VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO
*************
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
CỦA DOANH NGHIỆP KHU VỰC TƯ NHÂN
Ở MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC VÀ PHÍA NAM
Nhóm nghiên cứu:
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Tạ Minh Thảo
Thành viên:
1. PGS. TS. Nguyễn Đình Tài
2 . ThS. Vũ Lan Anh
3. Nguyễn Văn Hưởng
4. Nguyễn Anh Dũng
5. Nguyễn Nam Hải
6. Thái Hồng Thu
7. TS. Lê Mạnh Hùng
8. Bùi Đức Chiến
Hà Nội 2006
MỤC LỤC
2
Danh sách các bảng và hình vẽ
Bảng
Bảng 1: Những khó khăn chủ yếu mà doanh nghiệp thường phải đối phó
qua các giai đoạn
Bảng 2: Cơ cấu đóng góp vào GDP của các khu vực kinh tế, 1995-2004
(%)
Bảng 3: Tỷ lệ % tổng vốn đăng ký của các DN thuộc khu vực tư nhân/
GDP của địa phương sau khi có Luật Doanh nghiệp (1999)
Bảng 4: Số vốn đăng ký kinh doanh bình quân của 1 doanh nghiệp thuộc
khu vực tư nhân theo địa phương qua các năm
vực kinh tế tư nhân vẫn phải đối mặt với nhiều cản trở trong kinh doanh
như: khó khăn khi vay vốn, khó tiếp cận thị trường, khó tiếp cận công nghệ
và thông tin và rủi ro xuất phát từ chính sách của nhà nước. Những khó
khăn này là do sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, yếu kém trong quản lý hành
chính và thiếu một khung khổ pháp lý hiệu quả, đồng bộ để bảo vệ và
khuyến khích doanh nghiệp tăng trưởng.
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đưa ra kiến nghị ở tầm quốc gia để
cải thiện môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng thừa
nhận rằng, tuy cùng ở trong một môi trường kinh doanh nhưng sự tăng
trưởng của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân khác nhau đáng kể
giữa các tỉnh thành. Các doanh nghiệp ở phía nam kinh doanh thành công
hơn các doanh nghiệp ở phía bắc (Nguyễn Đình Cung và các cộng sự,
2004).
Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện có chỉ dùng phương pháp
định tính để nhận dạng và phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển
của khu vực kinh tế tư nhân mà chưa có kiểm nghiệm thực tế và tính toán
định lượng. Vì vậy, Đề tài sẽ áp dụng phương pháp định lượng để chỉ ra
nhân tố tác động và cách thức chúng tác động đến tăng trưởng của các
1
Báo cáo Kết quả thực hiện Luật Doanh nghiệp- Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế TW
4
doanh nghiệp. Hơn nữa, Đề tài cũng sẽ chỉ ra những nhân tố này tác động
khác nhau như thế nào đến doanh nghiệp giữa các địa phương được lựa
chọn nghiên cứu. Việc phân tích nhân tố nào nằm sau quá trình tăng trưởng
của các doanh nghiệp, phát hiện những nhân tố thúc đẩy tăng trưởng và
nhân tố kìm hãm tăng trưởng của các doanh nghiệp là cần thiết đối với Việt
Nam. Hiện nay, Nhà nước ta đang tìm kiếm các biện pháp để khuyến khích
sự tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp nói chung và khu vực doanh
nghiệp tư nhân nói riêng, một khu vực mà sự tăng trưởng vẫn chưa xứng
với tiềm năng của nó. Các chính sách đưa ra sẽ có thể mang tính thuyết
doanh). Các doanh nghiệp này hoạt động trong các ngành nghề khác nhau.
Vì có rất nhiều nhân tố tác động đến tăng trưởng doanh nghiệp và mỗi
doanh nghiệp có đặc điểm riêng, nên các nhân tố tác động tới từng doanh
nghiệp có thể khác nhau. Tuy nhiên, các nhà kinh tế học đã phân tích và
chỉ ra có một số nhân tố quan trọng có tác động chung đến tăng trưởng
của các doanh nghiệp. Do đó, Đề tài sẽ chỉ tập trung nghiên cứu nhóm
nhân tố này.
