Luận văn: Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế Việt Nam pot - Pdf 15


Trang 1 Luận văn
Đề tài: Vai trò của thị trường chứng
khoán đối với nền kinh tế Việt Nam

Trang 2
MỤC LỤC Trang
Lời nói đầu
1
Phần I: Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán
2
I/ Chứng khoán và thị trường chứng khoán
2
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới
2
2. Khái niệm
3
II/ Cơ cấu và hoạt động của thị trường chứng khoán
7
1. Thị trường sơ cấp
7
2. Thị trường thứ cấp
8
3. Sở giao dịch chứng khoán
9

Trang 3
I/ Định hướng phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
24
II/ Giải pháp để khắc phục những hạn chế giải quyết vấn đề về hàng hoá trên thị
trường chứng khoán
26
Kết luận
29
Tài liệu tham khảo
30

Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU

Đường lối kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế của nước ta là "Đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa " (trích Báo cáo
chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và trình đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng) đòi hỏi phải có nguồn lực lớn mà cụ thể là huy
động được nguồn vốn lớn cho sự phát triển kinh tế đất nước. Phát triển thị trường
chứng khoán, tìm ra các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán đã đáp ứng
được nhu cầu cấp bách về nguồn vốn hiện nay. Trang 5
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN

I. CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

đen tối năm 1987, vừa qua tháng 7/97 thị trường chứng khoán ở các nước Châu Á
sụt giá, mất lòng tin bắt đầu từ Thái Lan. Đến nay thị trường chứng khoán các
nước đang phát triển mạnh mẽ về số lượng thị trường chứng khoán lên đến 160 sở
giao dịch, chất lượng hoạt động thị trường ngày càng đáp ứng cho số đông những
nhà đầu tư trong và ngoài nước, tiến tới một thị trường chứng khoán hội nhập khu
vực và quốc tế.
Hiện nay thị trường chứng khoán đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước công
nghiệp hàng đầu Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp… Bên cạnh đó hơn 40 nước phát triển
đã thiết lập thị trường chứng khoán cũng đã hình thành ở các nước láng giềng Việt
Nam như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philipin và Inđônêxia và Việt Nam cũng
đã có trung tâm giao dịch thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
(7/2000).
2. Các khái niệm
a. Chứng khoán:
Chứng khoán là các loại công cụ tài chính dài hạn, bao gồm các loại cổ phiếu và
trái phiếu.
Cổ phiếu là loại chứng chỉ xác nhận việc góp vốn của một người vào công ty cổ
phần. Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của người này đối với công ty cổ phần,
người sở hữu được gọi là cổ đông, cổ đông có các quyền hạn và trách nhiệm đối
với công ty cổ phần, được chia lời (cổ tức) theo kết quả kinh doanh của công ty cổ
phần: được quyền bầu cử, ứng cử vào ban quản lý, ban kiểm soát. Cổ phiếu có thể
được phát hành vào lúc thành lập công ty, hoặc lúc công ty cần thêm vốn để mở
rộng, hiện đại hoá sản xuất kinh doanh.
Một đặc điểm của cổ phiếu là cổ đông được chia cổ tức theo kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty. Cổ đông có thể được hưởng lợi nhuận nhiều hơn

Trang 7
giá trị của cổ phiếu và cũng có thể bị mất trắng khi công ty làm ăn thua lỗ. Cổ
đông không được quyền đòi lại số vốn mà người đó đã góp vào công ty cổ phần,
họ chỉ có thể thu lại tiền bằng cách bán cổ phiếu đó ra trên thị trường chứng khoán.

