LUẬN VĂN: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và quản lý mạng lưới kênh phân phối dược phẩm trong nước tại Công ty Dược Phẩm Trung Ương I pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức
và quản lý mạng lưới kênh phân phối dược
phẩm trong nước tại Công ty Dược Phẩm
Trung Ương I

thì ít nhưng nhu cầu dược phẩm lại lớn nên hệ thống kênh phân phối của ngành dược
phẩm rất đa dạng, từ kênh dài tới kênh ngắn, trực tiếp tới gián tiếp, đặc biệt các cửa hàng
bán lẻ thuốc rất phát triển do người tiêu dùng thường mua thuốc ở đây. Để cho hệ thống
này hoạt động thông suốt, hiệu quả thì các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh dược
phẩm cần phải tổ chức các kênh phân phối của mình một cách hợp lý và quản lý chúng
chặt chẽ.
Trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường dược trong nước, để có thể
tồn tại và giữ vững vị trí của mình thì công ty dược phẩm TW1 phải có những biện pháp
tích cực trong công tác quản lý của mình.Một trong biện pháp giúp công ty có thể đạt
được các mục tiêu đã đặt ra chính là quản lý kênh phân phối. Kênh phân phối là một
trong bốn công cụ marketing mix của doanh nghiệp, có vai trò quan trọng trong hoạt
động tiêu thụ sản hàng hoá với chức năng là đường dẫn các nỗ lực marketing tổng thể của
doanh nghiệp tới thị trường mục tiêu. Kênh phân phối sẽ là một lợi thế cạnh tranh dài hạn
và có hiệu quả nếu nó được tổ chức tốt và quản lý đúng phương pháp. Kênh phân phối là
yếu tố khó thay đổi nhất trong marketing mix và lại không dễ dàng bị sao chép bởi đối
thủ cạnh tranh. Việc quản lý tốt hệ thống kênh hiện có sẽ giúp công ty khai thác tốt tiềm
năng thị trường và hạn chế sự đe doạ của đối thủ cạnh tranh cả hiện tại cũng như tiềm ẩn.
Mặc dù công ty đã có rất nhiều biện pháp hoàn thiện kênh phân phối nhưng từ khi Việt
Nam gia nhập WTO tình hình thị trường ngày càng cạnh tranh, trước đây công ty Dược
phẩm TW 1 là 100% vốn nhà nước hoạt động theo cơ chế bao cấp, bây giờ đã phải thay
đổi để đáp ứng với nhu cầu của thị trường. Khi Việt Nam mở cửa các công ty dược phẩm
đa quốc gia đã nhanh chóng nhảy vào Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường. Nếu công ty
không tiếp tục hoàn thiện kênh phân phối sẽ dần dần mất thị trường, các đối thủ cạnh
tranh sẽ tìm mọi cách tiếp cận thị trường, sử dụng các chiến lược marketing kinh doanh
để giành giật thị trường với công ty Dược phẩm TW1. Khi công ty không tìm cách hoàn
thiện mình thì sẽ dần dần mất thị trường giảm doanh thu dẫn đến trở thành một công ty
nhỏ lẻ. Chính vì nguyên nhân ấy việc hoàn thiện và quản lý kênh phân phối là một việc

