Cơ sở lí luận về rủi ro, quản trị rủi ro - Pdf 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm về Rủi ro - Quản trị rủi ro
1.1. Khái niệm về rủi ro
Trong thực tế, rủi ro tồn tại ở mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, do vậy tùy theo mỗi
ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau mà “rủi ro” được định nghĩa khác nhau, chẳng
hạn:
 Rủi ro là khả năng xảy ra một biến cố mà ta hoàn toàn không chắc chắn (xác
suất xảy ra < 1).
 Dưới góc độ đầu tư: rủi ro trong đầu tư là không đạt được giá trị hiện tại thuần
NPV và chỉ số hoàn vốn nội bộ IRR như dự tính.
 Theo xác xuất thống kê: rủi ro là khả năng xuất hiện các biến cố ngẫu nhiên có
thể đo lường được bằng xác suất.
 Định nghĩa rủi ro hiện đại: rủi ro là khả năng một kết quả có lợi hay không có
lợi sẽ xảy ra từ những nguy hiểm hiện hữu.
1.2. Khái niệm về quản trị rủi ro
 Quản trị rủi ro là quá trình ngăn ngừa tiềm năng xuất hiện một kết quả không
mong đợi của các biến cố sẽ xảy ra trong tương lai.
Hay nói cách khác:
 Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ những nguy
cơ rủi ro về tài sản và thu nhập từ các hoạt động xản xuất - kinh doanh - dịch vụ
của một tổ chức.
Quản trị rủi ro không có nghĩa là né tránh rủi ro mà là đối diện với rủi ro để lựa
chọn rủi ro nào sẽ lưu giữ và rủi ro nào phải chuyển giao (bảo hiểm).
2. Tại sao Doanh nghiệp cần phải quản trị rủi ro?
Trong hoạt động của doanh nghiệp luôn tồn tại những rủi ro tiềm ẩn và chúng được
phân loại thành từng nhóm, mỗi nhóm có thể được phân biệt qua các tính chất đặc trưng
riêng của chúng. Các rủi ro trong cùng một nhóm sẽ có mức độ rủi ro như nhau. Rủi ro
trong hoạt động của doanh nghiệp được chia thành các nhóm sau:
 Rủi ro marketing
 Rủi ro tài chính
 Rủi ro quản lý nguồn lực

các quyết định khác của doanh nghiệp. Quản trị rủi ro cũng như các hoạt động khác của
doanh nghiệp cần phải tính đến chi phí của nguồn tài trợ cho các nhu cầu đó. Các quyết
định sẽ không đầy đủ nếu nó chỉ mới cho phép chọn lựa chiến lược quản trị rủi ro tốt hơn
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 2A
trong số các chiến lược được đưa ra mà nó còn phải được so sánh với quyết định quản trị
rủi ro của doanh nghiệp khác.
5. Kỹ thuật nhận dạng rủi ro
5.1. Thành phần của rủi ro
Rủi ro bao gồm các thành phần sau:
a. Mối nguy hiểm: là các điều kiện tạo ra hoặc làm tăng các khả năng rủi ro, gồm
 Nguy hiểm vốn có: chất hóa học, chất phóng xạ, cơ học, năng lượng.
 Nguy hiểm do con người: ý thức cá nhân, sai lầm của con người, tác động của
môi trường.
b. Nguồn rủi ro: gồm 7 nguồn chính
 Rủi ro kinh tế bao gồm:
- Suy thoái kinh tế: sức mua của cá nhân giảm dẫn đến doanh thu của doanh
nghiệp bị giảm.
- Thâm hụt ngân sách chính phủ cao hơn GDP.
- Lạm phát.
- Mất khả năng thanh toán do tỷ lệ nợ ngắn hạn cao hơn mức dự trữ ngoại tệ.
- Dự trữ ngoại tệ thấp hơn kim ngạch nhập khẩu.
- Nợ nước ngoài cao hơn GDP.
 Rủi ro chính trị:
- Chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách về thuế, hạn ngạch và các
giới hạn thương mại khác.
- Chính sách tài chính, lưu thông tiền tệ, kiểm soát ngoại hối, lãi suất.
- Chính sách lao động và tuyển dụng lao động.
- Chính sách môi trường, sức khỏe.
- Quốc hữu hóa và sung công.
 Rủi ro pháp lý: các rủi ro liên quan đến pháp lý, kiện tụng làm hao tổn sức người

