Đề tài " đặc điểm sing trưởng và kỹ thuật sản xuất cây cà phê " - Pdf 16

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
&0&

Môn: Kỹ Thuật Trồng Trọt
GVHD: Nguyễn Thị Cách
BÀI TẬP NHÓM
Chủ Đề:
Nhóm Thực Hiện: (N2)
1. Phan Thanh Huấn
2. Phan Hành
3. Nguyễn Thị Diễm
Hồng
4. Doãn Thị Hồng
5. Ngô Quang Hưng
6. Nguyễn Thị Hương
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
&0&

Môn: Kỹ Thuật Trồng Trọt
GVHD: Nguyễn Thị Cách
BÀI TẬP NHÓM
Chủ Đề:
Nhóm Thực Hiện: (N2)
1.Phan Thanh Huấn
2.Phan Hành
3.Nguyễn Thị Diễm Hồng
4.Doãn Thị Hồng
5.Ngô Quang Hưng
6.Nguyễn Thị Hương

[20]. Theo thống kê của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) : Kim
ngạch xuất khẩu cà phê nước ta gần 1 tỷ USD/niên vụ và sẽ vượt ngưỡng 1
tỷ USD.
Điều đó khẳng định rằng nếu cây cà phê được quan tâm, phát triển đúng
hướng thì sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Nhận thấy
tầm quan trọng này chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài:
II.GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÂY CÀ PHÊ
1.Nguồn gốc,xuất sứ và lịch sử phát triển cây cà phê ở Việt nam :
Cà phê - loài cây bắt nguồn từ Ethiopia
Cây cà phê được đưa vào trồng ở Việt Nam từ năm 1870, trước hết là ở
một số nhà thờ tại Hà Nam, Quảng Bình, Kontum Song mãi tới đầu thế kỷ
hai mươi trở đi thì cây cà phê mới được trồng trên quy mô tương đối lớn của
các chủ đồn điền người Pháp tại
Phủ Quỳ - Nghệ An và sau đó là ở
Đắc Lắc và Lâm Đồng, nhưng
tổng diện tích không quá vài ngàn
hecta. Sau cách mạng tháng 8, diện
tích cà phê ở miền Bắc được phát
triển thêm tại một số nông trường
quốc doanh và thời kỳ có diện tích
cao nhất là trên 10.000 HA VÀO
NẮM 1963 - 1964. ở miền Nam
trước ngày giải phóng, vào năm 1975 diện tích cà phê có khoảng 10.000 ha.
Tại Đắc Lắc có khoảng 7.000 ha, Lâm Đồng 1.700 ha và Đồng Nai 1.100 ha.
Cà phê trồng ở miền Bắc trong những năm trước đây chủ yếu là cà phê chè
(Coffea arabica), năng suất thường đạt từ 400 - 600 kg/ha, có một số điển
hình thâm canh tốt đã đạt trên 1 tấn/ha. Hạn chế lớn nhất đối với việc trồng
cà phê chè ở miền Bắc là tác hại của sâu bệnh. Sâu đục thân (Xylotrechus
quadripes) và bệnh gỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix), là hai đối tượng sâu
bệnh hại nguy hiểm nhất. Do điều kiện sinh thái không phù hợp, đặc biệt là

rộng 6.0 cm (2.4 in).
Nó phát ra những bó thơm ngát, trong khi những bông hoa trắng nở ra cùng
một lúc.
Trái của cây hình oval, dài khỏang 1.5 cm, và có màu xanh lá khi chưa chín
muồi, nhưng chín dần thành màu vàng, sau đó đỏ thắm và trở thành đen lại.
Mỗi trái thường có 2 hạt nhưng đến 5-10% trái chỉ có 1; nó được gọi là
peaberry. Trái nở từ 7-9 tháng.
 Thân
Cây cà phê chè có thể cao tới 6 m, cà
phê vối tới 10 m. Tuy nhiên ở các trang
trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để
giữ được độ cao từ 2-4 m, thuận lợi cho
việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon
dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval.
Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới
xanh nhạt hơn. Chiều dài của lá khoảng
8-15 cm, rộng 4-6 cm. Rễ cây cà phê là
loại rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1 đến
2,5 m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung
quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng
nuôi cây.
 Hoa
Hoa cà phê
Hoa cà phê màu trắng, có năm
cánh, thường nở thành chùm đôi
hoặc chùm ba. Màu hoa và hương
hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa
nhài. Hoa chỉ nở trong vòng 3 đến
4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ
vài ba tiếng. Một cây cà phê