Về phạm vi nghiên cứu, Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hai nhóm
nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài tác động tới tăng trưởng doanh
nghiệp: (i) Nhân tố bên trong là các nhân tố mà nhà quản lý có thể tác
động được (ii) Nhân tố bên ngoài là các nhân tố mà nhà quản lý không thể
hoặc khó có thể tác động được. Do hạn chế về mặt số liệu và thời gian
nghiên cứu, Đề tài sẽ chỉ phân tích dựa trên bộ số liệu điều tra doanh
nghiệp của năm 1997 và 2002 và cho bốn tỉnh ở miền Bắc và miền Nam
gồm: Hà Nội, Hà Tây, TP. Hồ Chí Minh và Long An.
Về phương pháp nghiên cứu, Đề tài sẽ sử dụng mô hình hồi quy do
Geroski (1959) phát triển. Theo đó, các nhân tố bên trong và bên ngoài
được coi là các biến độc lập của phương trình hồi quy.
Để thực hiện những mục tiêu nghiên cứu ở trên, Đề tài “Các nhân tố
tác động đến tăng trưởng của doanh nghiệp khu vực tư nhân ở một số
tỉnh phía Bắc và phía Nam” được chia thành ba chương. Chương I nêu lên
cơ sở lý thuyết về tăng trưởng doanh nghiệp. Chương II nêu lên nhân tố tác
động đến tăng trưởng doanh nghiệp ở Việt Nam và tập trung phân tích
2
Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy 96% doanh nghiệp khu vực tư nhân là doanh nghiệp vừa và nhỏ
6
nhân tố tác động đến tăng trưởng doanh nghiệp ở các tỉnh được lựa chọn
nghiên cứu. Cuối cùng, Chương III đưa ra một số giải pháp và kiến nghị
nhằm thúc đẩy nhân tố tác động tích cực và giảm thiểu nhân tố tác động
tiêu cực từ góc độ của nhà nước và doanh nghiệp.
cứu về tăng trưởng doanh nghiệp rất đa dạng, nhưng nói chung có ba lý
thuyết về tăng trưởng doanh nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và dựa trên đó làm nền tảng cho nghiên cứu của mình (Geroski, 1999). Đó
là lý thuyết tăng trưởng của Penrose, lý thuyết về quy mô doanh nghiệp tối
ưu và lý thuyết tăng trưởng theo giai đoạn.
8
1.1.1. Lý thuyết tăng trưởng doanh nghiệp của Penrose
Lý thuyết tăng trưởng của Penrose đề cập tới hai vấn đề. Đó là lý
thuyết về thúc đẩy nguồn lực (“resources push” theory) và “những giới hạn
về quản lý đối với tăng trưởng doanh nghiệp” (“managerial limits to
growth”). Tác giả rất quan tâm đến việc phân tích các nguồn lực cho tăng
trưởng và nhân tố cản trở sự tăng trưởng doanh nghiệp. Theo bà, tăng
trưởng doanh nghiệp đồng nghĩa với việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực
và năng lực quản lý có tác động quan trọng tới tăng trưởng. Penrose đã thể
hiện rõ mục đích nghiên cứu của mình qua bài báo được đăng năm 1955
trên American Economic Review
“Tôi tập trung nghiên cứu nguyên nhân và giới hạn đối với tăng trưởng doanh
nghiệp Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là những nhân tố nào của thể chế kinh
tế làm cho doanh nghiệp tăng trưởng, làm doanh nghiệp có thể tăng trưởng hoặc
cản trở tăng trưởng”
Theo Penrose, doanh nghiệp là một tổ chức sử dụng các nguồn lực
theo một cách thức nào đó. Để giải thích sự tăng trưởng của doanh nghiệp,
Penrose đã tập trung nghiên cứu quá trình sản xuất và cạnh tranh của nó.
Qua nghiên cứu, bà đưa ra hai vấn đề, thứ nhất là nguồn lực và yếu tố dùng
cho sản xuất; thứ hai là yếu tố dùng cho sản xuất và cơ hội sản xuất. Theo
đó, bản thân các nguồn lực chưa thể là đầu vào cho quá trình sản xuất mà
chỉ khi các nguồn lực đó được mỗi doanh nghiệp đưa vào quá trình sản
xuất theo những cách thức nhất định thì chúng mới trở thành nhân tố cho
quá trình tăng trưởng doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực
dựa trên kinh nghiệm, năng lực quản lý, trình độ của đội ngũ lao động và
những nhân tố tác động tới quy mô tối ưu của doanh nghiệp bao gồm chi
phí sản xuất, mức độ cạnh tranh, năng lực quản lý, kỹ thuật công nghệ. Đây
là những nhân tố chủ yếu tác động tới quy mô của doanh nghiệp và vì thế
tác động tới tăng trưởng doanh nghiệp. Một kết luận quan trọng của lý
thuyết này là doanh nghiệp nhỏ tăng trưởng nhanh hơn doanh nghiệp lớn
cho đến khi đạt tới quy mô sản xuất hiệu quả.