5.2. Phương pháp nhận dạng rủi ro
Doanh nghiệp thường áp đặt nhận dạng mọi tổn thất ngẫu nhiên nên rủi ro thuần túy
được chia làm hai nhóm:
 Nhóm 1: Rủi ro đối với tài sản của doanh nghiệp:
- Rủi ro tài sản bị hư hỏng hoàn toàn không thể sử dụng được hoặc bị hư hại
làm cho năng suất giảm.
- Tổn thất trực tiếp của tài sản có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Tổn thất lớn có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 4A
 Bồi thường các tổn thất ngẫu nhiên của doanh nghiệp:
- Bồi thường trách nhiệm pháp lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Bồi thường các tai nạn lao động của công nhân hay tai nạn đột ngột của
khách hàng do sản phẩm của doanh nghiệp không đạt chất lượng.
- Các khoản bồi thường tài chính bất ngờ có một tác động giống như rủi ro khi
tài sản bị phá hỏng.
Có 7 phương pháp nhận dạng rủi ro:
 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính (phương pháp A.H. Criddle).
 Phương pháp lưu đồ.
 Phương pháp thanh tra hiện truờng.
 Phương pháp phối hợp với các bộ phận khác trong tổ chức.
 Phương pháp thông qua tư vấn.
 Phương pháp phân tích hợp đồng.
 Phương pháp nghiên cứu số liệu lịch sử (số liệu thống kê).
5.3. Phân tích nguyên nhân và tổn thất
5.3.1. Nguyên nhân tai nạn
Có hai quan diểm nhìn nhận nguyên nhân tai nạn:
a. Quan điểm liên quan đến con người
Theo Heinrich, hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp được nhóm

thay đổi và phải kết hợp nhiều phương pháp để nhận dạng mọi rủi ro tiềm năng của doanh
nghiệp.
6. Đo lường rủi ro
6.1. Mục tiêu của đo lường rủi ro
 Hiểu biết về rủi ro như: nguồn gốc của rủi ro, vùng hoạt động của rủi ro và hậu
quả của nó.
 Tính chi phí rủi ro: xác định được phương pháp xử lý rủi ro tiết kiệm nhất và
định giá chi phí rủi ro.
 Kiểm soát rủi ro: chọn phương pháp có chi phí rủi ro thấp nhất. Khi bảo hiểm
được chọn làm phương pháp xử lý rủi ro thì nhà bảo hiểm sẽ là người định giá
bảo hiểm.
6.2. Phương pháp đo lường rủi ro
 Sử dụng thang đo ảnh hưởng, thang đo khả năng xảy ra và sắp xếp ưu tiên các
rủi ro.
 Sử dụng phương pháp chuyên gia để đo lường các rủi ro có thể xảy ra.
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 6A
 Đo lường rủi ro nhắm xác định các rủi ro cần được ưu tiên kiểm soát và tài trợ
khi cần thiết.
 Đo lường rủi ro giúp doanh nghiệp nhận rõ các rủi ro có liên quan đến sự sống
còn của doanh nhiệp.
Thang đo ảnh hưởng
Đánh giá Ảnh hưởng tiềm năng
Nghiêm trọng Tất cả các mục tiêu đều không đạt
Nhiều Hầu hết các mục tiêu đều bị ảnh hưởng
Trung bình Một số chỉ tiêu bị ảnh hưởng, cần có sự nỗ lực điều chỉnh
Ít (nhỏ) Cần ít nỗ lực để điều chỉnh các chỉ tiêu
Không đáng kể Ảnh hưởng rất nhỏ, điều chỉnh bình thường
Thang đo khả năng xảy ra
Đánh giá Xác suất
Hầu như chắc chắn xảy ra Có thể xảy ra nhiều lần trong một năm