bán) chứng khoán của những người muốn mua hay bán chứng khoán mà là của
những nhà môi giới. Nếu một người muốn mua hay bán chứng khoán, người này
sẽ thông qua người môi giới chứng khoán của anh ta trên thị trường chứng khoán
để tiến hành việc mua bán chứ không trực tiếp tham gia mua bán. Giá cả chứng
khoán được hình thành một cách khách quan theo hệ thống bán đấu giá hai chiều.
Người môi giới mua khác được với giá thấp nhất, người môi giới bán cạnh tranh
với những người môi giới bán khác để bán được giá cao nhất. Vì thế mà thị trường
chứng khoán là thị trường có tính tự do cao nhất trong các loại thị trường.
c. Phân loại thị trường chứng khoán.
Về phương diện pháp lý thị trường chứng khoán gồm có:
Thị trường chứng khoán (TTCK tập trung) là thị trường hoạt động theo đúng các
qui luật pháp định, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay
được biệt lệ.
Chứng khoán đăng biểu là loại chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho
phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh
kỷ, tức là đã hội đủ các tiêu chuẩn đã định.
Chứng khoán biệt lệ là loại chứng khoán được miễn giấy phép của cơ quan có
thẩm quyền, do chính phủ trong các cơ quan công quyền, thành phố, tỉnh quận,
huyện, thị phát hành và bảo đảm.
Thị trường chứng khoán chính thức có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt và
giá cả được tính theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của hội động
chứng khoán. Thị trường chứng khoán chính thức chủ yếu được thể hiện bằng các
sở giao dịch chứng khoán.
Thị trường chứng khoán phi chính thức: (TTCK phi tập trung) là thị trường mua
bán chứng khoán bên ngoài sở giao dịch chứng khoán, không có địa điểm tập trung
những người môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như ở sở giao dịch

Trang 9
chứng khoán. ở đây không có sự kiểm soát từ bên ngoài, không có ngày giờ hay
thủ tục nhất định mà do sự thoả thuận của người mua và người bán.

tiêu chuẩn khác. Đó là các điểm giới hạn và điểm liệt. Chẳng hạn điểm giới hạn
của chỉ số Dow Jones là 800, điểm liệt là 700. Nếu chỉ số Dow Jones hàng ngày
vượt quá 800 điểm chung trong nền kinh tế đang đi lên, nếu dưới 800 điểm cho
biết có nguy cơ xảy ra suy thoái kinh tế.
II. CƠ CẤU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
Thị trường chứng khoán chính thức được thể hiện bằng sở giao dịch chứng
khoán. Thông thường một thị trường chứng khoán bao gồm hai thị trường cùng
tham gia (cấu trúc thị trường chứng khoán) là thị trường sơ cấp và thị trường thứ
cấp.
1. Thị trường sơ cấp:
Là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra hoạt động
giao dịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu, kéo theo sự tăng
thêm qui mô đầu tư vốn. Nguồn cung ứng vốn chủ yếu tại thị trường này là nguồn
tiết kiệm của dân chúng như của một số tổ chức phi tài chính. Thị trường sơ cấp là
thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành.
2. Thị trường thứ cấp.
Còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông, là nói đến nơi diễn ra hoạt
động giao dịch mua bán chứng khoán đến tay thứ hai, tức là việc mua bán tiếp thu
sau lần bán đầu tiên. Nói cách khác, thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại
các loại chứng khoán đã được phát hành qua thị trường sơ cấp.
Điểm khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp không phải
là sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của
từng loại thị trường. Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở thị trường sơ
cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư và tiết kiệm vào công cuộc phát triển
kinh tế. Còn ở thị trường thứ cấp, dù việc giao dịch rất nhộn nhịp có hàng chục,
hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô la chứng khoán được mua đi bán lại, nhưng
không làm tăng thêm qui mô đầu tư vốn, không thu hút thêm được các nguồn tài

