Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------- O0O------------ NGUYỄN LINH QUANG
NGHIÊN CỨU CƠ CẤU CÂY TRỒNG
TRÊN ĐẤT RUỘNG KHÔNG CHỦ ĐỘNG NƢỚC
TẠI THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI Chuyên ngành : Trồng trọt
Mã số : 60.62.01 LUẬN VĂN
THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS. TS Nguyễn Thế Đặng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt
tình của nhiều tập thể cá nhân, các cơ quan và địa phƣơng nơi thực hiện
đề tài.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế
Đặng và tập thể các thầy cô giáo trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân thành cảm ơn UBND Thành phố Lào Cai, UBND các
xã nơi thực hiện đề tài, Trƣờng Trung cấp Nghề tỉnh Lào Cai, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, phòng Kinh tế Thành phố,
phòng Nội vụ Thành phố, phòng Tài nguyên môi trƣờng Thành phố,
phòng Thống kê Thành phố, Trạm khuyến nông Thành phố, Trạm Khí
tƣợng – Thuỷ văn, và đặc biệt là các hộ nông dân tham gia triển khai thử
nghiệm
Tập thể cán bộ khoa SĐH, khoa Nông học – Trƣờng Đại học Nông
lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học
tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè đồng
nghiệp và gia đình đã quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong
suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn này.
Xin trân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 9 tháng 10 năm 2007
Tác giả
Nguyễn Linh Quang
24
2.3.3. Đánh giá cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân hiện có trên
đất ruộng không chủ động nước của các xã vùng nghiên
cứu của Thành phố Lào Cai.
25
2.3.4. Tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm cơ cấu cây trồng
vụ Xuân trên đất ruộng không chủ động nước của nông
25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
dân.
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 25
2.4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội ảnh hưởng
đến sản xuất nông lâm nghiệp của vùng nghiên cứu.
25
2.4.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất ruộng không chủ động
nước.
25
2.4.3. Đánh giá tiềm năng và trở ngại về cơ cấu cây trồng. 26
2.4.4. Nghiên cứu cơ cấu giống cây trồng trên đồng ruộng của
nông dân.
26
2.4.4.1. Lựa chọn các hộ nông dân tham gia thử nghiệm. 26
2.4.4.2. Bố trí thử nghiệm 26
2.4.4.3. Đánh giá lựa chọn hợp phần phù hợp 28
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
30
3.4.1. Thử nghiệm về cơ cấu giống ngô 68
3.4.2. Thử nghiệm về cơ cấu giống đậu tương 71
3.4.3. Thử nghiệm về cơ cấu giống khoai tây 73
3.4.4. Thử nghiệm về cơ cấu giống lạc 75
3.5. Tổng hợp kết quả 77
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79
4.1. KẾT LUẬN 79
4.1.1. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của
Thành phố ảnh hưởng tới sản xuất trên đất ruộng không
chủ động nước
79
4.1.2. Đánh giá thực trạng canh tác trên đất ruộng không chủ
động nước
79
4.1.3. Đánh giá cơ cấu cây trồng vụ Xuân và kết quả lựa chọn
cây trồng cho thử nghiệm
80
4.1.4. Kết quả thử nghiệm và lựa chọn cơ cấu cây trồng 80
4.2. ĐỀ NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
44
6
Bảng 3.6: Tình hình sử dụng đất ruộng không chủ động nƣớc của
Thành phố Lào Cai
47
7
Bảng 3.7: Những khó khăn chính đối với việc khai thác đất
ruộng không chủ động nƣớc
51
8
Bảng 3.8: Đánh giá khả năng thích ứng với điều kiện tự nhiên
của các cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng không chủ động nƣớc
57
9
Bảng 3.9: Đánh giá khả năng thích ứng với điều kiện kinh tế -
xã hội của các cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng không chủ
động nƣớc
59
10
Bảng 3.10: Đánh giá tính ổn định về năng suất, chất lƣợng, độ đồng
đều của các cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng không chủ động nƣớc
60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
11
Bảng 3.11: Đánh giá tính ổn định về nguồn vật tƣ, thị trƣờng và
khả năng cho giá trị kinh tế của các cây trồng vụ Xuân trên đất
ruộng không chủ động nƣớc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất là nguồn tài nguyên không thể thiếu được đối với sản xuất nông lâm
nghiệp. Nhưng quỹ đất dành cho sản xuất nông lâm nghiệp ngày càng có xu
hướng bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa, do tăng dân số và thiên tai lũ lụt .... Đứng
trước tình hình đó, Nhà nước ta đã và đang có những chủ trương, chính sách nhằm
hạn chế tối đa việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang loại đất khác. Đồng thời, các
địa phương cũng đang luôn chú trọng việc khai thác đất nông nghiệp sẵn có, trong
đó đặc biệt là nhóm đất có độ dốc và đất ruộng một vụ ở miền núi.
