LUẬN VĂN:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể,
mỹ của con người Việt Nam
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề con người, xây dựng và phát triển con người là vấn đề muôn thủa, một đề tài
tưởng chừng đã cũ nhưng luôn luôn mới. Bởi lẽ thế giới xung quanh con người và bản
thân con người luôn vận động, biến đổi. Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của con
người ngày càng sâu rộng thì những vấn đề về con người đặt ra cũng ngày càng phức tạp,
đa dạng hơn. Con người và phát triển con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học. Đúng như C.Mác đã dự báo, trong tương lai mọi khoa học đều
gặp nhau ở một khoa học cao nhất, đó là khoa học về con người. Trong giai đoạn hiện
nay, vấn đề xây dựng và phát triển con người đang là một vấn đề thực tiễn sống động,
ảnh hưởng đến các nền tảng phát triển của nhân loại.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn tột bậc là đất nước được
hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc ai
cũng được học hành. Thực chất là mong muốn giải phóng triệt để con người Việt Nam,
để có những con người phát triển toàn diện. Giải phóng con người, xây dựng con người
mới phát triển toàn diện đủ năng lực làm chủ bản thân và xã hội là một trong những nội
đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Làm rõ được vấn đề này thực sự là một đòi hỏi bức
thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Song, đây là vấn đề rất lớn, luận văn này
chỉ mong góp phần nhỏ bé làm rõ về mặt lý luận một vài khía cạnh như khái niệm,
cơ sở hình thành, điều kiện và nội dung xây dựng con người phát triển toàn diện
đức, trí, thể, mỹ trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí,
thể, mỹ của con người Việt Nam " làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí
Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà khoa học
nghiên cứu và đã có nhiều công trình khoa học có giá trị được công bố.
- Về các đề tài khoa học:
+ Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX02 (1991- 1995) có đề tài KX02. 05:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người và chính sách xã hội đối với con người” do
PGS. TS Lê Sỹ Thắng làm chủ nhiệm. Đề tài đã nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ
bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người, chính sách xã hội của Đảng, Nhà
nước đối với con người.
+ Chương trình khoa học cấp Nhà nước KHXH. 04 (1996-2000) có đề tài Tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng con người mới do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ làm chủ
nhiệm. Đề tài làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và
xây dựng con người Việt Nam mới, mối quan hệ giữa phát triển văn hoá và xây dựng con
người mới
- Về các luận văn, luận án:
+ Nguyễn Hữu Công (2001) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn
diện”, luận án tiến sỹ triết học, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả tập
trung nêu lên tư tưởng về giáo dục, đào tạo phát triển con người toàn diện của Hồ Chí
Minh. Về con đường hình thành và phát triển con người toàn diện theo quan niệm của Hồ Chí
Minh. Từ đó tác giả đưa ra hướng vận dụng và phát huy tư tưởng phát triển con người toàn
diện của Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay.
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đề cập một số nội dung sau: làm sâu sắc thêm khái
niệm con người, nhân tố con người, phát huy nhân tố con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trình bày rõ thêm nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về
con người. Tập trung phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người, chỉ ra đặc điểm, nội dung chủ yếu, bản sắc, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát huy nhân tố con
người trong thời gian qua theo yêu cầu CNH, HĐH, kiến nghị phương hướng và một số giải
pháp cơ bản nhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt nam hiện
nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Về các bài tạp chí:
+ Tạp chí nghiên cứu lý luận (số 1/2000) đăng bài của PGS Trần Thành - Lê
Quang Hoan “Hồ Chí Minh với vấn đề nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH”.
Các tác giả đã khái quát một số nội dung có ý nghĩa phương pháp luận của Hồ Chí Minh
về vấn đề con người như giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng XHCN, đạo đức cách
mạng .
+ Tạp chí Lịch sử Đảng (số 12/2005) đăng bài của PGS, TS Thành Duy “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người và chính sách đối với con người”. PGS, TS Thành Duy đã
khái quát lại tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người: Bản chất con người, những
phẩm chất cơ bản của con người và một số chính sách đối với vấn đề con người.
+ Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông (Học viện Báo chí và tuyên truyền, Số
5/2007) có bài của Lê Thị Hương “Về một số phẩm chất cơ bản cần có và định hướng
phát huy nhân tố con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. Bài viết chỉ ra một số phẩm
chất của con người trong quan điểm Hồ Chí Minh: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư, tinh thần lao động quên mình, có lối sống lành mạnh văn minh và chỉ ra một số định
hướng cơ bản về phát huy tiềm năng và sáng tạo của con người theo tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Những công trình trên đã nêu lên và khái quát được những nét lớn, chủ yếu trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về giáo dục, đào tạo con người mới xã hội chủ
nghĩa. Một số tác phẩm bắt đầu đi vào khai thác, nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của
Nam được thể hiện trong những bài nói và viết của Người, các văn kiện của Đảng cộng
sản Việt Nam; hoạt động thực tế của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong
lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa (thực chất là con người phát
triển toàn diện).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người Việt Nam phát triển trên các mặt như: đức, trí, thể, mỹ.
- Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng con người
Việt Nam phát triển toàn diện trong công cuộc đổi mới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn
đề xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa
Mác – Lênin: Lịch sử – lôgíc; phương pháp diễn dịch; phương pháp phân tích – tổng hợp,
so sánh; phương pháp khái quát hoá … để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về
con người Việt Nam phát triển trên các mặt chủ yếu cấu thành phẩm chất, năng lực của
nó, đó là: Đức, Trí, Thể, Mỹ; góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với những kết quả đạt được. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong
việc nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường chính trị, cao đẳng và đại
học.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
sáng tỏ câu trả lời con người là gì, bản chất con người như thế nào trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, chúng tôi xin nêu mấy vấn đề sau:
1.1.1.1. Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về người: “Chữ người, nghĩa hẹp là
gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài
người” [40, tr.644].
Lý giải thông thường theo định nghĩa này (duy danh), “chữ người” mà Hồ Chí Minh
đề cập ở đây chủ yếu là con người cộng đồng, tồn tại ở ba khu vực địa lý khác nhau
(làng, nước, thế giới) được hiểu ở ba nghĩa: hẹp, rộng và rất rộng và đây chủ yếu là con
người xã hội, có quan hệ xã hội và mang bản chất xã hội. Con người hình thành là do biết
đối xử với người khác, giải quyết các quan hệ xã hội từ hẹp (gia đình, anh em, họ hàng, bầu
bạn) trong làng đến quan hệ rộng là đồng bào cả nước, rộng nữa là nhân loại cả thế giới.
Điều này cũng có nghĩa con người không thể tách biệt đồng loại, tách biệt xã hội, ngay
quyền tự nhiên tạo hoá ban cho con người làm cha mẹ, anh em, chú bác chỉ có được trong
quan hệ với cộng đồng xã hội, với làng, với nước với nhân loại thế giới.
Song, sự độc đáo của cách hiểu này là ở chỗ: “Chữ người” (có thể hiểu như là chữ
người viết nghiêng), là chỉ cho con người cá thể (một con người), nhưng con người đó
còn là một con người xã hội, là một thành viên của một cộng đồng xã hội nhất định.
Cộng đồng đó, không chỉ là cộng đồng ba cấp nhà - làng - nước đã tồn tại từ lâu trong
quan niệm của nhân dân ta, mà còn cụ thể hơn, rộng hơn với 5 cấp là gia đình, họ tộc, làng
xóm, dân tộc và nhân loại như Hồ Chí Minh nêu trong định nghĩa. Điều này cũng có nghĩa là
để thành người (chữ người) thì điều kiện cần là con người cá thể, con người sinh vật học,
nhưng điều kiện đủ phải là con người xã hội. Nghĩa là nghiên cứu con người, bản chất con
người phải đồng thời chú ý cả hai mặt sinh vật học và xã hội.
Cái độc đáo của định nghĩa này còn hàm chứa tiêu chuẩn con người khi nói đến
nghĩa hẹp, rộng và rộng nữa, tức là nói đến khả năng phát triển của con người, đơn giản
hay phong phú, trình độ cao hay thấp phụ thuộc vào kết quả của quá trình ứng xử, giải
quyết các quan hệ xã hội xuất hiện đơn giản hay phức tạp, gia đình hay quốc gia hoặc
quốc tế. Con người sẽ phát triển hơn khi được giao tiếp rộng hơn, “đi một đàng, học sàng
khôn”.
sức được cho tự do, độc lập [39, tr.152].
Điều này có nghĩa là Hồ Chí Minh quan tâm đến nhu cầu tối thiểu của con người,
dù là con người sinh vật học hay con người xã hội để tồn tại như một con người phải có
ăn, mặc, ở, đi lại. Đó là nhu cầu để được sống, có sống mới nói đến làm đạo lý và các
việc cao xa khác như chính trị, quân sự, chinh phục vũ trụ.
