LUẬN VĂN:
Phân tích thực trạng đói nghèo ở thành
phố yên bái giai đoạn (2001 - 2005). nhận
xét và đánh giá
Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
nhân dân chưa được nâng cao và cải thiện. Tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao. Để ngăn chặn
tình trạng này nhằm đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế nên và cải thiện đời sống của người
dân đòi hỏi phải có đầu tư hợp lý và sự tham gia đồng bộ của các ban ngành và chính
quyền địa phương.
Cuộc đấu tranh chống nghèo đói đang ngày được chú trọng và trở thành vấn đề
của mọi quốc gia, nhưng cho đến nay các quan niệm về nghèo đói, cũng như cách giải
quyết, lưa chọn biện pháp XĐGN cũng rất khác nhau.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1: Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề chung về công tác
XĐGN, vị trí của công tác XĐGN trong đời sống xã hội để đưa ra được những nội
dung, phương hướng giải quyết cụ thể để cho công tác XĐGN của thành phố Yên Bái
đạt được hiệu quả cao và đến với được từng đối tượng cần trợ giúp trong những năm
tiếp theo.
2.2: Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, thì đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu và làm rõ thực trạng và nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở
thành phố Yên Bái.
Thứ hai: Làm rõ nội dung các chương trình, dự án trợ giúp cho người nghèo và
mối quan hệ giữa các chương trình, dự án.
Thứ ba: Công tác xoá đói giảm nghèo ở thành phố Yên Bái cùng với sự tham gia
của các chủ thể.
Thứ tư : Những nhận xét, đánh giá về công tác XĐGN ở thành phố Yên Bái giai
đoạn 2001- 2005 và đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo cho công tác
XĐGN, được đi sâu, đi sát với cuộc sống của hộ gia đình cần sự hỗ trợ và đạt được hiệu
quả cao, góp phần vào công tác XĐGN của cả nước.
3.Đối tượng và phạm vị nghiên cứu :
3.1: Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng đói nghèo ở thành phố Yên Bái
tác XĐGN, được đi sâu đi sát với cuộc sống của hộ gia đình cần sự hỗ trợ và đạt dược
hiệu quả cao, góp phần vào công tác XĐGN của cả nước.
Chương 1:
đói nghèo và sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo.
1.1: Các khái niệm chung về xoá đói giảm nghèo các chuẩn nghèo và các
phương pháp xác định đói nghèo.
Để cho công tác XĐGN đạt được kết quả cao nhằm cải thiện đời sống của người
dân, nâng cao dân trí, trình độ cho xã hội, góp phần tích cực vào chương trình XĐGN
Nghèo đói theo cách tiếp cận hẹp: Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của
một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp so với mức sống của một cộng đồng hay
một nhóm dân cư khác.
Nghèo đói theo cách tiếp cận rộng: Nghèo đói là do xã hội có sự phân hóa, mà
chính sự phân hoá ấy là hệ quả của chế độ kinh tế và chế độ xã hội.
Qua hai cách tiếp nhận thì cách tiếp cận thứ nhất có phần phiến diện, chưa bao
quát được tính chất tuyệt đối của nghèo đói, mà trên thực tế thì lúc nào cũng tồn tại
trong xã hội hiện đại cho dù ở các nước giàu nhất. Còn cách tiếp cận thứ hai đã cho ta
tiếp cận người nghèo một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với
giàu có và trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Theo Ngân hàng phát triển Châu á đã đưa ra khái niệm nghèo đói tuyệt đối và
nghèo đói tương đối.
Nghèo đói tuyệt đối: Là việc không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối
thiểu chỉ để duy trì cuộc sống của cơ thể con người.
Nghèo đói tương đối: Là tình trạng không có khả năng đạt tới mức sống tối thiểu
tại một thời điểm nào đó.
Qua việc xác định khái niệm nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối thì được
xem ở góc độ nào đó. Cũng có thể phù hợp ở nước này nhưng lại không phù hợp ở nước
khác.
