Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
I. Đặt vấn đề
Hằng năm, các trường Đại học tuyển sinh thêm hàng nghìn sinh viên, con số sinh
viên các trường Đaị học, Cao đẳng ngày càng tăng. Năm 2012, tổng số sinh viên đại
học, cao đẳng của cả nước là trên 2,2 triệu sinh viên; số học sinh trung cấp chuyên
nghiệp là 623 nghìn học sinh. Theo thống kê, cả nước có 142 trường cao đẳng nghề,
316 trường trung cấp nghề, 850 trung tâm dạy nghề. Số học sinh học nghề được tuyển
mới trong năm nay là 1,9 triệu lượt người. Trong đó, cao đẳng nghề và trung cấp nghề
là 0,4 triệu lượt người; sơ cấp nghề 1,5 triệu lượt người. Tuy nhiên, một vấn đề hết
sức nghiêm trọng đang được đặt ra, đó là tình trạng bỏ học của học sinh, sinh viên
đang diễn ra với con số không nhỏ. Theo ông Ngũ Duy Anh, Vụ trưởng Vụ công tác
HS-SV, Bộ GD-ĐT, thống kê cho thấy số sinh viên phải nghỉ học do không có khả
năng đóng học phí và đảm bảo cuộc sống tối thiểu là 1.163 em (556 sinh viên học hệ
đại học và 607 sinh viên học hệ cao đẳng) , chiếm tỷ lệ khoảng 0,12% trên tổng số
sinh viên của các trường đã có báo cáo.
Có nhiều gia đình để tiếp tục việc học của con, họ phải đi vay nặng lãi và chịu
nhiều hậu quả khi hoàn cảnh gia đình khó khăn lại càng khó khăn hơn vì lãi mẹ đẻ lãi
con.
Vấn đề này nếu không được quan tâm đúng mức sẽ đưa đến những hậu quả xấu
cho bản thân học sinh, sinh viên bỏ học, gia đình của các em và cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến xã hội. Chính quyền nhà nước muốn khắc phục tình trạng bỏ học của
học sinh, sinh viên hiện nay là vấn đề hết sức khó khăn và bức thiết, đòi hỏi phải có
1
Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
sự quan tâm của nhiều thành phần. Trước những đòi hỏi đó, Nhà nước đã đưa ra
những chính sách nhằm giải quyết phần nào tình trạng này. Chính sách cho sinh viên
vay vốn được được đưa ra như một giải pháp để giải quyết vấn đề học sinh, sinh viên
bỏ học. Ngay sau khi chính sách được áp dụng đã cho thấy sự hiệu quả, như một chiếc
phao cho sinh viên nghèo, giúp giảm thiểu được số sinh viên bỏ học vì hoàn cảnh gia
đình khó khăn Tuy nhiên, vẫn luôn có bất cập xảy ra trong quá trình thực hiện chính
sách ở các địa phương, cũng như ở các ngân hàng chính sách các tỉnh, các huyện.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày đối tượng được vay vốn
bắt đầu nhận vốn vay cho đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi) được ghi trong hợp đồng tín
dụng. Thời hạn cho vay bao gồm thời hạn phát tiền vay và thời hạn trả nợ.
3
Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
Thời hạn phát tiền vay là khoảng thời gian tính từ ngày đối tượng được vay vốn nhận
món vay đầu tiên cho đến ngày học sinh, sinh viên kết thúc khoá học, kể cả thời gian
học sinh, sinh viên được các trường cho phép nghỉ học có thời hạn và được bảo lưu
kết quả học tập (nếu có). Thời hạn phát tiền vay được chia thành các kỳ hạn phát tiền
vay do Ngân hàng Chính sách xã hội quy định hoặc thoả thuận với đối tượng được
vay vốn.
Thời hạn trả nợ là khoảng thời gian tính từ ngày đối tượng được vay vốn trả món nợ
đầu tiên đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi). Đối với các chương trình đào tạo có thời
gian đào tạo không quá một năm, thời hạn trả nợ tối đa bằng 2 lần thời hạn phát tiền
vay, đối với các chương trình đào tạo khác, thời hạn trả nợ tối đa bằng thời hạn phát
tiền vay. Thời hạn trả nợ được chia thành các kỳ hạn trả nợ do Ngân hàng Chính sách
xã hội quy định.
1.3 Mức vốn cho vay
Mức vốn cho vay tối đa là 1,1 triệu đồng/tháng/học sinh, sinh viên (quy định mới năm
2013).
Ngân hàng Chính sách xã hội quy định mức cho vay cụ thể đối với học sinh, sinh viên
căn cứ vào mức thu học phí của từng trường và sinh hoạt phí theo vùng nhưng không
vượt quá mức cho vay quy định tại khoản 1 Điều này.
Khi chính sách học phí của Nhà nước có thay đổi và giá cả sinh hoạt có biến động,
Ngân hàng Chính sách xã hội thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tài chính trình Thủ tướng
Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh mức vốn cho vay.
4
Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
1.4 Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên là 0,5%/tháng.