Hồ Chí Minh cũng cho rằng con người không phải chỉ có nhu cầu vật chất, mà còn
có những nhu cầu về tinh thần, và nhu cầu tinh thần là cái đặc trưng của con người, cho
con người. Con người khác con vật chính ở nhu cầu tinh thần. Tất cả những nhu cầu vật
chất và tinh thần đó có được đáp ứng hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ xã
hội, vào hình thái kinh tế - xã hộ mà họ đang sống. Dân nô lệ, thuộc địa nửa phong kiến
có nhu cầu khác dân tư bản, dân của nước đế quốc thực dân và nhu cầu của con người ở
mỗi quốc gia được đáp ứng cũng khác nhau.
1.1.1.3. Theo Hồ Chí Minh, con người là bộ phận của tự nhiên, nhưng con người
không phải chỉ biết thích nghi với tự nhiên, mà còn chinh phục tự nhiên; không phải chỉ
chịu lệ thuộc vào tự nhiên, mà còn muốn cải tạo, làm chủ tự nhiên, không phải chỉ bằng
lòng với cái tự nhiên vốn có, mà còn tạo ra cái thiên nhiên thứ hai để đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng của con người. Trong hoạt động đầy sáng tạo đó, mỗi con người cụ thể
bao giờ cũng là thành viên của một cộng đồng xã hội nhất định, tham gia vào chinh phục,
cải tạo tự nhiên theo chức năng và vai trò của cộng đồng mình.
1.1.1.4. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân biệt người này với người khác chủ yếu không
phải là vấn đề chủng tộc màu da (vàng, trắng, đỏ hay đen) hoặc vấn đề dân tộc, mà từ
nhận thức về chủng tộc, dân tộc đi đến nhận thức về giai cấp. Đó là sự vận động của tư
duy Hồ Chí Minh về vấn đề con người. Từ việc tìm câu trả lời: Vì sao người Việt Nam
phải làm nô lệ, phải cùng khổ, mất nước, người Việt Nam da vàng bị mất nhân tính cũng
như nhiều dân tộc thuộc địa trên thế giới đang bị đoạ đày, Hồ Chí Minh đã thấy được
rằng chỉ có thể giải phóng giai cấp mới giải phóng được các dân tộc trên thế giới. Nhưng
Người không đi tới nhận thức một cách cực đoan về vấn đề giai cấp, mà lại luôn luôn kết
hợp dân tộc với giai cấp trong mọi vấn đề của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề
con người.
kế thừa, phát triển trong những điều kiện lịch sử mới (quan hệ đạo đức, quan hệ thiện ác,
quan hệ gia đình, họ tộc, làng xã, dân tộc…), có loại lại bị thay thế bởi cái khác khi
những điều kiện lịch sử cụ thể để nó tồn tại không còn nữa (quan hệ sản xuất, quan hệ
giai cấp).
Từ đó có thể thấy rằng bản chất con người cũng biến đổi cùng với sự biến đổi của
các quan hệ xã hội. Chính điều này mà Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vấn đề cải tạo
con người cũ, xây dựng con người mới khi chế độ thực dân phong kiến ở nước ta đã bị lật
đổ, khi cả một dân tộc đã bắt tay vào xây dựng một chế độ xã hội mới dưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản.
1.1.2. Về phát triển toàn diện con người và bản chất con người Việt Nam phát
triển toàn diện trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, con người Việt Nam được sự dìu dắt,
giáo dục, đào tạo của Đảng cộng sản và Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố quyết định, là
động lực thực sự cho sự phát triển của cách mạng trong suốt tám, chín chục năm qua.
Hơn thế nữa, đối với Hồ Chí Minh, con người không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu
cao cả nhất, là cái đích hướng tới của cách mạng Việt Nam. Chúng ta làm cách mạng là
để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng và phát triển con người, nâng vị thế
của con người lên một tầm cao mới, xứng đáng là chủ thể của mọi quá trình phát triển
trong xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, sau khi giành được chính quyền về tay nhân
dân, dân tộc Việt Nam được giải phóng về chính trị thì phát triển con người về mọi mặt
để không ngừng năng cao trình độ, phẩm chất, năng lực của người chiến sĩ cách mạng,
của công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động (nói chung là người
Việt Nam) là tư tưởng rất quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh.