Trang 11
chính mới. Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng khoán từ chủ thể

phần có các cổ đông là các công ty thành viên. Đây là hình thức phổ biến nhất hiện
nay. Sở giao dịch chứng khoán tổ chức dưới hình thức này được hoạt động theo
luật công ty cổ phần, phải nộp thuế cho nhà nước và chịu sự giám sát của một cơ
quan chuyên môn do chính phủ lập ra. Cơ quan chuyên môn này là cơ quan quản
lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Quản lý và điều hành sở
giao dịch chứng khoán là Hội đồng quản trị do các công ty chứng khoán thành
viên bầu ra và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán do Hội đồng quản trị đề cử.
Thứ ba: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới dạng một công ty cổ phần
nhưng có sự tham gia quản lý và điều hành của nhà nước. Đây là hình thức phổ
biến ở hầu hết các nước Châu á. Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành cũng tương
tự như hình thức trên nhưng trong thành phần Hội đồng quản trị có một số thành
viên do uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào, giám sát điều hành. Sở giao dịch
chứng khoán quốc gia bổ nhiệm.
b. Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán
Uỷ ban chứng khoán quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng
khoán do chính phủ thành lập. Uỷ ban chứng khoán quốc gia có nhiệm vụ xác
định loại doanh nghiệp nào được phép phát hành chứng khoán và loại chứng khoán
nào được mua bán. Uỷ ban này cấp giấy phép và kiểm tra hoạt động của các công
ty môi giới và thực hiện các công việc quản lý nhà nước khác.
Hội đồng quản trị và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán quản lý và điều
hành sở giao dịch chứng khoán. Tất cả các quyết định đều được Hội đồng quản trị
đưa ra. Hội đồng này bao gồm các công ty chứng khoán thành viên của sở giao
dịch chứng khoán, các thành viên liên doanh thậm chí có một số không phải là
thành viên của sở giao dịch chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa
vào. Hội đồng quản trị có quyền quyết định nhưng thành viên nào được phép buôn
bán tại sở giao dịch, những loại chứng khoán nào đủ tiêu chuẩn được phép niêm
yết tại phòng giao dịch. Hội đồng này có quyền đình chỉ hoặc huỷ bỏ việc niêm yết
một chứng khoán nào đó. Hội đồng quản trị có quyền kiểm tra quá trình kinh
doanh của các thành viên sở giao dịch. Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị



Trang 14
hiện. Đây là nguyên tắc trung gian căn bản cho tổ chức và hoạt động của thị trường
chứng khoán.
Nguyên tắc trung gian nhằm đảm bảo cho các loại chứng khoán là chứng khoán
thực và thị trường hoạt động lành mạnh, đều đặn hợp pháp và phát triển, bảo vệ lợi
ích của người đầu tư. Vì những nhà đầu tư không thể xét đoán một cách nhanh
chóng và chính xác giá trị thực sự của từng loại chứng khoán và cũng không dự
đoán được chính xác xu hướng biến động của nó. Vì vậy nếu người môi giới có
thái độ không khách quan trong hoạt động trung gian sẽ gây thiệt haị cho các nhà
đầu tư.
Xét về tính chất kinh doanh, môi giới chứng khoán có 2 loại: Môi giới chứng
khoán và thương gia chứng khoán.
Môi giới chứng khoán chỉ thương lượng mua bán chứng khoán theo lệnh của
khách hàng và ăn hoa hồng.
Thương gia chứng khoán còn gọi là người kinh doanh chứng khoán.
Nói chung các công ty môi giới chứng khoán tại các thị trường chứng khoán
đều đồng thời thực hiện 2 nghiệp vụ là người môi giới vừa là người kinh doanh
nhưng tại thị trường chứng khoán New York, London từ lâu người ta đã phân biệt
2 loại môi giới này và có luật lệ không chỉ hoạt động của thương gia chứng khoán.
b. Nguyên tắc định giá của mua bán chứng khoán.
Giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán do các nhà môi giới đưa ra. Mỗi
nhà môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại từng thời điểm tuỳ theo sự xét
đoán, kinh nghiệm và kỹ thuật dựa trên lượng cung cầu loại chứng khoán đó trên
thị trường.
c. Nguyên tắc công khai của thị trường chứng khoán.
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá. Thông
tin về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, tình hình tài
chính và kết quả kinh doanh của các công ty phát hành, số lượng chứng khoán và
giá cả của từng loại chứng khoán đều được thông báo công khai trên thị trường.

hiện tại.
Các lệnh trên khi đấu giá sẽ được ưu tiên theo thứ tự.