Ngoài ra để phân bệt giữa giàu và nghèo, xác định nghèo đói người ta còn phải
đứng trên phương diện mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư, hay tiêu chí thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại,
giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức cao nhất hay thấp nhất
điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội cũng như phong tục tập quán
của từng vùng, từng quốc gia.
Vậy nghèo đói là gì? Tại hội nghị về nghèo đói do uỷ ban kinh tế - xã hội khu
vực châu á Thái Bình Dương ( ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan các quốc gia
trong khu vực thống nhất và cho rằng : “Nghèo đói là tình trạng một bộ dân cư không
có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy
Đối với nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo đói khi mà có thu nhập dưới 0,5
USD/ngày.
Đối với nước đang phát triển là 1 USD/ngày.
Các nước thuộc Châu Mỹ La tinh và Caribe là 2 USD/ngày.
Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày.
Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.
Tuy vậy các quốc gia đều tự đưa ra tiêu chuẩn riêng của mình, thông thường nó
thấp hơn thang nghèo đói mà ngân hàng thế giới đưa ra. Theo phương pháp trên và căn
cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đã
4 lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ
thể khác nhau: Giai đoạn 1993 -1995, giai đoạn 1996 -2000, giai đoạn 2001 - 2005 và
giai đoạn 2006 - 2010. Giai đoạn 2001 - 2005 có mức chuẩn nghèo như sau: Những
người có thu nhập dưới mức quy định sau được xếp vào nhóm hộ nghèo:
Vùng đô thị là 150 ngàn VNĐ/tháng/người ( 1,8 triệu/năm/người) tương ứng với
khoảng 0,33 USD/ngày/người, ngang với chuẩn nghèo của Trung Quốc hiện nay.
Vùng nông thôn đồng bằng là 100 ngàn VNĐ/tháng/người (1,2 triệu đồng một
người một năm).
Vùng nông thôn miền núi là 80 ngànVNĐ/tháng/người ( 0,96 triệu /năm/người).
Chuẩn nghèo 2006 -2010 theo tiêu chí mới như sau: Thực hiện Quyết định của
thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 -2010
đối vơi các khu vực:
Khu vực nông thôn những hộ có thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng tro xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng.
Ngoài tiêu chuẩn thu nhập bình quân, khi xác định hộ nghèo cần căn cứ vào nhu
cầu tối thiểu ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế -
xã hội và kết quả thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, các tỉnh, thành phố có thể
nâng chuẩn hộ nghèo cao hơn so với quy định trên đây với 3 điều kiện như sau:
Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh, thành phố cao hơn thu nhập bình quân
XĐGN trước tiên thuộc về trách nhiệm của chính phủ từng nước, bên cạnh nó là
các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng Thế giới( WB) Quỹ tiền tệ quốc tế( IMT), Hiệp hội
phát triển quốc tế( IDA), chương trình phát triển của liên hợp quốc(UNDP) giữ vai trò
hỗ trợ quan trọng giúp các quốc gia giảm bớt gánh nặng nghèo đói
Tại các nước công nghiệp phát triển tính đến năm 1998 vẫn còn hơn 100 triệu
người nghèo và hơn 100 triệu người không có nhà ở.
Tại các nước thuộc liên minh Châu âu(EU) có 57 triệu người chiếm 17% dân số
phải sống trong một gia đình khó khăn.
Châu Mỹ chiếm 364 triệu người chiếm 13,3% dân số châu lục này.
Tại Nam Phi và cận Xa – ha – ra còn 215 triệu người thuộc diện nghèo đói trong
đó các nước nghèo ở Châu Phi thì Ru - gan - da hiện đang là nước nghèo nhất thé giới
hiện nay thu nhập bình quân đầu người hàng năm chỉ đạt 80 USD.
Tại các nước ả –rập, hiện có khoảng 73 triệu người nghèo.
Tại Mỹ La Tinh và Caribê có khoảng 150 trịệu người còn phải sống trong cảnh
nghèo đói.
Ngoài ra nghèo đói còn phân biệt giữa các giới, nghĩa là tỷ lệ người nghèo đói
trong nữ giới vẫn trầm trọng hơn nam giới.