Thỉnh thoảng cũng gặp nhưng quả chỉ có một hạt (do chỉ có một nhân
hoặc do hai hạt bị dính lại thành một).
- Cấu tạo của quả: cấu tạo của một quả cà phê bao gồm các bộ phận
sau đây: (hình 1)

Hình 1: Cấu tạo quả cà phê.
Thời gian mang quả trên cây từ lúc bắt đầu hình thành quả non đến
khi quả chín:
+ Cà phê chè: từ 7 - 8 tháng.
+ Cà phê vối: từ 9 - 10 tháng.
2.Đặc điểm về sinh lý và thực vật của cây cà phê.
Yêu cầu sinh thái
- Phạm vi nhiệt độ biến động từ 15 - 30oC, nhưng lý tưởng nhất có nhiệt độ
trung bình từ 19 - 24oC
- Có lượng mưa năm từ 1500 - 2000mm
- Độ cao so với mặt biển từ 800 - 2500m, có một mùa khô hạn nhẹ kéo dài
từ 2 - 3 tháng
- Ưa ánh sáng tán xạ, có cây che bóng.
Một số đặc điểm sinh thái của cây cà phê
- Nở hoa: Thường cuối vụ thu hoạch cây đã có quá trình phân hóa
mầm non. Mầm hoa tiếp tục phát triển vào sau vụ thu hoạch. Nếu mầm
hoa phát triển đã hoàn chỉnh (dạng mỏ sẻ) khi được tưới nước hay có
lượng mưa trên dưới 15 mm thì sau đó 5 - 7 ngày hoa sẽ nở, thời gian này
có thể dài hơn nếu trước đó hoa chưa phát triển đầy đủ. Cà phê chè tự thụ
phấn (trên dưới 90%) còn cà phê vối thì thụ phấn chéo (dị hoa thụ phấn).
Do đặc điểm thụ phấn chéo của cà phê vối vì vậy khi chúng ta sử dụng hạt
cà phê vối để làm giống thì khó tạo ra một vườn cà phê thuần chủng.
Ngày nay một số nước đã trồng cà phê vối bằng các cành giâm thông qua
biện pháp nhân giống vô tính. Ưu điểm của nhân giống vô tính là tạo ra
các vườn cà phê vối thuần chủng, mang các đặc điểm tốt của các cây mẹ

hạn ở lớp đất mặt), kỹ thuật bón phân (bón phân theo mép ngoài của tán,
kỹ thuật tủ gốc giữ ẩm và tưới nước).
- Sự phát triển cành lá:
Trong điều kiện thích hợp để phát triển được thêm một cặp cành hay
một đôi lá phải cần một thời gian từ 25 - 30 ngày. Cây con sau khi trồng
được một năm có khả năng phát triển từ 12 - 14 cặp cành, sau khi trồng
18 tháng cây đã đủ chiều cao để hãm ngọn (những nơi chăm sóc tốt khả
năng sinh trưởng này còn lớn hơn). Sự ra cành của cà phê trên thân theo
quy luật đối xứng (mỗi một đốt có một cặp cành đối xứng ) cá biệt có
những chủng cà phê chè tại một đốt trên thân cho ba cành phân bố đều
quanh thân.
Tùy theo từng chủng, từng vùng sinh thái mà trên cành cấp một có
phát triển các cành cấp hai. Nếu được cắt tỉa hợp lý thì cây cà phê vối có
nhiều hệ cành quả thứ cấp. Cấu tạo của một cây cà phê có những bộ phận
chủ yếu sau đây (hình 2):
Cành cấp một mọc trực tiếp từ
thân, thường thẳng góc với thân hoặc
tạo thành một góc nhỏ hơn 90
0
tùy
từng giống và chủng cà phê. Các cành
thứ cấp phát triển trên cành cấp 1,
cành cấp 2, cấp 3, cấp 4 v.v Chồi
vượt được mọc từ thân và song song
với thân. Nếu uốn thân cũng tạo thành
các chồi vượt mọc thẳng góc với thân.