Sang năm 2013, Ngân hàng Chính sách có đổi mới một số điều cơ bản như : tăng mức
cho vay thêm 100.000 đồng/tháng. Sẽ là 1,1 triệu đồng/học sinh/tháng. Dự kiến học
kỳ 1 này, Ngân hàng sẽ cho vay lượng vốn tăng thêm so với trước khoảng 650 tỷ
đồng. Tổng số vốn cho vay học kỳ I khoảng 3.000 tỷ đồng, dự kiến cả năm sẽ cho vay
khoảng 5.500 tỷ đồng”, ông Nguyễn Văn Lý, Phó Tổng Giám đốc NHCSXH cho biết.
Lãnh đạo ngân hàng cũng khẳng định dù tăng mức cho vay vẫn đảm bảo được đủ
nguồn vốn để giải ngân cho vay ngay học kỳ 1 này. Cứ đúng đối tượng là NHCSXH
tạo điều kiện, ưu tiên cho vay. Các cơ sở của NHCSXH trên toàn quốc đã sẵn sàng,
với 203.000 tổ tiết kiệm, gần 11.000 điểm giao dịch tại xã, các phòng giao dịch đã sẵn
6
Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
sàng phục vụ. Thậm chí vào thời điểm nhập học, nhu cầu vay của học sinh, sinh viên
cao, NHCSXH sẽ tăng phiên giao dịch.
Những điều trên tạo điệu kiện thuận lợi hơn cho sinh viên, học sinh nghèo có cơ hội
tiếp tục theo đuổi việc học. Tránh được tình trạng bỏ học hay vay nặng lãi.
2.1.2 Hạn chế của Chính sách
Sự phối hợp giữa các cấp ủy chính quyền và Ngân hàng Chính sách còn thiếu chặt
chẽ ở một số địa phương. Vì vậy, nhiều địa phương còn chưa chú trọng đến việc quản
lý, sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và đặc biệt là về trách nhiệm trả nợ tiền
vay khi đến hạn.
Ngoài ra, tình trạng ỷ lại vào tín dụng chính sách của một bộ phận người dân ở
một số địa phương có xu hướng gia tăng. Điều này đặt ra việc thực hiện các giải pháp
đồng bộ, nhằm nâng cao ý thức của người dân, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ
trưởng Tổ tiết kiệm-vay vốn, phát huy hơn nữa vai trò của các hội, đoàn thể và sự
tham gia cụ thể, hiệu quả, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các ngành liên quan.
Hiện nay, quy định không buộc học sinh sinh viên phải báo cáo kết quả vay vốn
cho nhà trường, công tác phối hợp giữa các ngân hàng chính sách xã hội với các
trường chưa đồng bộ nên trường chưa có đầy đủ thông tin hai chiều về việc triển khai
chương trình. Bộ phận quản lý gặp khó khăn trong việc theo dõi và nắm bắt số liệu
chính xác để tổng hợp, báo cáo hàng năm.
khoa Hán – Nôm, ở Huyện Tân Phú – Đồng Nai chia sẻ : “ 2 năm đầu thì được vay,
nhưng 2 năm sau thì không được vay nữa mà không đủ lí do”.
Là đối tượng hưởng lợi, nhưng số sinh viên có hiểu biết về chính sách lại không
nhiều, đây cũng là lí do sinh viên gặp khó khăn trong quá trình vay vốn hoặc vay
không đúng đối tượng. Theo kết quả nghiên cứu thì có 38% là không biết gì về luật
vay vốn và 43% biết chút ít. Trong khi đó con số biết và nắm được luật chỉ có 19%.
chính bản thân người vay không hiểu quyền lợi của họ cũng không được đảm bảo.
Chính vì lí do đó, khi được hỏi về hoàn cảnh gia đình Gia đình trung bình chiếm
hơn 1 nửa, 50%. Số hộ gia đình cận nghèo và nghèo cũng chiếm một số lượng khá lớn
31% Khi được hỏi về diện chính sách thì có 60% sinh viên trả lời là : không thuộc
diện chính sách nào. Số còn lại cũng có tới 23% là gia đình nghèo và cận nghèo, 10%
con gia đình có người nhà là thương binh liệt sĩ, 7% là mồ côi. Theo nghi định 157
đối tượng hưởng lợi: Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các
trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại
các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt
Nam, gồm: Học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ
9
Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
nhưng người còn lại không có khả năng lao động hoặc gia đình thuộc hộ nghèo, cận
nghèo, gia đình khó khăn tài chính vì tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh
trong thời gian theo học có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư
trú.