Phụ nữ chiếm 60% lưc lượng lao động trên thế giới, nhưng họ chỉ hưởng 10%
thu nhập và sử dụng chưa đầy đủ 1% ruộng đất của thế giới.
Qua việc thống kê tỷ lệ nghèo đói ở các nước như vậy ta thấy rằng hố ngăn cách
giữa giàu nghèo còn cao, nếu cứ nhìn vào thước đo tăng trưởng kinh tế như GDP thì ổn
định. Trên thực tế ta phải đặt câu hỏi sự tăng trưởng ấy đã đem lại những gì cho người
dân như : y tế, giáo dục, văn hoá, phúc lợi xã hội, công cộng, thông tin, tự do ngôn luận,
dân chủ, công bằng xã hội và tỷ lệ thất nghiệp…
Qua bức tranh nghèo đói trên thế giới như vậy đã cho ta thấy được những tồn tại
vẫn còn nhiều cần phải được giải quyết. Còn ở Việt Nam thì như thế nào?
Việt Nam là một nước nông nghiệp, kinh tế chưa phát triển lại trải qua nhiều
cuộc chiến tranh chống ngoại xâm bảo vệ độc lập và chủ quyền Quốc gia, vì vậy đói
nghèo là hiện tượng khá phổ biến và kéo dài qua nhiều thế hệ. Việt Nam vốn là nước
27,2
4
25,4
2
22,3
9
15,5
13,5
23,5
7
21,5
4
16,2
7
13,1
9
2.Đồng Bằng
Sông Hồng
11,0
1
9,84
8,38
6,53
5,25
7
10,7
7
5.Tây Nguyên 29,4
5
27,8
4
25,6
5
15,6
9
13,1
24,9
20,2
9
19,1
7
13,2
7
6. Đông Nam Bộ 6,47
5,50
4,75
,01 3,50
8,88
0
15,6
6
13,0
10,0
17,1
8
14,5
0
11,8
6
9,51
Tỷ lệ hộ nghèo theo khu vực nông thôn, thành thị năm 1996 -2002
Khu vực
Tỷ lệ hộ nghèo (%)
1996 199
7
199
8
199
9
200
0
2001 2002 2003
Khu vực thành thị 80,0 7,6 7,1 6,5 6,0 7,50 6,9 6,23
Khu cực nông
Năm 1999 có khoảng trên 1,5 triệu người phải cứu trợ đột xuất và thiếu đói. Năm
2000 theo báo cáo của 30 tỉnh, thành phố người thiếu đói là 1,3 triệu người. Bình quân
hàng năm có khoảng 7% số tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo.
Riêng năm 1999 có 115.000 hộ vượt qua ngưỡng nghèo đói thì có 40.000 hộ tái nghèo đói.
Tình trạng nghèo đói ở thành phố cũng phần nào phản ánh được bức tranh nghèo
đói ở nông thôn. Chẳng hạn, sự nghèo đói ở nông thôn đã thúc đẩy người dân di cư tự
do thường làm cho môi trường xã hội ở các đô thị thêm phức tạp, khó quản lý, tệ nạn xã
hội tăng và làm trầm trọng thêm đội quân thất nghiệp ở thành thị. Vì vậy, có thể nói
rằng nghèo đói là vấn đề ở khu vực nông thôn và xuất phát từ khu vực nông thôn, nhưng
nan toả ra cả nước và trở thành vấn đề cấp bách chung của toàn xã hội.
1.4 Sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo:
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) thông qua kết quả điều tra năm 992
vào khoảng 39% năm 1998 là 37% một số khu vực đặc biệt là đồng bào dân tộc tỷ lệ đói
nghèo khá cao trên 20%. Đói nghèo chủ yếu ở khu vực nông thôn chiếm 90% tổng số
hộ đói nghèo trong cả nước. Khu vực thành thị tỷ lệ nghèo tập chung vào dân mới nhập
cư. Khu vực miền núi phía bắc, vùng Bắc Trung bộ và Tây nguyên với tỷ lệ hộ nghèo
đói cao nhất. Vì nghèo đói đều phản ánh ở 3 khía cạnh chủ yếu của con người:
Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người.
Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Nếu không có các chương trình, chính sách, dự án đầu tư cho người nghèo, hộ
nghèo, vùng nghèo, xã nghèo thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của chính Quốc
gia đó. Vì nghèo đói ở bất cứ Quốc gia nào đều diễn ra theo vòng luẩn quẩn.
phát triển không quan tâm nhiều lắm đến nghèo đói tuyệt đối, vì mức sống của họ khá
cao, nhưng họ lại quan tâm nhiều hơn đến quyền lựa chọn, sự bình đẳng, đến vị thế xã
hội ( bình đẳng trong học tập, trong lao động, phân phốithu nhập, bình đẳng về chính
trị ) nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhưng dú có quan tâm đến các khía cạnh
khác nhau của nghèo đói, nhưng mục tiêu chung vẫn là cải thiện nâng cao chất lượng
cuộc sống, thu hẹp sự cách biệt giữa các nhóm dân cư, giữa các vùng, giữa nôngthôn và
thành thị, giữa nam giới và nữ giới về phân phối thu nhập, về tiếp cận các dịch vụ xã
hội, dịch vụ sản xuất, về quản lý phân bổ các nguồn lực xã hội và quyền ra quyết định
liên quan đến tiến trình phát triển xã hội và thụ hưởng các thành quả của phát triển. chương II
phân tích thực trạng xoá đói giảm nghèo ở thành phố yên bái giai đoạn 2001 -2005
2.1 Đặc điểm tình hình chung thành phố Yên Bái:
Do ảnh hưởng của dãy núi Hoàng Liên Sơn ở phía Tây và hồ Thác Bà ở phía
Đông nên thành phố Yên Bái có độ ẩm cao hơn một số nơi khác trong tỉnh, độ ẩm trung
bình là 87%, có lúc lên tới 90%.
Nằm ở vị trí nội chí tuyến, lượng bức xạ mặt trời là lớn và khá đồng đều. Số giờ
nắng trong năm phụ thuộc vào độ che phủ của mây, những tháng nhiều mây che khuất
mặt trời thì số giờ nắng giảm và ngược lại. Thành phố Yên Bái có số giờ nắng trung
bình một năm là 1.287 giờ.
Tài nguyên đất ở thành phố về nguồn gốc phát sinh có thể phân ra thành hai hệ
đất chính đó là hệ đất phù sa hình thành do sông suối bồi đắp và hệ đất Feralit phát triển
trên nền địa chất đa dạng của địa hình đồi núi. Tài nguyên khoáng sản của thành phố
Yên Bái khá phong phú.
Thành phố Yên Bái nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc, Việt Bắc và
trung du Bắc Bộ, thành phố Yên Bái nằm ở vị trí 21,42
o
B, 104,52
o
Đ, là trung tâm tỉnh
lỵ Yên Bái với diện tích tự nhiên là 58,020 km
2
; phía bắc và đông bắc giáp huyện Lục
Yên, phía Tây phía Nam giáp huyện Trấn Yên của tỉnh. Trong đó đất nông nghiệp
chiếm 1.718,13 ha, đất lâm nghiệp chiếm 2.255,87 ha, đất chuyên dùng là 848,21 ha,
đất ở 338,09 ha, còn 642,3 ha là đất chưa sử dụng. Như vậy so với tổnq quỹ đất, đất
canh tác chưa phải là cao.