Hình 2: Sự phân bố các loại cành
của cây cà phê
Từ các chồi vượt có thể giữ lại để tạo thành các thân mới trong kỹ

Khí hậu
Không phải vùng nào ở trên trái đất cũng trồng được cà phê. Ngoài
yếu tố đất đai, cây cà phê còn đòi hỏi một số yêu cầu về nhiệt độ, ẩm
độ, lượng mưa, ánh sáng, gió. Vì vậy, khi chọn vùng trồng cà phê phải
chú ý tới các yếu tố rất quan trọng này.
- Nhiệt độ: Nói chung trong phạm vi nhiệt độ tương đối rộng từ 50C
đến 320C cây cà phê vẫn có khả năng tồn tại, sinh trưởng và phát
triển. Song phạm vi nhiệt độ phù hợp đối với từng giống cà phê có
khác nhau.
- Cà phê ưa nơi mát và hơi lạnh. Phạm vi thích hợp từ 180C - 250C,
thích hợp nhất từ 20 - 220C. Do yêu cầu về nhiệt độ như vậy nên cà
phê chè thường được trồng ở miền núi có độ cao từ 600 - 2.500 m
(nguyên quán cà phê chè là ở Ethiopie nơi có độ cao trên dưới 2.000
m). Các nước trồng cà phê chè có phẩm vị thơm ngon như: Kenya,
Tanzania, Ethiopie, Côlombia thường được trồng ở nơi có độ cao từ
800 m trở lên. Ngược lại cà phê vối thích ở nơi nóng ẩm. Phạm vi
nhiệt độ thích hợp từ 22 - 260C, song giới hạn nhiệt độ thích hợp nhất
từ 24 - 260C. Nhiệt độ giảm xuống tới 00C làm thui cháy các đọt non,
nếu kéo dài làm cháy cả lá già đặc biệt là vùng hay xuất hiện sương
muối. Gió rét và gió nóng đều bất lợi đối với sinh trưởng của cây cà
phê.
- Lượng mưa:
Lượng mưa cần thiết đối với cây cà phê chè thường 1.300 mm - 1.900 mm,
còn đối với cà phê vối cần từ 1.300 - 2.500 mm. Nếu lượng mưa được phân
bổ tương đối đều trong năm có một mùa khô hạn ngắn vào cuối và sau vụ
thu hoạch, nhiệt độ thấp thì thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa của
cây cà phê. Đối với cà phê mít có yêu cầu về nhiệt độ và lượng mưa tương
tự như cà phê vối. Song cây cà phê mít có bộ rễ ăn sâu, vì vậy có thể trồng ở
những nơi có lượng mưa ít hơn.
Nhìn chung, ở nước ta lượng mưa phân bố không đều. Lượng mưa tập trung

nhiệt độ trong lô trồng.
IV. KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÂY CÀ PHÊ
Kỹ thuật trồng và chăm sóc
 Chọn cây con
Chỉ tiêu sinh trưởng Cà phê
vối
Cà phê chè
Giống thấp
cây (1)
Giống cao
cây (2)
- Tuổi cây (tháng) 6 - 7 6 - 7 6 - 7
- Chiều cao (cm) Trên 25 Trên 20 Trên 25
- Số cặp lá thật - 5 - 5 - 5
- Đường kính gốc
(mm)
- 4 - 3 - 3
- Sâu bệnh Không Không Không
- Dị hình - - -
 Đất trồng cà phê
Cà phê là loại cây công nghiệp lâu năm, có bộ rễ ăn sâu tới trên 1 m, vì vậy
phải chọn các loại đất sau đây :
- Có tầng đất sâu từ 70 cm trở lên
- Đất có cấu tượng tốt, tơi xốp, giàu chất hữu cơ
- Không bị úng nước trong mùa mưa (thoát nước tốt)
- Các loại đất thuộc nhóm đất đỏ như đất bazan là loại đất rất quý để trồng
cà phê. ở Việt Nam loại đất này có nhiều nhất ở các tỉnh Tây nguyên, mièn
Đông Nam bộ, Quảng Trị, Nghệ An, . . .
- Ngoài đất bazan ra còn nhiều loại đất khác có khả năng trồng cà phê như :
đất phù sa cổ, đất dốc tụ, đất sa phiến thạch, đất đá vôi, . . . miễn là chúng có