bình
Cao Cao
Khó xảy ra Thấp
Trung
bình
Trung
bình
Cao
Hiếm khi xảy ra Thấp
Trung
bình
Cao
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 7A
Các số liệu được sử dụng để đo lường rủi ro:
 Số liệu thống kê về tỷ lệ sản phẩm hư hỏng, sai lỗi, khiếu nại của khách hàng, số
lượng công nhân bỏ việc, doanh số hàng tháng/năm ...
 Số liệu thống kê về lượng đơn hàng, mẫu mã phải sản xuát.
 Lưu đồ hoạt động của doanh nghiệp.
 Các báo cáo tài chính của ít nhất 2 năm gần nhất.
7. Rủi ro tín dụng
Dù đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, rủi ro tín dụng vẫn là
nguyên nhân chủ yếu gây ra phá sản ngân hàng.
Rủi ro tín dụng gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, do đó điều quan trọng là phải thực
hiện việc đánh giá toàn diện năng lực quản trị của ngân hàng liên quan đến việc nhận định,
điều hành, giám sát, kiểm tra, củng cố và thu hồi nợ. Quản trị rủi ro tín dụng gồm cả việc
đánh giá chính sách và triển khai thực hiện của ngân hàng.Việc đánh giá cũng nhằm xác
định các thông tin tài chính đầy đủ do khách hàng cung cấp để ngân hàng sử dụng làm cơ
sở cho việc mở rộng tín dụng, cũng như đánh giá định kỳ về tình hình biến đổi rủi ro.
Thomas P.Fitch:
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo

Sơ đồ:
Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch
(Transaction risk). Rủi ro danh mục được phân ra hai loại: rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và
rủi ro tập trung (Concentration risk). Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố riêng biệt của
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 9A
RỦI RO TÍN DỤNG
Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục
Rủi ro lựa chọn Rủi ro bảo đảm Rủi ro nghiệp vụ Rủi ro tập trung Rủi ro nội tại
mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Rủi ro tập trung là mức dư nợ cho vay được dồn
cho một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực
địa lý, ví dụ: trong những năm 90 Ngân hàng Công thương đã tập trung cho vay quá mức
đối với công ty Minh Phụng, kết quả khi công ty Minh Phụng phá sản đã gây tổn thất rất
lớn cho ngân hàng.
Rủi ro giao dịch có 3 thành phần: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp
vụ. Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng. Rủi ro bảo đảm
xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo, như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại
tài sản đảm bảo và mức an toàn của nó. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị
hoạt động cho vay, như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc
thực hiện cho vay và kiểm soát danh mục cho vay, tái xét và giám sát danh mục cho vay,
bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có
vấn đề.
8. jdgjhg
9. hjgjhsn
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 10A
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
1. Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB)
Tên gọi : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Tên giao dịch quốc tế : Asia Commercial Bank
Tên viết tắt : ACB

do Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993. Ngày 04/06/1993, ACB chính
thức đi vào hoạt động.
2.1.2. Tầm nhìn
Ngay từ ngày đầu hoạt động, ACB đa xác định tầm nhìn là trở thành NHTMCP bán
lẻ hàng đầu Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam vào thời điểm đó “Ngân
hàng bán lẻ với khách hàng mục tiêu là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ” là một định
hướng rất mới đối với ngân hàng Việt Nam, nhất là một ngân hàng mới thành lập như
ACB.
2.1.3. Chiến lược
Cơ sở cho việc xây dựng chiến lược hoạt động qua các năm là:
• Tăng trưởng cao bằng cách tạo nên sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết nhu cầu khách
hàng và hướng tới khách hàng;
• Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro đồng bộ, hiệu quả và chuyên nghiệp để đảm bảo
cho sự tăng trưởng được bền vững;
• Duy trì tình trạng tài chính ở mức độ an toàn cao, tối ưu hóa việc sử dụng vốn cổ
đông (ROE mục tiêu là 30%) để xây dựng ACB trở thành một định chế tài chính
vững mạnh có khả năng vượt qua mọi thách thức trong môi trường kinh doanh còn
chưa hoàn hảo của ngành ngân hàng Việt Nam;
• Có chiến lược chuẩn bị nguồn nhân lực và đào tạo lực lượng nhân viên chuyên
nghiệp nhằm đảm bảo quá trình vận hành của hệ thống liên tục, thông suốt và hiệu
quả;
• Xây dựng “Văn hóa ACB” trở thành yếu tố tinh thần gắn kết toàn hệ thống một
cách xuyên suốt.
ACB đang từng bước thực hiện chiến lược tăng trưởng ngang và đa dạng hóa.
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 12A
a. Chiến lược tăng trưởng ngang: thể hiện qua ba hình thức
➢ Tăng trưởng thông qua mở rộng hoạt động: Hiện nay trên phạm vi toàn quốc, ACB
đang tích cực phát triển mạng lưới kênh phân phối tại thị trường mục tiêu, khu vực
thành thị Việt Nam, đồng thời nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng mới để cung cấp cho thị trường đang có và thị trường mới trong tình hình yêu