10
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đối với doanh nghiệp có quyền lực thị
trường thì quy mô tối ưu khác với vị trí thấp nhất của đường chi phí trung
bình của doanh nghiệp. Trong trường hợp này sự giới hạn tăng trưởng
doanh nghiệp được xác định bởi cầu đối với hàng hóa chứ không phải bởi
sự tối ưu hóa nhờ chi phí. Doanh nghiệp loại này có đường cầu với độ dốc
đi xuống đối với sản phẩm có tính đặc biệt của mình. Chính vì vậy, sự đa
dạng hóa sản phẩm là một nhân tố tác động đến tăng trưởng của loại doanh
nghiệp này.
Một vài nhà kinh tế đã cố gắng chuyển lý thuyết về quy mô doanh
nghiệp tối ưu được đề cập ở trên sang một mô hình đơn giản và có thể kiểm
định trên thực tế (Geroski, 1999). Mô hình như sau:
)()1()(
*
ttSStS
iiii
µβ
+−+=∆
(1)
Trong đó:
)(tS
i
ηα
++=
(2)
Trong đó:
)(tX
là tập hợp nhân tố ngoại sinh có thể quan sát được tạo ra
)(
*
tS
i
)(t
i
η
là là phân phối chuẩn độc lập và đồng nhất.
Thay phương trình (2) vào phương trình (1) ta có:
)()1()()( ttStXctS
iii
νβα
+−++=∆
(3)
và ở đây
)()()( ttt
iii
ηµν
+=
Nếu
0=
α
, phương trình (2) chỉ ra
*
nghiên cứu chu kỳ sống của doanh nghiệp và giai đoạn tăng trưởng doanh
nghiệp, xây dựng mô hình quá trình tăng trưởng hay tập trung phân biệt các
thời kỳ mà doanh nghiệp tăng trưởng.
Có nhiều nghiên cứu khác nhau dựa trên lý thuyết này. Nói chung
các nghiên cứu đều cho rằng doanh nghiệp phải trải qua nhiều giai đoạn
tăng trưởng (Churchill và Lewis, 1983). Số lượng các giai đoạn tăng trưởng
rất đa dạng, chủ yếu là qua ba (Cooper, 1979), năm (Greiner, 1972) hay
bảy (Flamholtz, 1986) giai đoạn. Cũng có nhà nghiên cứu xây dựng mô
hình lên tới 10 giai đoạn tăng trưởng (Adizes, 1989). Thậm chí có nghiên
cứu đưa ra tới 20 giai đoạn tăng trưởng (Kiriri, 2000).
Trong số đó được nhắc đến nhiều nhất là nghiên cứu của Greiner
năm 1972. Tác giả lý luận rằng doanh nghiệp tăng trưởng qua năm giai
12
đoạn: sáng tạo (“creativity”), sự điều khiển (“direction”), ủy quyền
(“delegation”), điều phối (“coordination”) và hợp tác (“collaboration”).
Các nhà nghiên cứu còn xem xét giai đoạn tăng trưởng thông qua
việc phân tích các nhân tố. Một số nhân tố chủ yếu có thể dùng để xác định
doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào của vòng đời gồm có:
Quy mô doanh nghiệp
Số năm hoạt động của doanh nghiệp (tuổi đời doanh nghiệp)
Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
Khó khăn chủ yếu mà doanh nghiệp phải đối phó
Hình 1: Một số nhân tố qua các giai đoạn của vòng đời doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp. Thông thường, quy mô doanh nghiệp được
xác định bởi doanh số bán, tổng tài sản và/hoặc số lượng người lao
động (Timmons, 1994). Thời gian đầu thành lập, doanh nghiệp có cơ
cấu tổ chức đơn giản, sản xuất sản phẩm đơn nhất, hoạt động trên địa
bàn hẹp. Phải sau một thời gian, doanh nghiệp mới thích nghi để
hoạt động trên địa bàn rộng, với cơ cấu chức năng phức tạp hơn, sản
Nhưng luận điểm này bị một số học giả phê phán. Số năm hoạt động
của doanh nghiệp không thể cho biết giai đoạn trong vòng đời của
doanh nghiệp, vì nếu một doanh nghiệp không có kế hoạch thành lập
và hoạt động hiệu quả thì doanh nghiệp cần nhiều thời gian hơn để
có thể đứng vững và tăng trưởng so với một doanh nghiệp có kế
hoạch thành lập và hoạt động hiệu quả hơn. Chính vì thế, hai doanh
nghiệp có thể thành lập cùng thời gian nhưng doanh nghiệp này tăng
trưởng nhanh hơn doanh nghiệp kia.
Tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng nói chung là
khác nhau ở các giai đoạn tăng trưởng khác nhau (Hanks và các cộng
sự, 1993). Một số nhà nghiên cứu đã tính toán tỷ lệ tăng trưởng của
doanh nghiệp để xác định doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào của
vòng đời.
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Theo Chandler (1962), doanh
nghiệp phát triển cơ cấu tổ chức để giải quyết khó khăn xuất hiện
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhìn từ khía cạnh cơ
cấu tổ chức của doanh nghiệp, có một số hình thức cơ cấu tổ chức
doanh nghiệp là chính thức hóa (formalization), tập trung hóa
(centralization), phân cấp theo chiều dọc (vertical differentiation) và
14
số lượng các cấp doanh nghiệp (number of levels) (Hanks và các
cộng sự, 1993). Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp và các vấn đề liên quan
đến quản lý có ảnh hưởng lẫn nhau, điều này làm cho hình thức cơ
cấu tổ chức có thể đại diện cho giai đoạn nào đó trong vòng đời của
doanh nghiệp (Hanks và các cộng sự, 1993). Vì thế, giai đoạn trong
vòng đời có thể xác định được dựa vào các biến liên quan tới cơ cấu
tổ chức của doanh nghiệp.
Khó khăn chủ yếu mà doanh nghiệp phải đối phó. Trong thực tế,
khi phân tích các khó khăn chủ yếu mà doanh nghiệp gặp phải, ta có
thể xác định được các giai đoạn trong vòng đời của doanh nghiệp
4. Chiếm lĩnh thị phần
5. Thu hút nhân sự có năng lực
Tăng trưởng vững
chắc
1. Kiểm soát chi phí
2. Hỗ trợ sản phẩm và dịch vụ khách hàng
3. Chiếm lĩnh thị phần
4. Phát triển mạng lưới bán hàng và mạng lưới cung cấp
5. Gia tăng khối lượng sản phẩm nhờ gia tăng nhu cầu
Suy thoái/Phục hồi 1. Hỗ trợ sản phẩm và dịch vụ khách hàng
2. Kiểm soát chi phí
3. Đáp ứng mục tiêu doanh số
4. Chiếm lĩnh thị phần
5. Phát triển sản phẩm mới
Nguồn: Kiriri (2000)
1.2 Nhận dạng nhân tố chủ yếu tác động đến tăng trưởng doanh nghiệp
Qua các lý thuyết về tăng trưởng doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu
nhận thấy tăng trưởng doanh nghiệp là quá trình điều chỉnh giữa hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với môi trường của nó, theo đó, sự
thay đổi các nhân tố bên ngoài (nhân tố mà nhà quản lý không hoặc khó có
thể tác động) và sự thay đổi các nhân tố bên trong (nhân tố mà nhà quản lý
có thể tác động) được kết hợp với nhau phục vụ quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Vấn đề tiếp theo là phương pháp đo lường tăng trưởng của doanh
nghiệp. Khi tổng kết các nghiên cứu đã có về tăng trưởng doanh nghiệp,
16
Hoy và Dsouza (1992) đã phát hiện ra sự đa dạng trong cách đo lường tăng
trưởng của doanh nghiệp, như dựa vào sự gia tăng thị phần, gia tăng vốn
đầu tư, gia tăng doanh thu, lợi nhuận, gia tăng số lượng khách hàng của
doanh nghiệp hoặc là gia tăng về số lượng lao động. Sự gia tăng về số
cứu luôn nhấn mạnh. Một ban quản lý (i) sử dụng các nguồn lực đầu
vào hiệu quả nhằm nâng cao năng suất, (ii) quản lý tài chính, nhân
sự, sản xuất, thị trường tốt, và (iii) có chiến lược kinh doanh hiệu quả
nhằm đảm bảo nguồn vốn đầu tư và đầu tư hợp lý sẽ giúp doanh
nghiệp tăng trưởng vững chắc. Tuy nhiên doanh nghiệp tăng trưởng
đến một quy mô nào đó mà ban quản lý cũ không thể đáp ứng được
thì doanh nghiệp cần phải mở rộng đội ngũ quản lý và mở rộng kiến
thức kinh doanh. Nếu vẫn duy trì ban quản cũ mà không có sự đổi
mới nâng cao năng lực quản lý, thì đó lại là rào cản sự tăng trưởng
của doanh nghiệp.