(Typica, Bourbon) 3 x 2,0 1.660 1
Cà phê vối 3 x 2,5 1.330 1 - 2
3 x 3 1.110 1 - 2
Cà phê mít 4 x 3 830 1
lật đất từ 40 - 50 cm. Vườn cà phê phải thiết kế hoàn chỉnh ngay từ đầu
đảm bảo các yêu cầu sau đây:
+ Đảm bảo cho việc bảo vệ đất, chống xói mòn.
+ Đảm bảo cho vấn đề cơ giới hóa trong các khâu cày, bừa, chăm sóc,
phát cỏ, vận chuyển, tưới nước, phun thuốc trừ sâu bệnh và cỏ dại.
+ Đảm bảo cho việc thâm canh tăng năng suất, hạn chế những yếu tố
bất thuận của tự nhiên như: gió, rét, nóng, hạn
 Quy trình chăm sóc cây cà phê
Che túp: Tác dụng của che túp là để chống gió, chống rét, chống
hạn . Ở những nơi sau thời gian trồng mới thường có tiểu hạn thì phải tiến
hành che túp. Trong mùa mưa không cần phải che túp, song trong mùa
khô và mùa đông thì che túp có tác dụng chống gió, chống hạn chống rét.
Có thể dùng túp che kín xung quanh cây cà phê hoặc làm các tấm chắn
đặt vào phía hướng gió chính thổi tới. Cần chú ý tới độ cao, để không làm
ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây cà phê nằm trong túp. Ở
những nơi đã trồng được các cây phân xanh để che gió, che bóng tạm
thời, có đai rừng chắn gió, có tủ gốc tốt thì không nhất thiết phải che túp.
che túp trong mùa khô, hoặc sau khi trồng bị tiểu hạn để chống nắng, chống
gió.
Trồng dặm: sau trồng mới 15-20 ngày, kiểm tra trồng dặm kịp thời các
cây chết, cây còi cọc.
Trồng xen, trồng cây phủ đất: - Khi cà phê mới trồng, đất còn trống,
bộ tán cây cà phê còn nhỏ vì vậy phải trồng xen để hạn chế sự thiêu hủy chất
hữu cơ trên bề mặt đất do cường độ ánh sáng lớn và nhiệt độ mặt đất rất cao.
Trồng trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để phủ đất gồm cây họ đậu, cây phân
xanh: trồng cách cây cà phê ít nhất 50-60 cm.

- Tăng độ ẩm trong đất và bề mặt đất
- Giảm nhiệt độ trong đất
- Chống cỏ dại
- Tăng thêm các chất dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng lân và kali dễ tiêu
- Tăng độ xốp và sức chứa ẩm của đất, . . .
- Tiết kiệm được lượng nước tưới, kéo dài thời gian giữa 2 lần tưới
- Tạo điều kiện cho các vi sinh vật có ích hoạt động
- Giảm xói mòn, rửa trôi đất
Cách tủ
- Thông thường thì tủ xung quanh gốc cà phê, nhưng nếu có đủ nguyên liệu
thì tủ theo băng hay che phủ cả bề mặt đất thì càng tốt vì ngoài tác dụng
nhiều mặt như đã nêu ở câu trên, còn có một lợi ích khác là gĩư được ẩm
trong đất, đặc biệt là trong mùa khô, lượng nước tưới có thể dùng ít hơn,
hoặc khoảng cách giữa 2 lần tưới sẽ dài hơn, tiết kiệm được nước tưới. Chú
ý chống cháy trong mùa khô và dùng đất đè lên thảm phủ để chống gió làm
bay nguyên liệu tủ.
- Có thể dùng các tấm ni lông có màng mỏng (chuyên để phủ đất) để phủ
lên bề mặt của đất. Biện pháp này là nhằm chống lại sự bốc thoát hơi nước
từ trong đất đồng thời để chống lại sự sinh trưởng của cỏ dại trên lô trồng
 Thời vụ trồng
Nguyên tắc chung của thời vụ trồng thích hợp là vào đầu mùa mưa
khi đất đã đảm bảo được độ ẩm. Thời vụ trồng đối với các tỉnh ở Tây
Nguyên phù hợp nhất là trong tháng 6. Nếu năm mưa sớm cây con đã đủ
tiêu chuẩn trồng thì có thể trồng vào tháng 5. Những năm mưa muộn có
thể trồng sau tháng 7. Những vùng có chế độ mưa chấm dứt vào cuối năm
thì có thể trồng muộn hơn. Trong kinh tế vườn có thể trồng muộn vào
cuối mùa mưa nếu trong mùa khô có đủ nước tưới và có tủ gốc dày.
 Phân bón:
Lượng phân bón: Khi chuẩn bị trồng mới bón mỗi hố: 10-20 kg
phân hữu cơ + 0,5 lân, trộn phân - lấp hố.Khi trồng mới bón thêm 25g