2.2.Phát triển – các cột mốc đáng ghi nhớ
Tầm nhìn, mục tiêu và chiến lược nêu trên được cổ đông và nhân viên ACB đồng
tâm bám sát trong suốt hơn 14 năm hoạt động của mình và những kết quả đạt được đa
chứng minh rằng đó là các định hướng đúng đối với ACB. Đó cũng chính là tiền đề giúp
Ngân hàng khẳng định vị trí dẫn đầu của mình trong hệ thống NHTM tại Việt Nam trong
lĩnh vực bán lẻ. Dưới đây là một số cột mốc đáng nhớ của ACB:
➢ Năm 1996: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam phát
hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-MasterCard.
➢ Năm 1997: ACB phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-Visa. Cũng trong năm này,
ACB bắt đầu tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại dưới hình thức của một chương
trình đào tạo nghiệp vụ ngân hàng toàn diện kéo dài hai năm, do các giảng viên
nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng thực hiện. Thông qua chương trình này, ACB
đa nắm bắt một cách hệ thống các nguyên tắc vận hành của một ngân hàng hiện đại,
các chuẩn mực và thông lệ trong quản lý rủi ro, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng
bán lẻ, và nghiên cứu ứng dụng trong điều kiện Việt Nam.
➢ Năm 1999: ACB triển khai chương trình hiện đại hóa công nghệ thông tin ngân
hàng, xây dựng hệ thống mạng diện rộng, nhằm trực tuyến hóa và tin học hóa hoạt
động giao dịch; và cuối năm 2001, ACB chính thức vận hành hệ thống công nghệ
ngân hàng lõi là TCBS (The Complete Banking Solution: Giải pháp ngân hàng toàn
diện), cho phép tất cả chi nhánh và phòng giao dịch nối mạng với nhau, giao dịch
tức thời, dùng chung cơ sở dữ liệu tập trung.
➢ Năm 2000: ACB, sau những bước chuẩn bị từ năm 1997, đa thực hiện tái cấu trúc
như là một bộ phận của chiến lược phát triển trong nửa đầu thập niên 2000 (2000 –
2004). Cơ cấu tổ chức được thay đổi theo định hướng kinh doanh và hỗ trợ. Các
khối kinh doanh gồm có Khối Khách hàng cá nhân, Khối Khách hàng doanh nghiệp,
và Khối Ngân quỹ. Các đơn vị hỗ trợ gồm có Khối Công nghệ thông tin, Khối Giám
sát điều hành, Khối Phát triển kinh doanh, Khối Quản trị nguồn lực và một số
phòng ban do Tổng giám đốc trực tiếp chỉ đạo. Hoạt động kinh doanh của Hội sở
được chuyển giao cho Sở giao dịch (TP. HCM). Việc tái cấu trúc nhằm đảm bảo
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 14A

của một ngân hàng bán lẻ hàng đầu.
SVTH: Nguyễn Minh Hoàng 15A

Trích đoạn Tình hình hoạt động tín dụng tại ACB
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status