Phương pháp nghiên cứu:
- Tại bàn: nghiên cứu số liệu của công ty và xem thực trạng kinh doanh của công
ty hiện nay từ đó tìm ra được các giải pháp phù hợp
- Thực địa: tìm hiểu nhu cầu sử dụng thuốc và tiêu thụ thuốc của công ty trên thị
trường để đánh giá được tình hình phân phối thuốc của công ty và thực trạng
kinh doanh trên thực tế
Phạm vi nghiên cứu: Trên địa bàn Hà nội
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2007 đến tháng 4/2007.
4.Những nội dung cơ bản của chuyên đề:
Qua quá trình nghiên cứu em xin trình bày chuyên đề của mình
Chương 1:Tổ chức và quản lý kênh phân phối các sản phẩm dược phẩm ở
Việt Nam
Chương 2:Thực trạng tổ chức và quản lý mạng lưới kênh phân phối ở công ty
dược phẩm TW1
Chương 3:Một số biện pháp nhằm hoàn thiện việc tổ chức và quản lý mạng
lưới kênh phân phối dược phẩm tai công ty dược phẩm TW1
Muốn hoàn thiện được kênh phân phối và tổ chức nó 1 cách hiệu quả thì ta phải
hiểu rõ vai trò của kênh phân phối là gì và thực trang kênh phân phối ở Việt Nam hiện
nay như thế nào ?
a. Vai trò của kênh phân phối trong nền kinh tế thị trường hiện nay là thực hiện
công việc chuyển hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nó vượt qua những
ngăn cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu xen giữa hàng hoá và dịch vụ với
những người sẽ sử dụng chúng. Các thành viên trong một kênh phân phối thực hiện một
số chức năng then chốt và tham gia vào những dòng Marketing sau:
-Thông tin: Thu thập và phổ biến thông tin cùng nghiên cứu Marketing về các
khách hàng tiềm ẩn và hiện có, các đối thủ cạnh tranh và những thành viên cùng những
lực lượng khác trong môi trường Marketing.
-Khuyến mãi: Soạn thảo và truyền bá những thông tin về hàng hoá nhằm thu hút
khách hàng.
- Thương lượng: Cố gắng đạt cho được thoả thuận cuối cùng về giá cả và những
điều kiện khác để có thể thực hiện được việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử
dụng hàng hoá, dịch vụ.
- Đặt hàng: Thông tin phản hồi về ý đồ mua hàng của các thành viên kênh phân
phối gửi đến người sản xuất.
- Tài trợ: Tìm kiếm và phân bổ vốn cần thiết để dự trữ hàng hoá ở các cấp khác
nhau của kênh phân phối.
- Chấp nhận rủi ro: Gánh chịu những rủi ro liên quan tới việc thực hiện hoạt động
của kênh.
- Làm chủ tài sản vật chất: Đảm bảo bảo quản và lưu thông sản phẩm vật chất từ
nguyên liệu thô đến khách hàng cuối cùng.
- Thanh toán: Người mua thanh toán hoá đơn của mình qua ngân hàng và các
định chế tài chính khác cho người bán.
- Quyền sở hữu: Chuyển giao thực sự quyền sở hữu từ một tổ chức hay cá nhân

nghiệp
Ng ời
sản
xuất
(tổ
chức
đầu
nguồn)

Ng ời
sử
dụng
sản
phẩm

Ngời
bán lẻ

Ngời
bán lẻ

Ngời
bán lẻ

Ngời
bán
buôn
C2
Ngời bán
buôn C1

Kh¸ch hµng (ng êi sö dông)Nguồn: Giáo trình Marketing TM của TS Nguyễn Xuân Quang
Trong dạng kênh này doanh nghiệp không sử dụng người mua trung gian để phân
phối hàng hoá mà lực lượng bán hàng của doanh nghiệp (kể cả đại lý hoa hồng có hợp
đồng) chịu trách nhiệm trực tiếp bán hàng đến tận người sử dụng hàng hoá (người mua
công nghiệp đối với hàng tư liệu sản xuất và người tiêu thụ cuối cùng đối với hàng tiêu
dùng). Thường áp dụng với hàng công nghiệp vì lượng khách hàng ít, tập trung về mặt
địa lý và mua với số lượng lớn cho mỗi lần mua.
* Kênh phân phối gián tiếp
Là dạng kênh phân phối mà trong đó doanh nghiệp không trực tiếp mà bán hàng
của mình cho người sử dụng sản phẩm thông qua các người mua trung gian là nhà bán
buôn các cấp hay nhà bán lẻ. Tùy theo từng trường hợp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn
người mua trung gian phù hợp. Thường áp dụng cho hàng hoá tiêu dùng thông thường vì
khối lượng khách hàng lớn, phân tán về địa lý và mỗi lần thường mua với số lượng nhỏ.
Sơ đồ 1.3 Dạng kênh phân phối gián tiếp