thì tiến hành tưới lần đầu với lượng nước từ 700 - 800 m
3
/ha. Các lần sau
tưới từ 500 - 600 m
3
/ha. Khoảng cách giữa các lần tưới tùy thuộc vào mức
độ che phủ, chắn gió và loại đất mà biến động từ 15 - 20 ngày.
 Kỹ thuật sản xuất cà phê ở Đăklăk
:
_Địa hình của tỉnh nói chung và
vùng nói riêng rất đa dạng và phong
phú, nằm ở phía Tây và cuối dãy
Trường Sơn, là một cao nguyên rộng
lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng,
khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng
bằng thấp ven theo các sông chính.
Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần
từ Đông Nam sang Tây Bắc.

_Khí hậu toàn tỉnh được chia thành
hai tiểu vùng khí hậu.
Nhìn chung đặc điểm khí hậu vừa bị
chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất khí hậu cao
nguyên với nhiệt độ ôn hoà gần như quanh năm, đã tạo ra các vùng sinh thái
nông nghiệp thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là các loại cây công
nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, cao su…

_ Hệ thống sông, suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, phân bố tương đối
đồng đều.
_ Với lượng mưa bình quân 1.900 mm, thì Đắk Lắk có 28,6 tỷ m³ nước,

đến hết tháng
Ngay sau thu hoạch là thời gian nông dân trồng cà phê bắt đầu tưới
nước cho cây và bón phân, chia thành nhiều đợt ngắn. Giai đoạn này kéo dài
đến tháng 4 hàng năm.
Trước khi bón phân làm cỏ sạch, phân đem trộn trước, sau đó rải đều
vào vùng xung quanh mép ngoài của tán lá. Lấy cuốc xăm lấp kín phân
trong lớp mặt để tránh bốc hơi hoặc phân bị trôi khi gặp mưa lớn.
V.HƯỚNG PHÁT TRIỂN:
Cà phê là một trong những loại cây cho sản phẩm xuất khẩu lớn của Việt
Nam . Các sản phẩm ngày càng có giá trị và chất lượng cao góp nâng cao
thương hiệu và phần cải thiện đời sống cho con người . Đồng thời, nó cũng
có liên quan chặt chẽ trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, môi trường
sinh thái và vấn đề phát triển bền vững.
Sản xuất cà phê phải theo tiêu chí của thương hiệu Quốc tế, ổn định về
năng suất, sản lượng, chất lượng; phát triển cà phê phải gắn chặt với phát
triển kinh tế văn hoá - xã hội, du lịch, bảo vệ môi trường
Cùng việc học tập các sàn giao dịch lớn trên thế giới, cần tiến hành xây
dựng đề án phát triển hệ thống phân phối cà-phê trong nước, áp dụng các
phương thức mua bán hiện đại như giao dịch kỳ hạn… phòng ngừa rủi ro khi
có biến động giá trên thị trường. Ngoài việc tăng thị phần và nâng cao chất
lượng cà-phê chế biến, cần xây dựng và phát triển mạng lưới bán hàng. Bởi
cà-phê Việt Nam không thể đủ uy tín để chinh phục người tiêu dùng các
nước, một khi chưa chinh phục được chính người tiêu dùng trong nước.
Vì vậy các doanh nghiệp trong nước cần mở rộng mạng lưới tiêu thụ cà-
phê; tạo hệ thống liên kết trong kinh doanh cà-phê trên thị trường trong
nước. Ðây sẽ là một trong những định hướng chiến lược kinh doanh chủ yếu
của các doanh nghiệp cà-phê Việt Nam và giúp cho cây cà-phê ở nước ta
phát triển bền vững.
KẾT LUẬN
Qua quá trình tìm hiểu và phân tích các nguyên lý,các đặc tính sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status