Đối chiếu với con số kết quả thống kê cho thấy một điều trái ngược ở đây, đó là
Ngân hàng chính sách cho vay sai đối tượng. Có nhiều sinh viên không thuộc đối
tượng ưu đãi nhưng vẫn được vay vốn, điều này gây ra nhiều khó khăn, bất cập trong
quá trình thực hiện chính sách . Điều này cũng liên quan nhiều đến vấn đề công bằng
xã hội khi người một số người đúng đối tượng thì không được vay, vì một số lí do từ
thủ tục cho đến ngân hàng chính sách báo hết vốn, còn một số người có hoàn cảnh đủ
để đảm bảo việc học tập thì được vay và sử dụng số tiền ưu đãi đó cho những mục
đích khác ngoài việc học và chi phí sinh hoạt, điều này có thể thấy ở 17 % sinh viên
hàng chính sách và các cấp chính quyền địa phương không cho sinh viên hệ tại chức
là chưa đúng với quy định. Điều này khiến nhiều người bức xúc và không đảm bảo
được những yếu tố như tính công bằng, dân chủ , trong khi thực hiện chính sách.
11
Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
Điều đáng nói hơn là quy định của Chính sách. Khi đưa vào thực hiện, các nghành
liên quan đã được tập huấn và học tập những quy định đó. Những điều nói trên đều
trái với quy định. Vậy chính sách ban hành ra không đáp ứng được nhu cầu của những
sinh viên nghèo khó, đúng đối tượng. Tuy chỉ là bộ phận nhỏ, tuy nhiên nếu cứ diễn
ra tình trạng mỗi địa phương một kiểu, không đồng nhất, Ngân hàng và chính quyền
nhiêu khê, làm khó dân bằng những thủ tục rắc rối, chờ đợi với thời gian dài thì Chính
sách có ban ra cũng không đảm bảo được nhu cầu của học sinh, sinh viên nghèo.
Những bức xúc của sinh viên đáng được quan tâm và giải quyết cách thỏa đáng, để
đảm bảo tính công bằng xã hội và sự minh bạch của những người thi hành chính sách,
có như vậy mới có thể làm cho người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước, tránh tình trạng tư lợi trong quá trình cho sinh viên vay vốn.
Còn một điều đáng nói hơn trong vấn đề sinh viên vay vốn đó là vấn đề “Vay dễ, trả
khó”. Những khó khăn trên là những thiểu số, còn đại đa số đều được vay vốn để tiếp
tục cho việc học của mình. Tuy nhiên, nếu tính một phép tính nhỏ, một SV học bậc
đại học 4 năm, có thể vay của ngân hàng tối đa là 44 triệu đồng, tương đương 5,5 triệu
đồng/học kỳ (chưa tính lãi suất 0,65% / tháng). Lúc ra trường họ sẽ phải trả nợ cho
ngân hàng 44 triệu đồng. Trong khi chưa có việc làm thì số nợ đó quá lớn. Nếu quá
thời hạn trả nợ, được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay. Hầu hết sinh viên được xét
cho vay vốn của NHCSXH đều thuộc diện gia đình khó khăn. Nếu ra trường lại phải
làm công việc lao động giản đơn, tạm bợ sẽ khó có điều kiện trả nợ vay. Theo quy
định, đối với các chương trình đào tạo có thời gian không quá 1 năm, thời hạn trả nợ
tối đa bằng 2 lần thời hạn phát tiền vay. Đối với các chương trình đào tạo khác, thời
12
Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
hạn trả nợ tối đa bằng thời hạn phát tiền vay. Thời hạn trả nợ được chia thành các kỳ
để người làm tiểu luận có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu về chính sách, tạo thêm cho
mình kiến thức và những thông tin bổ ích làm cơ sở cho mình sau này khi ra làm việc.
2. Kiến nghị
Để Chính sách ngày càng hiệu quả và đảm bảo quyền lợi cho sinh viên học sinh
nghèo, cần có những biện pháp cụ thể như:
- Cần phổ biến rộng rãi luật vay vốn đến đối tượng được vay ( học sinh, sinh
viên, phụ huynh…) nhằm cho họ hiểu cụ thể về chương trình vay vốn. Điều
này sẽ giúp giảm tình trạng sử dụng vốn vay không đúng mục đích ở người
dân.
- Yêu cầu người vay thực hiện nghiêm chỉnh những quy định đã được đặt ra và
đưa ra hình thức kỉ luật cho những sai phạm và hành vi tư lợi cá nhân.
14
Bài tiểu luận : Chính sách vay vốn ưu đãi cho sinh viên nghèo
- Thống nhất thủ tục vốn vay giữa Ngân hàng chính sách và chính quyền địa
phương để tránh xảy ra tình trạng “ Mỗi nơi làm một kiểu”.
- Nhà trường tạo mọi điều kiện thuận lợi để sinh viên được vay vốn.
- Nhà trường liên kết với các nhà tuyển dụng để góp phần giải quyết vấn đề việc
làm cho sinh viên.
- Để khoản dư nợ ngân hàng không là ghánh nặng quá lớn cho sinh viên sau khi
ra trường, chính phủ đưa ra những chính sách, biện pháp hỗ trợ và tạo điều
kiện việc làm cho sinh viên sau khi ra trường và nên đi song hành với chính
sách cho sinh viên vay vốn.
Tài liệu tham khảo :
Trong quá trình làm tiểu luận, tôi tham khảo những tài liệu sau :
Chính sách xã hội
Trang mạng chính phủ Việt Nam :
15