Doanh nghiÖp

§ ¹i lý

Lùc l î ng b¸n
hµng cña
doanh nghiÖp

C¸c ng êi mua trung gian

người mua trung gian.
Ngoài ra, có thể phân chia các dạng kênh phân phối theo tiêu thức dài - ngắn. Để
thiết kế kênh phân phối hàng hoá, doanh nghiệp có thể lựa chọn dạng kênh dài hoặc kênh
ngắn và cũng có thể phối hợp cả hai dạng trên để có phương án kênh hỗn hợp.
* Kênh phân phối ngắn
Là dạng kênh phân phối trực tiếp từ doanh nghiệp đến người sử dụng sản phẩm
hoặc có sử dụng người mua trung gian nhưng không có quá nhiều người mua trung gian
xen giữa khách hàng và doanh nghiệp. Thông thường kênh ngắn được xác định trong
trường hợp không có hoặc chỉ có một loại người mua trung gian tham gia vào kênh phân
phối của doanh nghiệp.
Dạng kênh này có ưu điểm là không làm tăng nhiều chi phí trung gian trong bán
hàng. Doanh nghiệp có thể thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc "gần" với khách hàng để
hiểu rõ và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của họ.
Đồng thời với dạng kênh này doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn quá trình bán
hàng, kiểm soát và điều chỉnh tốt hơn các mục tiêu và công cụ Marketing của mình. Để
sử dụng kênh này đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển mạnh lực lượng bán hàng cơ hữu
của mình. Bộ phận bán hàng sẽ phải rất lớn, chi phí cho bộ phận này cao và doanh nghiệp
không có khả năng chuyên môn hoá.
* Kênh phân phối dài
Là dạng kênh phân phối có sự tham gia của nhiều loại người mua trung gian. Hàng
hoá của doanh nghiệp có thể được chuyển dần quyền sở hữu cho một loạt các nhà buôn
lớn đến nhà buôn nhỏ hơn rồi qua nhà bán lẻ đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Dạng kênh này được áp dụng có hiệu quả khi giới hạn tổng quát được xác định rộng
với các nhóm khách hàng phân tán vì sử dụng có hiệu quả các ưu điểm vốn của người mua
trung gian. Nhằm kéo dài tầm với của doanh nghiệp đến các khách hàng ở các khu vực thị
trường xa, tốt nhất doanh nghiệp nên sử dụng các kênh phân phối dài có sự tham gia của
nhiều người trung gian.
Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể tuỳ ý lựa chọn dạng kênh phân phối mà mình
thích, nhưng cần nắm vững ưu, nhược điểm của các dạng kênh khác nhau, đòi hỏi đáp ứng


7> Lựa chọn các thành viên tham gia vào kênh
Mỗi công việc trên phải được thực hiện cẩn thận và theo một trình tự phù hợp để
thiết lập được hệ thống kênh phân phối hiệu quả.
Sau khi doanh nghiệp đã lựa chọn loại cấu trúc kênh và các thành viên của kênh,
hoàn thiện tổ chức các quan hệ trong kênh thì một kênh phân phối hoạt động như một
tổng thể hình thành. Hệ thống kênh có thể được xem như là một hệ thống xã hội trong đó
mỗi thành viên phụ thuộc vào những người khác, mỗi thành viên giữ một vai trò nhất
định và họ có những kỳ vọng nhất định vào các người khác. Doanh nghiệp phải thực hiện
chức năng quản lý điều hành hoạt động của các hệ thống kênh phân phối của mình.
Quản lý kênh phân phối được hiểu là toàn bộ các công việc quản lý điều hành hoạt
động của hệ thống kênh nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa các thành viên kênh đã được lựa
chọn qua đó thực hiện các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp. Quản lý kênh nhằm
đảm bảo sự hợp tác giữa các thành viên trong kênh và phải nhằm vào những mục tiêu
phân phối định trước.
Hiện nay Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần với vị trí địa lý đất nước trải
dài từ bắc vào nam vì thế các doanh nghiệp phải luôn linh hoạt trong việc tổ chức kênh
phân phối làm sao có thể đưa đựơc sản phẩm dến được người tiêu dùng 1 cách hiệu quả
nhất.
II. Dược phẩm - Một sản phẩm đặc thù
Dược phẩm cũng như tất cả các loại hàng hoá khác được sản xuất và kinh doanh trên
thị trường cũng chịu sự tác động của các quy luật thị trường như quy luật giá trị, quy luật
cung cầu, luật cạnh tranh… Song dược phẩm có những đặc điểm riêng mà bất cứ tổ chức, cá
nhân nào khi tham gia sản xuất, kinh doanh và quản lý loại sản phẩm này đều phải quan tâm
và hiểu rõ tính năng, tác dụng và đặc điểm của nó.
1.Dược phẩm - sản phẩm liên quan đến sức khoẻ con người
Dược phẩm là loại hàng hoá có liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng con
người. Đây là sự khác biệt cơ bản nhất của dược phẩm so với các loại hàng hoá khác.