Đối với sản xuất nông nghiệp ở miền núi từ lâu đã gắn liền với sản xuất
trên nương rẫy, tập quán sản xuất đã ăn sâu vào tiềm thức của người nông dân
miền núi, tập quán canh tác này đã dần làm giảm sức sản xuất của đất, do quá
trình sản xuất chưa áp dụng các biện pháp bảo vệ đất đồng bộ, tình trạng sói mòn
rửa trôi, sạt lở đất, dẫn đến tài nguyên đất bị thoái hoá. Mặt khác trước sức ép về
dân số nhu cầu sản phẩm nông nghiệp ngày một tăng cao, vì vậy vấn đề khai thác
triệt để tiềm năng đất đai và sức sản xuất của đất là vấn đề cần thiết và cấp bách.
Song việc khai thác đất đai phải đảm bảo canh tác lâu bền gắn liền với bảo vệ môi
triển kinh tế của Thành phố trong những năm tới là: “Thúc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tập trung phát triển mạnh nông - lâm nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá, gắn liền với phát triển tiểu thủ công nghiệp, du lịch,
dịch vụ và chế biến nông -lâm - sản”.
Với thực trạng trên và nhằm đóng góp những giải pháp thích hợp cho khai
thác triệt để tiềm năng đất đai, dần dần nâng cao năng lưc người dân, phát huy
được những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới phù hợp với điều kiện của địa phương,
nhất là trên đất ruộng một vụ không chủ động nước, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài:
Nghiên cứu cơ cấu cây trồng trên đất ruộng không chủ động nước tại
Thành phố Lào Cai. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Xác định cơ cấu giống cây trồng tối ưu cho phát triển hệ thống cây trồng
trên đất ruộng không chủ động nước tại Thành phố Lào Cai.
3. YÊU CẦU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động đến sản xuất trên đất
ruộng không chủ động nước trên địa bàn Thành phố Lào Cai.
- Đánh giá thực trạng sản xuất trên đất ruộng không chủ động nước của
Thành phố Lào Cai.
- Xác định những trở ngại đối với việc khai thác đất ruộng không chủ động
nước.
- Đánh giá cơ cấu cây trồng vụ Xuân hiện có trên đất ruộng không chủ
động nước của các xã vùng nghiên cứu của Thành phố Lào Cai.
- Thử nghiệm cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng không chủ
động nước của nông dân.
đưa thêm một số yếu tố kỹ thuật mới, cải tiến một vài khâu trong sản xuất, đầu tư
lao động, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc nhưng còn đơn giản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Hệ thống nông nghiệp hiện đại là hệ thống mẫu hình từ các nước công
nghiệp phát triển, thay đổi toàn bộ điều kiện canh tác, trồng các loại cây tạo ra sản
phẩm hàng hoá, cơ giới hoá và tự động hoá hầu như toàn bộ các quá trình. Sử
dụng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới năng suất cao, sử dụng nước tưới
và các công trình thuỷ lợi. Việc tiến hành hệ thống nông nghiệp hiện đại đòi hỏi
phải có nhiều điều kiện thuận lợi như tập trung ruộng đất, thuận tiện về giao thông
và các cơ sở hạ tầng khác . . .