Với vị trí địa lý tự nhiên như vậy, thành phố Yên Bái là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh, đồng thời nằm ở vị trí trên tuyến giao thông nối
liền giữa Đông bắc và Tây bắc, giữa cửa khẩu Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai. Chính vì
vậy, thành phố Yên Bái có điều kiện và vai trò hết sức quan trọng để phát triển kinh tế –
Tỷ lệ nghèo đói của các phường, xã của thành phố như sau:
(Theo QĐ 1143/2000/ QĐ - LĐTBXH ngày 01/11/2000 về quy định chuẩn nghèo
giai đoạn 2001 -2003) ST
T
1 TÊn đơn vị
Tỷ lệ hộ nghèo đói giai đoạn 2001 - 2003
2001 2002 2003
Tổn
g số
hộ
Số
hộ
ngh
èo
Tỷ
lệ %
4
5
6
7
8
9
10
11
Phường Nguyễn
Phúc
Phường Hồng Hà
Phường Nguyễn
Thái Học
Phường yên Ninh
Phường Minh Tân
Phường Đồng Tâm
Phường Yên Thịnh
Xã Tuy Lộc
Xã Nam Cường
Xã Minh Bảo
Xã Tân Thịnh
178
6
223
8
323
0
254
6
210
6
224
4
309
5
249
4
200
7
235
2
178
3
998
536
68
47
130
88
25
17
113
50
45
45
99
3,7
2,1
4,2
3,5
76
18
38
122
2,8
2,4
2,3
2,1
1,7
2,5
5,0
7,2
3,0
4,8
18,2
757
633
796
651
576
802
668
191
62
869 4,54 187
92
727 3,87 196
25
681 3,5
nghèo
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Phường Nguyễn
Phúc
Phường Hồng Hà
Phường Nguyễn
Thái Học
Phường yên Ninh
Phường Minh Tân
Phường Đồng Tâm
Phường Yên Thịnh
Xã Tuy Lộc
Xã Nam Cường
Xã Minh Bảo
Xã Tân Thịnh
1823
2257
3225
2700
2118
2291
3241
2671
2116
2512
1877
1015
621
762
651
30
34
39
40
18
31
54
41
13
21
66
1.65
1.48
1.20
1.50
0.85
1.23
2.88
4.04
sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi, địa hình núi đá, suối sâu giao thông
đi lại khó khăn, nhiều sản phẩm thu hoạch của người dân không có nơi tiêu thụ. Đặc
biệt đối với miền núi và vùng cao người dân thiếu ruộng cấy lúa nước, thiếu đất đồi,
rừng phục vụ cho sản xuất kinh doanh đó chính là khó khăn, nguyên nhân hàng đầu của
đói nghèo.
* Nhóm nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân người nghèo:
Với tổng số hộ nghèo của thành phố Yên Bái là 714 = 3,64% thì thuộc về bản
thân người nghèo như sau:
+ Do thiếu vốn sản xuất: 138 hộ.
+ Do trình độ văn hoá, chuyên môn: 176 hộ.
+ Do thiếu lao động: 42 hộ.
+ Do thiếu đất sản xuất: 06 hộ.
+ Do bệnh tật già yếu ốm đau: 261 hộ.
+ Do mắc các tệ nạn xã hội: 03 hộ.
+ Do đông người ăn: 78 hộ.
+ Do rủi ro: 10 hộ.
a. Nguyên nhân do thiếu vốn:
Hầu hết các hộ gia đình đã thuộc diện nghèo thì lấy đâu ra vốn sản xuất kinh
doanh để cải thiện đời sống gia đình vì thu nhập bình quân đầu người thấp không đủ chi
tiêu cho các thành viên trong gia đình. Nên họ có muốn phát triển kinh tế gia đình thì
điều kiện cũng không cho phép. Mặt khác sự tiếp cận tín dụng của các hộ nghèo còn
nhiều hạn chế tỷ lệ hộ được vay vốn của ngân hàng chiếm khoảng 83% và mức bình
quân mỗi hộ gia đình được vay là 3,6 triệu đồng, như vậy còn 17% số hộ nghèo chưa
được vay. Trong tổng số hộ được vay ngân hàng thì vẫn còn các hộ gia đình chưa giả
hết số nợ quá hạn nên đã làm ảnh hưởng đến các hộ gia đình khác cần được sự hỗ trợ.
Sở dĩ số hộ nghèo tiếp cận vốn còn khó khăn, một phần do cách sản xuất của hộ
nghèo còn giản đơn, không biết thâm canh, thiếu kinh nghiệm sản xuất hoặc khi vay
vốn về không biết làm gì, phần do lãi xuất còn cao và một phần do thủ tục vay còn
rườm rà, rễ tạo ra tâm lý chán trường. Mặc dù vậy, do nhu cầu đột xuất nên nhiều hộ gia