vừa có tác dụng chính trong điều trị bệnh song cũng có thể gây ra những tiêu dùng phụ
không mong muốn. Điều này đòi hỏi bất kỳ người bệnh hoặc người tiêu dùng nào cũng
phải được chỉ định về loại thuốc, số lượng, liều lượng, cách dùng, tác dụng phụ của thuốc
có thể xảy ra trong quá trình dùng thuốc phòng và điều trị bệnh.
3.Dược phẩm - một sản phẩm cần đạt những yêu cầu chặt chẽ
Dược phẩm có quy định chặt chẽ về chất lượng thuốc và thời gian sử dụng hay
còn gọi là "tuổi thọ của thuốc" nên trong quá trình sản xuất kinh doanh dược phẩm, người
sản xuất kinh doanh, cơ quan quản lý Nhà nước về Dược và đặc biệt là người tiêu dùng
cần thiết phải luôn luôn theo dõi chất lượng và tuổi thọ của thuốc. Trong thời hạn sử
dụng, thuốc sẽ phát huy tốt tác dụng, nếu quá thời hạn đó thuốc có thể giảm chất lượng
hoặc không còn tác dụng và sẽ gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng người tiêu dùng.
Có nhiều loại thuốc dễ bị biến chất dưới tác động của môi trường nếu không được bảo
quản đúng điều kiện, vì vậy người sản xuất, kinh doanh thuốc cần có kho bảo quản các
loại thuốc đặc biệt đó.
4.Dược phẩm - loại sản phẩm phổ biến
Dược phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng con người
mà còn là hàng hoá thiết yếu đối với bất kỳ người dân nào. Như vậy ta có thể thấy rằng
phạm vi và nhu cầu sử dụng thuốc rất rộng lớn, luôn tỷ lệ thuận với sự gia tăng dân số.
Người sản xuất, kinh doanh dược phẩm hay Nhà quản lý các hoạt động sản xuất
kinh doanh thuốc cũng cần nhận thức rằng nhu cầu về thuốc không chỉ phụ thuộc vào dân
số, điều kiện tự nhiên, xã hội mà còn phụ thuộc vào sự gia tăng mức thu nhập của người
dân, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế mà người dân có nhu cầu thuốc khác nhau. Những
người có thu nhập cao thường có xu hướng chọn các loại thuốc có giá trị tiền cao, nhất là
thuốc ngoại trong khi những người có thu nhập thấp lại mua các loại thuốc nội có giá
thành thấp hơn. Khi mức thu nhập của người dân được nâng lên thì nhu cầu về mua và sử
dụng thuốc của họ cũng được nâng lên, điều kiện lựa chọn và khả năng chi trả của họ
cũng tăng lên.

kinh tế với các nước trên thế giới, thị trường dược phẩm cũng phải mở cửa để cho nhiều
hãng dược phẩm lớn của nước ngoài xâm nhập và cạnh tranh với các hãng của Việt Nam.
- Môi trường văn hoá xã hội: Sự thay tăng dân số nhanh chóng và các bệnh nan
y, bệnh lạ ngày càng xuất hiện nhiều đã làm nhu cầu sử dụng thuốc ngày càng tăng lên.
Nhiều người dân vẫn còn xu hướng sính dùng hàng ngoại nên số lượng thuốc nhập ngoại
rất lớn dù trong nước đã sản xuất được gây ảnh hưởng đến sự phát triển ngành sản xuất
dược phẩm trong nước.
- Môi trường kỹ thuật công nghệ: Nhờ công nghệ thông tin phân phối giúp tổ
chức kênh ngắn gọn hơn, không quá nhiều thành viên trung gian đồng thời sự quản lý các
thành viên kênh đơn giản mà vẫn đạt hiệu quả cao. Các tiến bộ trong lĩnh vực khoa học
khác đã hỗ trợ cho hoạt động tổ chức và quản lý mạng lưới kênh phân phối thuốc.
- Môi trường chính trị - pháp luật: gồm thể chế chính sách của Nhà nước quy
định về hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm, pháp lệnh về giá, luật cạnh tranh, luật
chống độc quyền, luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ… cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc
thiết kế và quản lý hệ thống kênh phân phối dược phẩm của các doanh nghiệp. Trước đây
Nhà nước chỉ cho phép 1 hãng dược phẩm nước ngoài làm nhà phân phối thuốc ngoại
trên thị trường Việt Nam nên hãng này đã thao túng thị trường, gây khó khăn cho các
doanh nghiệp trong việc mua và phân phối thuốc. Khi nhà nước chưa có những quy định
và chính sách về quản lý giá đã làm cho các cửa hàng tự ý nâng giá thuốc, ảnh hưởng đến
cuộc sống của mọi người dân. Hiện nay Nhà nước đang thảo luận để đưa ra chính sách về
giá thuốc và nhập khẩu thuốc góp phần làm bình ổn thị trường này.
- Trình độ dân trí: đây cũng là một tác nhân ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu về
thuốc vì thực chất nhu cầu thuốc xuất phát từ nhận thức về sức khoẻ và bảo vệ sức khoẻ
của người dân.
Ngoài ra còn có một số nhân tố thuộc môi trường vi mô ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động tổ chức và quản lý kênh phân phối của doanh nghiệp như:
- Mục tiêu phân phối của các thành viên kênh và các yêu cầu của hoạt động phân