Trang 16
- Ưu tiên về giá: Giá đặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất được ưu tiên.
- Ưu tiên về thời gian: Trong cùng một mức giá lệnh nào được đưa ra trước sẽ
được ưu tiên.
- Ưu tiên về số lượng: Khi có nhiều lệnh cùng thoả mãn hai điều kiện trên, lệnh
nào có số lượng chứng khoán nhiều hơn sẽ được ưu tiên.
Trên thị trường chứng khoán phi tập trung, hoạt động mua bán chứng khoán cũng
diễn ra khá đơn giản. Khi một khách hàng muốn mua một số lượng chứng khoán
nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh cho công ty chứng khoán đang quản lý tài sản của
anh ta yêu cầu giao dịch hộ. Thông qua hệ thống viễn thông công ty môi giới sẽ
liên lạc với tất cả các nhà tạo thị trường của loại chứng khoán này để biết được giá
chào bán thấp nhất của loại chứng khoán này sau đó công ty này thông báo lại cho
khách hàng biết và nếu khách hàng chấp nhận, công ty sẽ thực hiện lệnh và giao
dịch của khách hàng được thực hiện.
III. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
Thị trường chứng khoán đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh
tế các nước trên thế giới. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển đến một mức độ nhất
định sẽ cần tới thị trường chứng khoán để hỗ trợ cho quá trình phát triển.
Trong thập kỷ vừa qua các thị trường chứng khoán trên thế giới đã phát triển hết
sức mạnh mẽ. Tổng giá trị cổ phiếu được yết giá trên các thị trường này tăng từ
4.700 tỷ USD năm 1985 lên 15200 tỷ USD năm 1995. Trong đó giá trị cổ phiếu
giao dịch trên thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển tăng nhanh từ
3% năm 1983 lên 17% tổng lượng giao dịch toàn thế giới năm 1995.
Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán có tác động tích cực tới sự
phát triển của các quốc gia. Thực tế cho thấy thị trường chứng khoán đã thúc đẩy
phát triển kinh tế ở nhiều nước một cách có hiệu quả thông qua việc góp phần tạo
ra vốn khả dụng. Thực vậy, đa số các dự án đầu tư cần phải sử dụng vốn dài hạn

đầu tư mới tiếp sức cho người đầu tư cũng thông qua việc mua bán lại chứng
khoán. Đó là quá trình biến các khoản tiết kiệm ngắn hạn thành nguồn nuôi dưỡng
và duy trì các khoản đâù tư dài hạn trên cơ sở tham gia tích cực và tự nguyện của
các nhà đầu tư.
Như vậy thị trường chứng khoán hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng trong việc cấp
các khoản tín dụng trung và dài hạn góp phần làm giảm áp lực lạm phát, sự phân

Trang 18
tích ở trên đã chỉ ra rằng thị trường chứng khoán có vai trò tích cực và không thể
thiếu trong nền kinh tế.

Trang 19
PHN II: S HèNH THNH TH TRNG CHNG KHON
TI VIT NAM.

I. TNH TT YU CA VIC HèNH THNH TH TRNG CHNG
KHON TI VIT NAM.
1. Do yờu cu ca nn kinh t.
Thc t cho thy tt c cỏc nc cú th trng chng khoỏn, khi nn kinh t th
trng ra i thỡ cha cú th trng chng khoỏn. Th trng chng khoỏn ch ra
i khi nn kinh t th trng ó phỏt trin mc nht nh v ũi hi phi hỡnh
thnh mt t chc no ú cú kh nng tip thờm sc mnh cho th trng - ú l
th trng chng khoỏn vi vic cung cp vn cho nn kinh t. Cú th núi nn kinh
t hng hoỏ phỏt trin lm ny sinh th trng chng khoỏn v th trng chng
khoỏn n lt nú li tip thờm ngun lc thỳc y nn kinh t hng hoỏ phỏt
trin.
"Trong nn kinh t nc ta hin nay, ch yu mi cú hỡnh thc giao lu vn giỏp
tip nờn cha huy ng v thu hỳt cú hiu qu ti u ngun vn cũn khỏ tim tng
ca t nc. Do ú, cựng vi s phỏt trin, hon thin th trng liờn ngõn hng,
nõng cao trỡnh giao lu vn giỏn tip, cn phi thỳc y s phỏt trin mnh m