Hệ thống cây trồng là một tổng thể có trật tự các yếu tố khác nhau có quan
hệ và tác động qua lại. Một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên
kết bằng nhiều mối tương tác.
Hệ thống cây trồng là một phần quan trọng nhất của hệ thống nông nghiệp.
Là việc thực hiện mô hình canh tác cây trồng và sự liên quan giữa cây trồng này
với môi trường bên ngoài. Đó là sự thích nghi với điều kiện tự nhiên, trình độ
canh tác để nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Bố trí một hệ thống cây trồng hợp lý, phù hợp với một trong những biện
pháp kỹ thuật nhằm tận dụng các nguồn lợi tự nhiên kinh tế - xã hội, nâng cao
hiệu quả kinh tế trên một đơn vị sản xuất.
Trong thực tế sản xuất, mỗi hệ thống cây trồng đều có ưu điểm và nhược
điểm của chúng xong một hệ thống cây trồng tối ưu được xây dựng trên cơ sở đáp
ứng được nhu cầu cấp bách góp phần xoá đói giảm nghèo, đem lại hiệu quả rõ
ràng, phù hợp với đặc điểm sản xuất của địa phương và khắc phục được những
hạn chế trong quá trình sản xuất của nông dân. Mô hình cây trồng được lựa chọn
cần phát huy được những gì mà người dân đã có, phải phù hợp với tập quán của
địa phương, sử dụng được nguồn lực sẵn có, để áp dụng an toàn với hệ sinh thái
thống cây trồng đó thích hợp tối đa với điều kiện của nông dân và vùng sinh thái.
Theo Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn việc nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải
tiến hệ thống cây trồng có sẵn, dùng phương pháp phân tích hệ thống nhằm tìm ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
những điểm mấu chốt của hệ thống, đó là chỗ ảnh hưởng không tốt hoặc hạn chế
từ đó đề xuất những hướng giải quyết chỉnh sử hệ thống hoàn chỉnh, hiệu quả hơn
[22]. Hệ thống cây trồng là thành phần của giống và loài cây được bố trí trong
không gian và thời gian của các loại cây trồng trong một hệ sinh thái nông nghiệp
nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế, xã hội [23].
Theo Zandstra, (1981) thì hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất cây
trồng trong nông trại bao gồm các hợp phần cần có để sản xuất, tổ hợp tất cả các
cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường, các hợp phần này bao gồm
tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý [22].
Để xác định loại cây trồng đưa vào nhằm cải tiến hệ thống cây trồng cũ cần nắm
được:
- Hệ thống cây trồng cũ hiện có là gì ? Hiệu quả sản xuất của nó như thế
nào ? Có điều kiện gì khiếm khuyết cải tiến ?
- Điều kiện đất đai của vùng chuyển đổi như thế nào ? phù hợp với những
loại cây trồng gì ?
- Điều kiện của nông hộ ra sao ? điều kiện kinh tế, lao động vốn, kinh
nghiệm sản xuất.
Từ đó mới có được cơ sở cho việc xây dựng một hệ thống cây trồng cải
tiến phù hợp với môi trường xung quanh nó và các nguồn lực có được.
Vũ Tuyên Hoàng (1987), ở trung du miền núi các loại cây lương thực cần
được sắp xếp theo các hệ thống cây trồng hợp lý, trên cơ sở thâm canh, luân canh
tăng vụ. Trong hệ thống cây trồng cần xác định cây chủ lực (có thể là lúa, ngô
hoặc cây khác tuỳ thuộc điều kiện nơi sản xuất) [12].
là nghiên cứu hiệu quả sinh thái học tức là nghiên cứu quá trình chuyển hoá năng
lượng tích tụ ở đầu ra trên cơ sở này con người đã lợi dụng nó để nâng cao hiệu
quả sinh học, bổ xung và hoàn thiện tạo ra tổng khối lượng sản phẩm trên đơn vị
diện tích đất là lớn nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Theo Nguyễn Văn Luật, (1991) thì: Hệ thống canh tác là tổng hợp các loại
cây trồng được bố trí theo không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật
được thực hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì của đất [17].