Phát triển toàn diện con người, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và đào
tạo con người phát triển toàn diện là các phạm trù được Hồ Chí Minh dùng nhiều, tuy có
khác nhau về từ ngữ nhưng có nội dung, ý nghĩa giống nhau là hình thành con người
Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh – thời đại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Quan điểm phát triển toàn diện con người của Hồ Chí Minh được trình bày một
cách trực tiếp và gián tiếp qua rất nhiều tác phẩm, cũng như qua những hành động cụ thể
nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa phải
được đặt ra ngay từ đầu và phải được Đảng, Nhà nước, nhân dân, mỗi gia đình và cá nhân
đặc biệt quan tâm trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa, điều đó không có nghĩa
là tất cả mọi người phải và có thể trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa thật đầy đủ,
thật hoàn chỉnh ngay một lúc. Điều đó chỉ có nghĩa là, trước hết, cần có những con người
tiên tiến, có được những nét tiêu biểu của con người mới xã hội chủ nghĩa có thể làm
gương cho người khác, từ đó lôi cuốn toàn xã hội đẩy mạnh việc xây dựng con người mới
xã hội chủ nghĩa
Phát triển toàn diện con người, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đào tạo
con người phát triển toàn diện được Hồ Chí Minh khái quát trong sự nghiệp trồng người
của cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp trồng người của Hồ Chí Minh, của Đảng ta và toàn
dân ta không chỉ giới hạn trong việc vun trồng các mầm non tương lai của nước nhà mà
tiến hành suốt quá trình phát triển của đời người nhằm hình thành ở Việt Nam những con
người mới đủ sức làm chủ cách mạng, làm chủ xã hội phát triển. Đó là những con người
có giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có kiến thức, hiểu biết, nắm vững khoa học kỹ
thuật; có đạo đức cách mạng: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần
kiệm liêm chính, chí công vô tư; có tinh thần quốc tế trong sáng; sống có lý tưởng, có bản
lĩnh, biết làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân; biết sống “mình vì mọi
người, mọi người vì mình”; lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, lao động có năng suất, chất
lượng, hiệu quả; không sợ gian khổ, khó khăn, vì lợi ích của bản thân, tập thể và xã hội;
có năng lực để làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân. Điều này cũng có
nghĩa là kết quả của sự nghiệp trồng người là con người mới phát triển toàn diện.
Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhìn nhận, tiếp cận con người Việt Nam đương đại trên các
mặt chủ yếu hình thành nên phẩm chất và năng lực của nó, đó là: Thể lực, Trí tuệ, Thẩm
mỹ, Đạo đức. Điều này thể hiện qua nhiều bài viết, bài nói của Người như: “Đời sống
mới”, “Thư gửi lớp chuẩn bị tổng phản công” của trường trung học lục quân Trần Quốc
Tuấn ngày 9/11/1949; “Gửi tướng Nguyễn Sơn” tháng 3/1948; “Nhiệm vụ của người làm
tướng” (8/1948) và nhất là trong bài “Gửi các em học sinh” trên báo Nhân dân ngày
xây rú ” (đồng dao), thành Sơn Tinh chống lại Thuỷ Tinh tượng trưng cho sức mạnh lũ
lụt để bảo vệ sản xuất và an cư lạc nghiệp.
Việt Nam là một quốc gia nằm ở cửa ngõ Đông Nam châu á, khí hậu khắc nghiệt,
môi trường sống khó khăn, thiên tai thường xuyên đe doạ sự tồn vong của cộng đồng và
cá nhân. Việt Nam lại ở cạnh một quốc gia rộng lớn, luôn có tham vọng bành trướng
xuống phía nam. Trong lịch sử, nhân dân ta thường xuyên phải đối đầu với các cuộc xâm
lược không chỉ từ Phương Bắc mà cả Phương Tây. Đặc điểm đó đòi hỏi người Việt Nam
phải luôn cảnh giác, phải quan tâm đến rèn luyện sức khoẻ, luyện võ nghệ, rèn tài và kỹ
năng chiến đấu, hun đúc tinh thần sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, để trở thành người
anh hùng có kỹ thuật xây thành đắp luỹ và kỹ sảo chế tác nỏ thần như An Dương Vương
trong chiến đấu chống ngoại xâm.