Ngoài kiến thức của chủ doanh nghiệp thì tố chất kinh doanh/tinh
thần kinh doanh của người chủ sẽ quyết định sự mở rộng của doanh
nghiệp. Một người chủ có tham vọng thấp, không muốn chấp nhận
rủi ro, hay sợ mất quyền kiểm soát thì doanh nghiệp khó có thể tăng
trưởng được.
Vấn đề về lao động- liên quan đến trình độ người lao động, chế độ
làm việc, thỏa thuận lương bổng - được nhấn mạnh trong một số
nghiên cứu. Đây là nhân tố vô hình, phụ thuộc vào con người cụ thể.
Do vậy, nếu được phát triển tốt, thì lực lượng lao động sẽ trở thành
động lực cho tăng trưởng; nếu không sẽ là một lực cản đáng kể.
Quy mô doanh nghiệp. Các nghiên cứu đều cho thấy quy mô doanh
nghiệp càng lớn thì tốc độ tăng trưởng càng chậm (Geroski, 1999).
Số năm hoạt động của doanh nghiệp (tuổi đời của doanh nghiệp).
Các nghiên cứu (Jovanovic, 2000) cho thấy có mối tương quan tỷ lệ
nghịch giữa tuổi đời doanh nghiệp và tăng trưởng doanh nghiệp,
18
nghĩa là doanh nghiệp có tuổi đời càng lớn thì tỷ lệ tăng trưởng càng
thấp.
Hình thức pháp lý. Theo nghiên cứu ở nhiều nước
3
19
tăng trưởng khi phân tích tuổi người chủ doanh nghiệp, trình độ giáo
dục và đào tạo, nghề nghiệp trước đây của chủ doanh nghiệp.
Tổ chức doanh nghiệp. Để tiếp tục tìm kiếm những đặc điểm chung
nằm đằng sau sự tăng trưởng của doanh nghiệp, nhiều nghiên cứu đã
tập trung vào mảng tổ chức doanh nghiệp. Khi nghiên cứu doanh
nghiệp từ khía cạnh tổ chức của nó và người sáng lập doanh nghiệp,
Turok (1991) đã phát hiện ra một điều thú vị. Ông thấy các doanh
nghiệp tăng trưởng quan tâm đến việc gia tăng doanh thu và chủ
động đổi mới có hình thức tổ chức là công ty trách nhiệm hữu hạn.
Burns và Myers (1994) nghiên cứu 1.350 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
các nước Anh, Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha và phát hiện ra rằng
các doanh nghiệp tăng trưởng thường là doanh nghiệp có chiến lược
kinh doanh cho ít nhất là ba năm, có sản phẩm có chất lượng hay
khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh hơn là chỉ cạnh tranh với đối
thủ bằng giá cả. Nghiên cứu của Grant (1992) cho thấy có ba yếu tố
chính có mối liên hệ với sự tăng trưởng doanh nghiệp là người chủ
doanh nghiệp, dự án kinh doanh táo bạo và tác động từ nhân tố bên
ngoài. Storey (1994) đã đưa ra các nhân tố chính tác động đến tăng
trưởng doanh nghiệp là chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp và chiến
lược. Ông cho rằng nếu các nhân tố trên kết hợp với nhau nhuần
nhuyễn thì doanh nghiệp tăng trưởng.
b) Nhóm nhân tố bên ngoài
Khung khổ pháp lý, chính sách là các quy định pháp luật tác động
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, các chính
sách tác động trực tiếp là các chính sách liên quan đến gia nhập thị
trường, thuế, lao động, cạnh tranh, xuất nhập khẩu và các chính sách
hỗ trợ của nhà nước Chi phí gia nhập thị trường cao do những quy
định về cấp phép và đăng ký kinh doanh có thể là một cản trở thành
lập doanh nghiệp. Chính sách thuế không rõ ràng hợp lý sẽ vô tình
)(tS
i
thì quan sát có thể được viết chính
xác là:
(1)
)()1(log)(log)(log ttStStS
iiii
µ
=−−=∆
21
Trong đó
)(log tS
i
∆
: Sự thay đổi quy mô doanh nghiệp i ở thời điểm t so với
quy mô doanh nghiệp i ở thời điểm (t-1)
)(log tS
i
: Quy mô doanh nghiệp i ở thời điểm t nhưng đã được chuyển
sang dạng logarithm
)1(log −tS
i
Quy mô doanh nghiệp i ở thời điểm t-1 nhưng đã được
chuyển sang dạng logarithm
)(t
(quy mô lúc thành lập)
Chỉ số s chạy từ 1 đến t
Ta có thể thấy rằng, quy mô doanh nghiệp ở bất kỳ thời điểm nào
cũng chỉ là tổng của những thay đổi của doanh nghiệp kể từ khi nó được
thành lập tại thời điểm t=0. Nghĩa là, quy mô doanh nghiệp tại bất kỳ thời
điểm t nào đều phụ thuộc vào tất cả những thay đổi đã sảy ra của doanh
nghiệp.
