụ thể của từng vùng sinh thái [1], [2]. Cây trồng phát triển tốt hay
xấu phụ thuộc nhiều vào độ mầu mỡ của đất, thành phần cơ giới của đất, khả năng
cung cấp nước tưới như thế nào. Mỗi loại cây trồng thích hợp với từng loại đất
khác nhau, khả năng chống chịu nước của các giống cây trồng khác nhau. Vì vậy,
bố trí cơ cấu cây trồng hay chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải căn cứ vào đất đai
và thuỷ lợi. Như chúng ta đều biết độ phì nhiêu và mầu mỡ của đất có thể tăng lên
hay giảm đi là do quá trình đầu tư thâm canh cây trồng, là kết quả của việc sử
dụng đất và quá trình canh tác của con người. Vì thế độ mầu mỡ của đất thay đổi
thì cơ cấu cây trồng cũng thay đổi cho phù hơp, tuy nhiên trong các loại cây trồng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22

có loại đòi hỏi phải được trồng ở nơi đất tốt nhưng có cây chịu được đất xấu, ví
dụ như: Cây sắn có thể chịu được điều kiện đất đai khắc nghiệt. Muốn khắc phục
để hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất tăng lên thì ta có thể bón thêm phân
cân đối. Nắm được đặc tính lý hoá của đất con người có thể tác động cải tạo đất
dần dần để phù hợp với cây trồng hơn: Ví dụ như phủ xanh đất trống đồi núi trọc
ở các vùng miền núi, trồng cây họ đậu để cải tạo đất ở vùng trung du, thau chua
rửa mặn ở các vùng ven biển . . . . đều là những tác động nhằm cải tạo đất rất tích
cực của con người nói riêng cho xã hội nói riêng và môi trường sống nói chung.
- Đặc tính sinh học của các loài và giống cây trồng: Là thành phần chủ yếu
của hệ thống sinh thái nông nghiệp, cụ thể hơn là hệ sinh thái đồng ruộng. Mỗi
loại cây trồng khác nhau nhưng đều có yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh như nhau:
Nước, nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ . . . và các chất dinh dưỡng thì mới có thể sinh
trưởng và phát triển ổn định để cho năng suất cao.
Các giống cây trồng có thời gian sinh trưởng khác nhau cho nên cũng có

+ Cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng: Liên quan rất nhiều đến việc bố trí cơ cấu
cây trồng: Giao thông phải thuận lợi cho việc vận chuyển, hệ thống thuỷ lợi phải
đảm bảo tốt cho phục vụ sản xuất.
+ Tập quán tiêu dùng của xã hội cũng chi phối việc lựa chọn cơ cấu cây
trồng.
Nhìn chung những yếu tố trên biến động thì sẽ đều ảnh hưởng rất lớn đến
hệ thống cơ cấu cây trồng.
Theo FAO: Nông nghiệp bền vững bao gồm sự quản lý một cách có hiệu
quả các nguồn tài nguyên nông nghiệp để thoả mãn nhu cầu của con người trong
khi đó vẫn duy trì hoặc nâng cao chất lượng của hệ sinh thái và bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên. Để phát triển theo con đường lâu bền này vấn đề đặt ra là: Làm thế
nào để xác định được sự bền vũng của một hệ thống nông nghiệp ?. Nhiều nhà
khoa học đã bàn cãi về quan niệm này và đa số thống nhất là thảo luận về sự bền

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24

vũng của một hệ thống nông nghiệp bao gồm cả các vấn đề về sinh thái lẫn kinh tế
xã hội.
Trong tình trạng phát triển hiện nay của nước ta sản xuất nông nghiệp
không thể bị ảnh hưởng của sự biến đổi về giá cả. Tuy nhiên về mặt kỹ thuật của
vấn đề phát triển nông nghiệp, các nghiên cứu trên phương diện sinh thái phải
được thực hiện để xây dựng nền tảng vững chắc và lâu dài cho sản xuất.
Nghiên cứu hệ thống cây trồng trong một hệ thống nông nghiệp nhằm bố
trí lại hoặc chuyển đổi chúng để tăng hệ số sử dụng ruộng đất, sử dụng hiệu quả
tiềm năng đất đai, lợi thế so sánh của từng vùng sinh thái nông nghiệp, cũng như
sử dụng có hiệu quả tiền vốn, cơ sở vật chất, kỹ thuật và lao động để nâng cao
năng suất, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích
canh tác trong một năm. Tóm lại là nhằm xây dựng một hệ thống nông nghiệp
bền vững có hiệu quả kinh tế cao. Nội dung chủ yếu nghiên cứu hệ thống cây

cây trồng vừa cải thiện được cho đất vừa cho hiệu quả kinh tế thì sẽ khuyến khích
được người nông dân áp dụng cao hơn [23], [24].
Trên vùng miền núi phía Bắc cũng có nhiều công trình nghiên cứu như:
- Hồ Tấn Kháng, Nguyễn Mộng, Phạm Trần An (1963) đã cho thấy:
+ Với đất chủ động nước nên làm lúa Xuân - lúa mùa - rau mầu đông
(khoai tây, bắp cải, khoai lang). Cơ cấu cây trồng này rất khó áp dụng cho các
huyện vùng cao khi tập quán thả rông gia súc sau vụ lúa mùa còn khá phổ biến, nó
chỉ thành công khi việc thả rông gia súc được giải quyết triệt để.
+ Đất ruộng bỏ hoá ở vùng cao nên chuyển thành:
Lúa mùa - Đậu răng ngựa, đậu Hà Lan
Lúa mùa - Rau vụ Đông hoặc lúa mạch
Nhìn chung các nghiên cứu này đã gợi ra các hướng cải tiến canh tác cổ
truyền theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay
một số nghiên cứu này không được phù hợp, nếu việc khai thác đất trên đất ruộng

Trích đoạn Thực trạng cơcấu cõy trồng trờn đất ruộng khụng chủ động nƣớc KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CƠCẤU GIỐNG CÂY TRỒNG VỤ XUÂN TRấN ĐẤT RUỘNG KHễNG CHỦ ĐỘNG NƢỚC Thử nghiệm về cơcấu giống ngụ Thử nghiệm về cơcấu giống đậu tƣơng Thử nghiệm về cơcấu giống khoai tõy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status