Cơ cấu cây trồng là tỷ lệ các loại cây trên một diện tích canh tác. Tỷ lệ này
một phần nào đó nói lên trình độ thâm canh sản xuất của từng vùng. Tỷ lệ cây
lương thực cao, tỷ lệ cây công nghiệp, cây thực phẩm thấp phản ánh trình độ phát
triển nông nghiệp thấp. Tỷ lệ các loại cây trồng có sản phẩm tiêu thụ tại chỗ cao,
các loại cây trồng có sản phẩm có giá trị và xuất khẩu thấp chứng tỏ sản xuất ở
vùng đó kém phát triển và ngược lại. Dựa vào cơ cấu cây trồng có thể biết được
nền nông nghiệp của nước đó phát triển hay không.
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp là tổng thể của nhiều thứ hệ trong nội bộ
ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến nông thuỷ sản . . . phản ánh
mối quan hệ tác động lẫn nhau, giữa các yếu tố kinh tế, yếu tố cấu thành năng suất,
quan hệ sản xuất gắn liền với không gian và thời gian nhất định cả về số lượng và
chất lượng. Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao, nếu bố trí một cơ cấu thích
hợp sẽ giảm bớt sự căng thẳng thời vụ và hạn chế lao động nhàn rỗi theo các chu
kỳ sinh trưởng khác nhau, không trùng nhau theo cây trồng, vật nuôi.
Cơ cấu cây trồng mở rộng phải gắn liền với một nền công nghiệp và nông
nghiệp phát triển. Hiện nay cơ cấu cây trồng theo nghĩa rộng biểu hiện các mối
quan hệ, tỷ lệ trồng trọt với chăn nuôi, giữa cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây
nguyên liệu, cây ăn quả, cây thực phẩm. Trong chăn nuôi giữa gia súc và gia cầm,
thuỷ đặc sản . . .Hơn nữa cơ cấu cây trồng phải gắn liền với lưu thông, chế biến,
canh cây lúa mì với chế độ canh tác 3 vụ, năng suất lúa mì thấp chỉ đạt 6 - 7 tạ/ha.
Dân số tăng lên lương thực ở các nước này thiếu trầm trọng. Để tăng sản lượng
lương thực thì phải giảm diện tích trồng cỏ, chuyển sang trồng lúa mì thì lại làm
cho chăn nuôi giảm sút vì thiếu thức ăn. Chăn nuôi kém kéo theo năng suất cây
trồng giảm vì thiếu phân bón dẫn đến ngành nông nghiệp rơi vào tình trạng khó
khăn và khủng hoảng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Do vậy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đầu tiên đã được ra đời đánh
dấu một bước ngoặt của lịch sử phát triển nông nghiệp. Nội dung đó là: Thay chế
độ độc canh bằng chế độ luân canh: Cỏ ba lá - lúa mì - củ cải - thức ăn gia súc.
Trong cơ cấu cây trồng mới này ngoài cây lương thực còn có cây thức ăn gia súc,
củ cải, cỏ ba lá là cây họ đậu có tác dụng cải tạo và tăng độ phì cho đất, mặt khác
có thức ăn cho gia súc nên chăn nuôi phát triển, nguồn phân bón dồi dào. Vì vậy
năng suất lúa mì vào thế kỷ 19 tăng lên đạt 14 - 18 tạ/ha và sau đó lại đưa thêm
khoai tây cơ cấu cây trồng đã giúp cho hàng ngàn người khỏi chết đói.