Bên cạnh người yêu nước, người lao động, ở Việt Nam cũng sớm hình thành người
văn hoá. Do tiếp biến, giao thoa của các nền văn hoá ấn Độ, Trung Hoa và sau này là
Pháp, đời sống tinh thần, tư tưởng người Việt chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo, Nho
giáo, Đạo giáo và Ki tô giáo. Trong đó Nho giáo có ưu thế hơn so với các tôn giáo khác
bởi nó có một hệ thống phạm trù, khái niệm khá hoàn chỉnh, phù hợp với sự thống trị của
giai cấp phong kiến Việt Nam. Hơn nữa, Nho giáo không chủ trương ngu dân để dễ cai trị
mà còn muốn có một xã hội học tập, mọi người đi học “mấy chữ để làm người”. Nho
giáo còn xây dựng được mẫu người lý tưởng cho xã hội phong kiến đó là những người
“quân tử”, những “kẻ sĩ”, những “đại trượng phu” mà ở họ các năng lực, phẩm chất và ý
chí tinh thần được coi trọng và đề cao. Nho giáo còn đề ra những phương sách cụ thể để
đào tạo và phát triển con người, trong đó nhấn mạnh yếu tố tự giác “tu thân” của các cá
nhân để tề gia mà vươn tới trị quốc, bình thiên hạ.
Trong lịch sử cha ông ta đã sử dụng một hệ thống phương pháp giáo dục, đào tạo,
phát triển con người khá phong phú như:
- Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục
- Kết hợp giữa tri và hành.
- Khích lệ, động viên và khuyến khích tinh thần tự giác vươn lên của mỗi con người.
Học tập kinh nghiệm cha ông, Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức
của chủ nghĩa Mác - Lênin
Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh được vũ trang những quan điểm cực
kỳ quan trọng:
- Quan điểm duy vật biện chứng về con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã
hội;
- Sự giải phóng con người trong xã hội tư bản chỉ có thể là kết quả của cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa do chính nhân dân lao động tiến hành dưới sự lãnh đạo của giai
cấp vô sản;
- Đặc biệt, Hồ Chí Minh tiếp nhận được quan điểm của các nhà kinh điển về con
người phát triển toàn diện.
theo chủ nghĩa Mác - Lênin, con người phát triển toàn diện là con người phát
triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có trên tất cả các mặt: đạo đức, trí tuệ, thể lực, tình
cảm, năng lực nhận thức và hành động, óc thẩm mỹ và khả năng cảm thụ cái đẹp, hiểu
biết được các hiện tượng tự nhiên, xã hội diễn ra xung quanh, đồng thời có thể sáng
tạo ra những cái mới theo năng lực của họ có lợi cho sự phát triển của mỗi cá nhân và
cả cộng đồng. Lênin coi đó là “những con người phát triển về mọi mặt, được chuẩn bị
về mọi mặt và biết làm mọi việc”.
Vì vậy, phát triển toàn diện con người trước hết là sự phát triển không ngừng của
các mặt hợp thành nhân cách của nó, tạo nên một chỉnh thể sinh động của con người, làm
cho con người có sự phát triển về chất trong nhận thức và thực tiễn của mình. Sự phát
triển mọi mặt của con người không mâu thuẫn với sự phát triển thiên hướng, phát triển
năng khiếu chuyên biệt, mà trái lại, chính sự phát triển toàn diện các mặt là điều kiện, là
nền tảng cho các năng lực chuyên biệt phát triển tốt hơn, hoàn thiện hơn.
Các nhà kinh điển mác-xít còn chỉ ra những nguyên tắc, điều kiện để đào tạo, giáo
dục những con người phát triển về mọi mặt cho xã hội mới. Đó là sự kết hợp hợp lý giữa
giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động sản xuất và sự kết hợp giữa lao động sản
xuất với thực hiện giáo dục kỹ thuật tổng hợp, giữa học tập lý luận, kiến thức chung với
hoạt động thực tiễn.
Xã hội ngày càng phát triển, lực lượng sản xuất không ngừng đổi mới và nâng cao.