22
Trên thực tế, nhiều nghiên cứu khai thác những biến thể của phương
trình (1), đó là:
(3)
)()(log)(log ttStS
iii
µβα
++=∆
Nếu giá trị của
β
<0 cho biết doanh nghiệp quy mô lớn tăng trưởng
tương đối chậm hơn doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Nếu
α
>0 và là chung cho tất cả doanh nghiệp, thì quy mô doanh
nghiệp phát triển qua thời gian theo phương trình (3) hội tụ về quy
mô không thay đổi (-
α
/
β
).
Hai ứng dụng quan trọng của (1) cần chú ý. Thứ nhất, khi
tích định lượng các nhân tố tác động đến quá trình tăng trưởng của doanh
nghiệp. Có thể kể ra đây nghiên cứu của Najib Harabi (2003), nghiên cứu
23
tập trung phân tích tăng trưởng kinh tế ở Ma rốc trên phương diện sự tăng
trưởng doanh nghiệp tư nhân. Sử dụng lý thuyết quy mô doanh nghiệp tối
ưu như là khung lý thuyết, nghiên cứu đã phân tích các nhân tố tác động
đến quá trình tăng trưởng doanh nghiệp tư nhân của Morocco dựa vào số
liệu điều tra 370 doanh nghiệp được thực hiện dưới sự tài trợ của World
Bank năm 1998. Mẫu điều tra bao gồm doanh nghiệp với các quy mô khác
nhau, từ doanh nghiệp lớn với trên 100 lao động đến doanh nghiệp nhỏ có
chưa đầy 5 lao động. Ngoài ra, nó cũng bao gồm doanh nghiệp thuộc nhiều
ngành khác nhau như sản xuất, xây dựng, dịch vụ và thương mại. Nghiên
cứu đã kiểm định tác động về mặt định lượng của các nhân tố tác động đến
tăng trưởng doanh nghiệp của Morroco. Theo kết quả nghiên cứu, những
nhân tố có tác động tích cực đến tăng trưởng doanh nghiệp ở Ma rốc bao
gồm: (i) chiến lược kinh doanh chú trọng vào đa dạng hoá sản phẩm và mở
rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; (ii) hình thức pháp lý là công ty trách
nhiệm hữu hạn; (iii) nhu cầu cao đối với sản phẩm của công ty và một số
chính sách của nhà nước như chính sách lao động, cạnh tranh và môi
trường. Những nhân tố có tác động tiêu cực đến tăng trưởng doanh nghiệp
bao gồm: (i) thiếu lao động có tay nghề và cán bộ quản lý giỏi; (ii) vị trí
của doanh nghiệp xa các trung tâm kinh tế; và (iii) một số chính sách của
nhà nước như ngoại thương và chính sách giá trong nước. Trên cơ sở đó,
tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị đối với lãnh đạo doanh nghiệp và nhà
lập chính sách của Ma rốc. Các lãnh đạo doanh nghiệp phải chú trọng đến
việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp, địa điểm đặt trụ sở và thị trường mà
doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh. Đối với các nhà hoạch định chính sách,
nghiên cứu chỉ ra một số chính sách cần được cải thiện. Khuôn khổ chính
sách, thủ tục hành chính cần được điều chỉnh để tạo điều kiện cho doanh
nghiệp nhanh chóng tận dụng được các cơ hội kinh doanh. Các chính sách
tới quyết định thành lập doanh nghiệp bao gồm vị trí địa lý (ở nông thôn
hay thành thị), truyền thống kinh doanh của gia đình, trình độ đào tạo và
tuổi đời của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý rằng môi
trường chính sách cho hoạt động của doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi so
25