nhà nước diễn ra nhanh hơn.
Nhu cầu về một thị trường chứng khoán tại Việt Nam ngày càng trở nên bức thiết
do những lý do mà em đã nêu trên nên chắc chắn trong tương lai gần Việt Nam sẽ
có một thị trường chứng khoán theo đúng ý nghĩa của nó để đáp ứng các nhu cầu
của nền kinh tế.
III. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY.
1. Thực trạng.
Tại thành phố Hồ Chí Minh hiện đã có 80 doanh nghiệp cổ phần trong đó có 24
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh công thương nghiệp dịch vụ, 22 ngân hàng
thương mại và 2 công ty tài chính với số vốn cổ phần lên tới 250 tỷ đồng. Các
doanh nghiệp này ngoài việc phát hành cổ phiếu, một số đơn vị (chủ yếu là các
ngân hàng và các công ty tài chính) đã phát hành các loại kỳ phiếu trung hạn.
Ngoài ra các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư phát triển quốc doanh, kho
bạc nhà nước cũng đã phát hành các loại kỳ phiếu có mục đích… tất cả các loại kỳ

Trang 21
phiếu, cổ phiếu nói trên đều có thể tham gia thị trường chứng khoán, do vậy có thể
nói rằng Việt Nam hiện nay đã có thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã hình thành và đi vào hoạt động. Đến ngày
31/8/2000 đã có hai phiên giao dịch. Hiện nay mới chỉ có 2 công ty cổ phần niêm
yết cổ phiếu là công ty điện lạnh (REE) và công ty vật liệu bưu chính viễn thông
(SACOM) cho nên hàng hoá cần cho thị trường rất ít.
Nói chung lại, thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ tồn tại ở mức độ rất sơ
khai, chưa thực sự là thị trường chứng khoán với đúng ý nghĩa của khái niệm thị
trường chứng khoán đã được mọi người nhìn nhận.
2. Những thuận lợi cho sự hình thành một thị trường chứng khoán thực sự
tại Việt Nam.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã có những tiến triển cơ bản tạo điều kiện thuận
lợi cho sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán. Chúng ta đã đạt

tỷ đồng chuyên môi giới chứng khoán tự doanh bảo lãnh, phát hành, quản lý danh
mục đầu tư lưu ký. Chỉ đại diện các công ty chứng khoán mới được giao dịch trực
tiếp trên hệ thống máy tính, khách hàng muốn làm quen và thông thạo tình hình thị
trường chứng khoán cần lựa chọn, tìm cho mình một công ty chứng khoán cung
cấp thông tin, tư vấn và làm môi giới mua bán CP.
Ai cũng có thể tham gia phiên giao dịch với số tiền tối thiểu 10.000đ. Hiện nay
mệnh giá CP phát hành thấp nhất là 100.000đ nhưng phiên giao dịch đầu tiên có
thể do công ty phát hành CP với mệnh giá 100000đ nhằm tạo điều kiện cho người
ít tiền cũng có thể mua được.
Để tham gia thị trường chứng khoán người mua cần đăng ký mở tài khoản tiền
mặt tại ngân hàng được chỉ định thanh toán chứng khoán và một tài khoản chứng
khoán cũng tại ngân hàng này. Người bán cũng vậy, thị trường giao dịch chứng
khoán sẽ mở cửa từ 8h sáng đến 15h chiều các ngày thứ 2,4,6 hàng tuần. Khi
phiên giao dịch được mở (thí dụ vào 8h sáng ngày 20/7) người mua cầm sổ tài
khoản đến các công ty chứng khoán hoặc văn phòng đại diện công ty bán chứng