Con người phát triển toàn diện là phải biết rung động và cảm thụ cái đẹp, cái cao cả,
có quan điểm thẩm mỹ đúng đắn và có khả năng sáng tạo ra cái đẹp. Mỹ học mác-xít
quan niệm giáo dục thẩm mỹ là giáo dục cái đẹp cho con người, nhằm tạo lập nên quan
hệ tốt đẹp giữa con người với nhau, giữa con người với tự nhiên cũng như giữa cá nhân
với cộng đồng. Vì vậy, các nhà kinh điển cho rằng để có con người phát triển toàn diện
thì ngay từ bé họ phải được trang bị những kiến thức về hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc, thi
ca
Mác, Ăngghen, Lênin đánh giá cao vai trò của thể lực, sức khoẻ con người. Một
thân thể cường tráng, một lý tưởng, quan niệm sống đúng đắn tích cực, một khối lượng tri
thức phong phú về mọi mặt đó là hình mẫu của con người xã hội xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa. Việc xuất hiện và phát triển không ngừng con người xã hội chủ
nghĩa, không chỉ phản ánh mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong cộng đồng xã
hội mà còn là điều kiện để thúc đẩy phát triển tự do và toàn diện của các cá nhân. Trong xã
hội mới, sự phát triển toàn diện của cá nhân này không nhằm tước đoạt sự phát triển đầy đủ,
toàn diện của các cá nhân khác, không nhằm đi tới sự áp bức, bóc lột người khác như trong
xã hội có đối kháng giai cấp, mà ngược lại là tạo điều kiện cho các cá nhân và cả cộng đồng
cùng phát triển. Đó là đặc điểm nổi bật thể hiện tính nhân văn sâu sắc của xã hội xã hội chủ
nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Với tư cách là học thuyết tổng kết quá khứ, giải thích và cải tạo hiện tại, chuẩn bị và
hướng dẫn tương lai, chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch ra những quy luật tất yếu của quá
trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại nói chung cũng như tiến trình phát triển
của con người nói riêng, đã chỉ ra những con đường, phương hướng cơ bản để xây dựng
xã hội mới và phát triển con người cho xã hội tương lai. Bằng những luận chứng khoa
học các nhà kinh điển mác-xít đã khẳng định: con người phát triển toàn diện là đỉnh cao
trong quá trình phát triển con người, là bước đi tất yếu của nhân loại để giải phóng con
người một cách triệt để nhất, đem lại cho con người sức mạnh và quyền năng mới, xứng
đáng là người chủ chân chính trên trái đất này. Tuy nhiên, các ông cũng lưu ý quá trình
hình thành của con người phát triển toàn diện không phải một sớm một chiều mà diễn ra
lâu dài “chỉ đạt tới sau bao năm lâu dài nữa” và là kết quả tác động tổng hợp của nhiều
triển xã hội. Vì vậy, từ xưa tới nay, các giai cấp, các dân tộc, các thủ lĩnh, các lãnh tụ đều rất
quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho mỗi thành viên trong cộng đồng, hướng họ tới
những việc làm có ích cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, coi trọng đạo đức đến đâu, chú trọng đến những nội dung nào của đạo
đức, đề cao những phạm trù nào, đặt đạo đức trên cơ sở thế giới quan nào thì lại tuỳ
thuộc vào các điều kiện lịch sử cụ thể và lợi ích của mỗi giai cấp, mỗi tập đoàn trong xã
hội.
Tiếp nối truyền thống coi trọng đạo đức của dân tộc Việt Nam và tiếp thu những tinh
hoa của đạo đức nhân loại, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cách mạng nước ta, Hồ Chí Minh
hết sức chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đạo đức mới - đạo đức cách mạng cho con người Việt
Nam, nhằm phát triển họ về mặt đạo đức.
Khi đề cập đến vấn đề đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh thường sử dụng các thuật
ngữ “Đạo đức mới” [40, tr.252], “đạo đức cách mạng” [40, tr.252]; “đạo đức xã hội chủ
nghĩa” [46, tr.224]; “đạo đức cộng sản” [45, tr.679]; “đạo đức tập thể” [45, tr.306]; “đạo đức
cách mạng của giai cấp vô sản” [46, tr.375]; đạo đức vô sản” [46, tr.375]
Theo Hồ Chí Minh, gọi “đạo đức mới” bởi vì “đạo đức đó không phải là đạo đức
thủ cựu” [40, tr.252], nó chưa hề xuất hiện trong lịch sử mà chỉ hình thành và phát triển
cùng với tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất
nước ta. Đạo đức mới khác hẳn với đạo đức cũ:
Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời.
Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất đầu ngẩng lên
trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không
bao giờ làm mà lại bắt nhân dân ta phải tuân theo để phục sự quyền lợi cho
chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm
gương cho nhân dân noi theo để lợi cho nước, cho dân [41, tr.321].
Gọi là “đạo đức cách mạng” vì nó là đạo đức phục vụ cách mạng, đạo đức mà
người cách mạng cần phải có. Đó là đạo đức được nảy sinh và phát triển trong cuộc đấu
tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ và hy sinh của nhân dân ta. Đạo đức cách mạng
là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” [44, tr.287]; “đặt lợi ích của cách