Trong cuộc cách mạng xanh đang diễn ra ở một số nước nhiệt đới những
năm gần đây khi đưa giống lúa mì ngắn ngày năng suất cao vào cơ cấu cây trồng
đã làm cho sản lượng lương thực tăng lên một cách nhảy vọt và còn mở ra thêm
khả năng tăng vụ, đặc biệt là với cây thức ăn gia súc, rau và cây công nghiệp ngắn
ngày.
Cơ cấu cây trồng mang tính lịch sử và xã hội nhất định. Quá trình sản xuất
cụ thể sẽ khác nhau giữa các vùng, bởi vì chúng có điều kiện tự nhiên, điều kiện
lịch sử và xã hội khác nhau. Vì vậy mà không có một cơ cấu cây trồng mẫu nào
cho mọi vùng sản xuất mà nó chỉ có ý nghĩa kế thừa, chọn lọc để phù hợp với điều
kiện tự nhiên và trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Quá trình sản xuất xác lập
được mối quan hệ cân đối về lượng thì lập tức lại xuất hiện khác nhau về chất, nó
phản ánh quy luật chung của phát triển.
cây trồng như các biện pháp kỹ thuật, nhưng khi bố trí nó ta phải nắm được đầy
đủ các biện pháp kỹ thuật của từng loại cây trồng, những điều kiện ngoại cảnh tác
động đến cây trồng đó.
Cây trồng là sinh vật sống, vì vậy chúng chịu tác động rất lớn vào điều kiện:
Đất đai, khí hậu, nước, sâu bệnh, trình độ hiểu biết của người quản lý nó, điều
kiện kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật . . .Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu cây trồng là
phải tiến hành từng bước một, từ làm thử rồi mới đến diện rộng và phổ triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Để xây dựng được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả tối ưu thì ta phải
căn cứ vào một số điều kiện cụ thể trong không gian nhất định và ở thời gian nhất
định như:
- Điều kiện khí hậu: Là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc xác định cơ
cấu cây trồng. Cơ cấu cây trồng trước hết phải lợi dụng được tất cả các thuận lợi
của khí hậu như: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng . . . . Để bố trí như thế nào cho cây
trồng phát triển tốt nhất, cho năng suất sản lượng cao nhất. Tuy nhiên các yếu tố
khí hậu cũng có lúc thuận và khi khó khăn cho sự phát triển của cây trồng như
nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, độ ẩm thay đổi cũng gây ra úng hoặc hạn. Vì vậy
khi xây dựng cơ cấu cây trồng thì cần phải dựa vào cơ sở số liệu về điều kiện thời
tiết, khí hậu để bố trí cây trồng hợp lý, tránh được tất cả những mặt hạn chế tới
mức thấp nhất thiệt hại do điều kiện gây ra.
- Điều kiện đất đai và thuỷ lợi: Đất đai là một trong những căn cứ quan
trọng sau điều kiện khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng, ngoài ra đất còn là nơi
cung cấp nước và dinh dưỡng chủ yếu cho cây trồng. Tuỳ thuộc vào điều kiện địa
hình, độ dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới của đất . . . để bố trí hệ thống
cây trồng phù hợp [2], [6], [25]. Việc sử dụng đất dốc, xói mòn nhiều, các tính
chất lý hoá của đất và các biện pháp canh tác có thể áp dụng để trống sói mòn theo
các điều kiện cụ thể của từng vùng sinh thái [1], [2]. Cây trồng phát triển tốt hay
- Với sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng đòi hỏi phải có
đầu tư lao động, vật tư kỹ thuật cần thiết vào đồng ruộng thì cây trồng mới cho
năng suất cao và ổn định.