Trang 23
khoán. Khách hàng có thể ra lệnh mua bán trước phiên giao dịch và được thông
tin liên tục qua Internet, điện thoại, Fax… về kết quả mua bán trong phiên giao
dịch về giá CP của mình bán ra, giá các loại CP ở từng thời điểm.
4. Hàng hoá ở thị trường chứng khoán.
Câu hỏi đưa ra hàng hoá ở thị trường chứng khoán Việt Nam là gì?
Đó là CP và trái phiếu, đó là hai loại chứng khoán cơ bản, cổ phiếu là chứng
khoán vốn (người đầu tư là chủ sở hữu), trái phiếu là chứng khoán nợ (người đầu
tư là chủ nợ), giá trái phiếu thường ít biến động hơn so với giá cổ phiếu do tiền lãi
thu được từ trái phiếu là cố định, còn cổ phiếu có thể tăng giảm tùy thuộc lợi
nhuận của doanh nghiệp. Biên độ giá chứng khoán không vượt quá +5% (Với CP)
là 1,8% với trái phiếu người đầu tư vào chứng khoán không phải trả một khoản
thuế nào.
Nhà đầu tư (người mua) bằng lòng với lợi nhuận thấp nhưng ổn định thường

dịch khi thị trường chứng khoán chính thức được hình thành số lượng và giá trị cổ
phiếu hiện nay còn quá nhỏ chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường chứng khoán
khi nó ra đời. Các loại trái phiếu tuy có đa dạng nhưng phần lớn là các trái phiếu
ngắn hạn không phải là đối tượng chính để mua bán trên thị trường chứng khoán.
Thứ hai: Hệ thống ngân hàng tuy đã đổi mới nhưng chưa mạnh cần tiếp tục phát
triển để đáp ứng các yêu cầu về thanh toán, chuyển giao, lưu trữ và thực hiện các
dịch vụ khác.
Thứ ba: Chưa có khung pháp lý đồng bộ và đầy đủ cho sự hoạt động của thị
trường chứng khoán. Hiện nay mặc dù đã có luật công ty, luật dân sự… Chúng ta
vẫn thiếu các văn bản pháp luật về chứng khoán và kinh doanh chứng khoán. Các
văn bản có liên quan về phát hành chứng khoán, kiểm toán, kế toán tuy đã có
nhưng chưa đồng bộ để có khả năng bao quát toàn bộ hoạt động của thị trường
chứng khoán. Thêm vào đó là việc chấp hành không nghiêm chỉnh luật pháp đã
kéo theo những hậu quả tiêu cực làm giảm lòng tin trong dân chúng về hiệu lực
của pháp luật.
Đây là khó khăn có ý nghĩa đặt biệt quan trọng khi mà khó khăn này chưa được
khắc phục thì việc tổ chức một thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh là
không thể có được.

Trang 25
Thứ tư: Việt Nam chưa tổ chức được một hệ thống định chế tài chính hoạt động
kinh doanh và đầu tư chứng khoán. Một khi chưa có các tổ chức này thì không thể
hình thành được một thị trường chứng khoán hoạt động theo đúng nguyên tắc của
thị trường.
Thứ năm: Thiếu cán bộ, kể cả cán bộ quản lý giám sát hoạt động của thị trường
chứng khoán và cán bộ trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán. Lâu nay đã có tới
hàng nghìn cán bộ từ nhiều cơ quan đã đi khảo sát về thị trường chứng khoán,
nhưng chưa có đội ngũ được đào tạo cơ bản về quản lý và kinh doanh trên thị
trường chứng khoán.
Như vậy, để thành lập được một thị trường chứng khoán hoạt động tốt cần phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status