còn phải quan tâm đến việc xây dựng quy định về Y đức, Dược Đức cho người
hành nghề Y và Dược, đồng thời có biện pháp xử phạt nghiêm minh đối với những
người vi phạm quy định về hành nghề đặc biệt là vi phạm về đạo đức nghề nghiệp.
Điều này ảnh hưỏng nhiều đến kênh phân phối dược phẩm ở việt nam.Nó mang
tác động tích cực đến bộ mặt dược phẩm.Sự can thiệp của nhà nước giúp các
doanh nghiệp trong nước có điều kiện phát triển đồng thời cũng mở của cho các
doanh nghiệp nước ngoài vào việt nam.
Trên thị trường ở Việt Nam hiện nay, số lượng doanh nghiệp sản xuất dược phẩm
không nhiều nhưng nhu cầu dược phẩm lại lớn nên hệ thống kênh phân phối của ngành
dược phẩm rất đa dạng, từ kênh dài tới kênh ngắn, trực tiếp tới gián tiếp, đặc biệt các cửa
hàng bán lẻ thuốc rất phát triển do người tiêu dùng thường mua thuốc ở đây. Đối với mặt
hàng dược phẩm, có thể thấy thị trường dược phẩm rất rộng, hầu hết mọi người đều có
nhu cầu sử dụng một loại dược phẩm nào đó nên có một hệ thống mạng lưới kênh phân
phối thuốc rộng rãi tới mọi nơi là cần thiết để đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của
người tiêu dùng.Chính vì thế hiện nay việc tổ chức và hoàn thiện kênh phân phối là việc
cấp bách với bất kì doanh nghiệp dược phẩm nào.
Đối với kênh phân phối dược phẩm chung của các doanh nghiệp trên thị trừơng
Việt Nam là thế , muốn xây dựng hoàn thiện và tổ chức hiệu quả kênh phân phối của
công ty dựơc phẩm TW1 ta cần phải hiểu rõ thực trạng kênh phân phối hiện nay của
Công ty. Điều này sẽ được em nói đến trong Chương II: Thực trạng Tổ chức và quản lý
mạng lưới kênh phân phối ở Công ty dược phẩm TWI

đường Giải Phóng, 136 Nguyễn Lương Bằng, 105/106 Nguyễn Công Trứ, Khu đô
thị mới Định Công, số 7 và 8 Ngọc Khánh, 31 Láng Hạ.
Các lĩnh vực kinh doanh của công ty bao gồm:
- Kinh doanh xuất nhập khẩu các thành phẩm thuốc tân dược, đông dược phòng và
chữa bệnh cho người. Các nguyên phụ liệu để sản xuất thuốc tân dược, bao bì dược phẩm
và các sản phẩm y tế khác. Tinh dầu, hương liệu, dầu động thực vật phục vụ trong ngành
y tế. Bông băng gạc, kính mát, kính thuốc, dụng cụ y tế thông thường, vật tư y tế tiêu
hao, máy móc thiết bị y tế và dược. Mỹ phẩm, sản phẩm vệ sinh, sản phẩm dinh dưỡng.
Hóa chất các loại, kể cả các hóa chất xét nghiệm và kiểm nghiệm trong ngành y tế. Sinh
phẩm và vắc xin tiêm chủng các loại.
- Dịch vụ nhập khẩu ủy thác, cho thuê văn phòng kho xưởng, dịch vụ vận chuyển
hàng hóa.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Dược phẩm TWI
1.2.1. Lịch sử hình thành
Công ty Dược phẩm TW 1 đã được hình thành từ năm 1945 ngay sau khi đất nước
giành được độc lập. Do quy mô và phạm vi hoạt động còn nhỏ hẹp nên ban đầu là một
đơn vị trực thuộc Bộ Nội thương dưới tên gọi: Công ty thuốc Nam-Bắc. Đến năm 1956
chuyển về Bộ Y tế quản lý, trực thuộc Cục phân phối Dược phẩm với tên gọi Quốc doanh
Y Dược phẩm trung ương.
Công ty chính thức được thành lập ngày ngày 01/4/1971 với tên gọi: “ Công ty
Dược Dược phẩm cấp 1” và đổi tên thành “ Công ty Dược phẩm TW 1” theo quyết định
số 408/BYT-QĐ ngày 22 tháng 4 năm 1993.
Khi thành lập năm 1993, công ty có vốn kinh doanh bao gồm:
Vốn cố định: 41 tỷ 202 triệu đồng
Vốn lưu động: 4 tỷ ba trăm sáu mươi hai triệu đồng.
Hiện nay công ty được xếp là Doanh nghiệp Nhà nước hạng I và hạch toán kinh tế
độc lập, chịu sự quản lý về chuyên môn của Bộ Y tế và Tổng Công ty Dược Việt Nam.

phẩm TW1 đã và đang hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là áp dụng công nghệ
thông tin trong hệ thống quản lý để nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, cung cấp các dịch
vụ tốt nhất cho khách hàng. Hiện tại công ty đã kinh doanh khoảng 2000 mặt hàng với
3000 khách hàng, trong đó có hơn 500 khách hàng thường xuyên. Trong đó, đặc biệt là
công ty đã cung cấp thuốc qua các chương trình, qua kênh đấu thầu cho các bệnh viện
điều trị tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện, góp phần giúp các cơ sở khám chữa
bệnh nâng cao hiệu quả điều trị. Hiện tại công ty bắt đầu xây dựng kênh phân phối thuốc
tới tận các nhà thuốc bán lẻ, trước mắt là trong địa bàn thành phố Hà Nội.
1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ của công ty d-îc phÈm TW1
Như đã nói ở trên D-îc phÈm TW1 có cả 2 nhiệm vụ: phục vụ công ích về Y tế
quốc gia vừa kinh doanh sản xuất. Hiện nay công ty được Nhà nước giao cho các chức
năng và nhiệm vụ cụ thể như sau:
Chức năng:
Xuất nhập khẩu trực tiếp và ủy thác nguyên liệu, hóa chất, trang thiết bị, dụng cụ,
vật tư y tế, thành phẩm tân dược, hóa mỹ phẩm, các sản phẩm dinh dưỡng.
Kinh doanh, sản xuất và cung ứng thuốc đến các cơ sở kinh doanh, điều trị từ
trung ương tới địa phương.
Nhiệm vụ:
- Là người trợ giúp đắc lực cho Bộ Y tế và Tổng công ty Dược Việt Nam trong việc
tổ chức, chỉ đạo mạng lưới phân phối lưu thông dược phẩm. Tham mưu về đường
lối, chính sách về ngành dược cho Bộ Y tế và Tổng công ty Dược Việt Nam.
- Có nghĩa vụ nhận vốn, nhận nợ, bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực về tài sản cố định, trang thiết bị, vốn của Nhà nước giao cho để thực
hiện các nhiệm vụ kinh doanh và công ích mà hàng năm Tổng công ty Dược Việt
nam, Cục Quản lý Dược Việt Nam giao phó.
- Thực hiện nộp thuế đầy đủ cho ngân sách Nhà nước, trích nộp cho Tổng Công ty
Dược Việt Nam theo các quy định của điều lệ và quy chế tài chính của Tổng công

của công ty bao gồm:
- Ban Giám đốc (BGĐ) gồm một Giám đốc (GĐ) và 03 phó giám đốc (PGĐ).
- Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu (PKDXNK).
- Phòng Kho vận: kho tàng và vận chuyển hàng hoá .
- Phòng Kế toán tài vụ, phòng Tổ chức hành chính (PTCHC).
- Phòng Kỹ thuật kiểm nghiệm (PKTKN).
- Chi nhánh TP Hồ Chí Minh (CNTPHCM) + Chi nhánh tỉnh Bắc Giang (CNBG).
- Các hiệu thuốc (HT).
- Phòng Bảo vệ (PBV).
- Phân xưởng ra lẻ (PX).
1.3.2.Sơ đồ tổ chức và chức năng nhiệm vụ các phòng ban


CNBG

PKTTV

PTCHC

PBV

PKV

PX

PKTKN

HT 9
ĐC

HT 10
136
NLB

HT 8
NK

HT 1

HT 2

HT 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status