- Sâu bệnh: Do điều kiện khí hậu khác nhau thì thành phần cây trồng khác
nhau và thành phần sâu bệnh cũng khác nhau. Nắm chắc được quy luật phát sinh
và mức độ phá hại do sâu bệnh ra trên đồng ruộng thì sẽ hạn chế được mức độ
thiệt hại gây ra đối với cây trồng. Khi cơ cấu cây trồng thay đổi thì thành phần sâu
hại cũng thay đổi theo và đồng thời cũng sẽ xuất hiện nhiều loại sâu bệnh mới. Vì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
vậy phải có nghiên cứu để dự đoán được trước tình hình phát sinh sâu bệnh hại để
có biện pháp phòng trừ.
- Biện pháp kỹ thuật: Là tác động của con người vào đất, vào cây trồng hay
là vào quần thể sinh vật trong đồng ruộng như: Biện pháp làm đất, bón phân
phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại . . .
Mục đích của chúng ta là điều khiển được hệ thống cây trồng, làm thế nào
để hệ sinh thái có năng suất cao nhất.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Cơ cấu cây trồng còn bị chi phối bởi những
điều kiện kinh tế xã hội như:
+ Trình độ dân trí: Trong điều kiện kinh tế dân chí còn hạn chế, những hiểu
biết về khoa học kỹ thuật chưa đáng kể thì việc áp dụng các cơ cấu cây trồng đa
dạng với những giống mới đòi hỏi thâm canh cao, kỹ thuật nghiêm ngặt thì chắc
chắn sẽ kém hiệu quả và không đạt năng suất. Vì thế tuỳ theo mỗi vùng mà người
ta bố trí cơ cấu cây trồng, đưa các giống mới vào sản xuất cho hợp lý.
+ Cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng: Liên quan rất nhiều đến việc bố trí cơ cấu
cây trồng: Giao thông phải thuận lợi cho việc vận chuyển, hệ thống thuỷ lợi phải
đảm bảo tốt cho phục vụ sản xuất.
+ Tập quán tiêu dùng của xã hội cũng chi phối việc lựa chọn cơ cấu cây
Căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản trên, đối với Thành phố Lào Cai, để
lựa chọn cải tiến cơ cấu cây trồng cũng cần đáp ứng đầy đủ những nhu cầu mà
nông dân mong muốn thì cơ cấu cây trồng mới có thể tồn tại và phát triển bền
vững.
1.3. NGHIÊN CỨU CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT
Nước ta là một nước đa dạng về tài nguyên sinh học, địa hình tự nhiên đa
dạng, có tập đoàn cây trồng phong phú từ các cây trồng ôn đới cho đến các cây
trồng nhiệt đới. Do vậy nước ta có nhiều loại nông sản phẩm khác nhau, ở nhiều
mùa vụ khác nhau. Làm thế nào để khai thác được tối đa các nguồn lợi tự nhiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
đó là một vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, các nghiên cứu đó đã
được nhiều nơi vận dụng thành công vào điều kiện sản xuất của vùng.
GS.VS. Đào Thế Tuấn cùng nhiều nhà khoa học của viện KHKTNN , đã có
nhiều công trình nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng Đồng bằng Sông
Hồng từ những năm 1960, đã đưa ra một số cơ cấu cây trồng cho đến nay vẫn phát
huy hiệu quả:
- Trên đất 2 vụ lúa đã đưa thêm một vụ rau đông với khoai tây, khoai lang,
ngô . . .
- Trên đất 2 lúa ngập nước: Lúa Xuân – lúa mùa – bèo dâu
hay: Lúa Xuân - điền thanh – lúa mùa – bèo dâu
Tuy nhiên các loại cây trồng như bèo dâu, điền thanh chỉ có tác dụng làm
dầu thêm dinh dưỡng cho đất mà không cho sản phẩm kinh tế, nếu chọn lựa được
cây trồng vừa cải thiện được cho đất vừa cho hiệu quả kinh tế thì sẽ khuyến khích
được người nông dân áp dụng cao hơn [23], [24].
Trên vùng miền núi phía Bắc cũng có nhiều công trình nghiên cứu như:
- Hồ Tấn Kháng, Nguyễn Mộng, Phạm Trần An (1963) đã cho thấy: