CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN
1. Định nghĩa: chính sách tiền tệ (money policy) do NHTW hoạch đinh và thực thi nhawmg o0onr định
tiền tệ QG. Nếu NHTW phụ thuộc chính thuộc CP chì nếu có vấn đề lớn đến phải trình Quốc hội hoặc
CP. Nếu NHTW là độc lập thì không phải trình CP
- Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ là quá trình quả n lý hỗ trợ đồng tiề n của chính
phủ hay ngân hàng trung ươ ng để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạ m phát , duy trì
ổn định tỷ giá h ố i đ oái , đạt được toàn dụ ng lao độ ng hay tă ng tr ưở ng kinh t ế . Chính sách lưu thông tiền
tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suấ t nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệ p
v ụ th ị tr ườ ng m ở ; qui định mức dự tr ữ b ắ t bu ộ c ; hoặc trao đổi trên thị tr ườ ng ngo ạ i h ố i .
Chính sách tiền tệ là hệ thống biện pháp của một nhà nước trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, nhằm điều
hành khối lượng cung và cầu tiền tệ bằng các biện pháp như phát hành tiền, chống lạm phát, dự trữ
pháp định và quản lí dự trữ ngoại tệ, tái chiết khấu các kì phiếu và lãi suất, chính sách lãi suất để đáp
ứng kịp thời nhu cầu giao dịch, ổn định sức mua của đồng tiền, phát triển sản xuất, kinh doanh trong
một giai đoạn nhất định. Là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách và cơ chế quản lí kinh
tế của nhà nước, trên cơ sở vận dụng đúng đắn quy luật của sản xuất hàng hoá và quy luật lưu thông
tiền tệ để tổ chức tốt quá trình chu chuyển tiền tệ. Chính sách tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu
của sản xuất - kinh doanh, thực hiện sự kiểm tra có hiệu lực của nhà nước ở tầm vĩ mô cũng như ở tầm
vi mô.
Chính sách tiền tệ là một hệ thống các biện pháp do ngân hàng trung ương thực hiện nhằm tác động lên
mức độ hoạt động kinh tế. Mục tiêu hàng đầu của ngân hàng trung ương ở nhiều nước là kiểm soát lạm
phát và giám sát hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động của cơ quan này cũng ảnh hưởng đến các
khía cạnh khác của nền kinh tế, như mức GDP thực, thất nghiệp và tỉ giá hối đoái.
Ở Việt Nam trong thập niên qua, Ngân hàng Nhà nước nhìn chung đã duy trì một chính sách tiền tệ
tương đối kiềm chế. Chính sách này đã thành công trong việc giảm lạm phát từ mức ba con số ở cuối
thập niên 1980 xuống mức tương đối ổn như hiện nay. Ngân hàng Nhà nước cũng đã thực hiện một số
cải cách khu vực tài chính bao gồm việc từng bước tự do hóa lãi suất. Trong khi tiến trình cải cách
ngân hàng và tài chính vẫn tiếp tục ở Việt Nam, việc thực hiện chính sách tiền tệ cũng sẽ biến chuyển,
dẫn đến một sự phân bổ tốt hơn các nguồn lực tài chính, cũng như sự cải thiện về hiệu quả chung của
chính sách tiền tệ.
4.5.2.Nội dung của chính sách tiền tệ
Nội dung của chính sách tiền tệ xét về mặt định tính ta có thể thấy đó là chính sách thắt chặt tiền
có thể:
• Ổn định lãi suất: tối đa cho tiền gửi và tối thiểu cho tiền vay hoặc tối đa cho tiền vay và tối thiểu cho
tiền gửi (nếu muốn bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của ngân hàng thương mại.
• Thả nổi lãi suất: lãi suất sẽ được thả nổi thông qua thị trường tiền tệ, tuy nhiên với tư cách là cơ quan
thực thi chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương sẽ tác động gián tiếp tới lãi suất tiền gửi và tiền vay
của ngân hàng thương mại bằng lãi suất tái chiết khấu đểđiều tiết cung-cầu tín dụng, điều tiết khối
lượng tiền tệ của nền kinh tế. Như vậy trong nền kinh tế thị trường với hệ thống ngân hàng hai cấp
trong đó cãc ngân hàng thương mại nhạy cảm với cơ chế thị trường, thì lãi suất tái chiết khấu của ngân
hàng trung ương trở thành công cụ linh hoạt để thực hiện chính sách tiền tệ.
*Tái chiết khấu: tái chiết khấu nói riêng và tái cấp vốn nói chung là việc ngân hàng trung ương tiếp
vốn cho các ngân hàng thương mại nhằm khai thông năng lực thanh toán cho các ngân hàng thương
mại hoặc khuyến khích họ mở rộng tín dụng cho nền kinh tế trên cơ sở các hệ số tín dụng hoặc chứng
từ được ngân hàng thương mại chiết khấu trước đây.
Tái chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung ương tất yếu sẽ làm tăng lượng tiền
cung ứng, vì vậy phải đòi hỏi tiến hành một cách thận trọng dựa trên tiêu chuẩn định lượng và định
tính.
• Về mặt định lượng: cần xem lại hạn mức tín dụng mà ngân hàng trung ương dành cho ngân hàng
thương mại có còn hay không.
• Về mặt định tính: cần xem xét các hệ số tín dụng và các chứng từ xin tái chiết khấu có lành mạnh hay
không và có xứng đáng để được tiếp vốn hay không, chắc chắn rằng trong nghiệp vụ tái chiết khấu
ngân hàng trung ương sẽ đóng vai trò là người cho vay cuối cùng, đầu mối cuối cùng để xử lý tín dụng
của nền kinh tế.
Thông qua lãi suất tái chiêt khấu, ngân hàng trung ương có thể khuyến khích giảm hay tăng mức
cung ứng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế, đồng thời giảm hay tăng mức cung
tiền. Khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ngân hàng trung ương sẽ nâng lãi suất cho vay hoặc hạn
chế cơ hội cho vay. Ngược lại, nếu ngân hàng trung ương hạ thấp lãi suất chiết khấu ngân hàng thương
mại trong trường hợp này sẽ đi vay rẻ hơn nên có khuynh hướng giảm lãi suất cho vay dẫn đến nhu cầu
vay tăng.
Ngoài ra chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là công cụ đăc lực trong ảnh hưởng phát triển
kinh tế xã hội. Đối với chính sách kích thích xuất khẩu ngân hàng tủng ương sẽ ưu tiên tái chiết khấu
thương mại trên cơ sở số dư tín dụng và vốn tự có của mỗi ngân hàng. Đây là chỉ tiêu số lượng vì vậy
nó trực tiếp làm tăng hoặc giảm khối lượng tín dụng của nền kinh tế một khi ngân hàng trung ương
tăng hay giảm hạn mức nói trên.
*Điều chỉnh tỷ giá hối đoái: việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái chỉ thực sự cần thiết khi tỷ giá thực tế trên
thị trường biến động với biên độ lớn gây phương hại đến lĩnh vực ngoại thương, tín dụng và thanh toán
quốc tế. Có nhiều phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái như sau: thay đổi lãi suất, can thiệp ngoại
hối, nâng cao hoặc phá giá tiền trong nước…
*Can thiệp thị trường vàng và ngoại tệ: khi giá vàng và ngoại tệ trên thị trường biến động lớn thì ngân
hàng trng ương sẽ can thiệp trược tiếp bằng cách bán hoặc mua để giữ cho tỷ giá hối đoái ở mức độ
thích hợp, nhờ đó các hoạt động kinh tế tài chính không bị ảnh hưởng xấu
Các công cụ của chính sách tiền tệ
Gồm có 6 công cụ sau:
• Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân
hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương
đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai
thông khả năng thanh toán của họ.
• Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số
tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toan (cho vay) của các Ngân hàng thương
mại.
• Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá
ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối
lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng
của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
• Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ
bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu
thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là 1 công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều
hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân
hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất
định.
• Công cụ hạn mức tín dụng: là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân
triển.
[sửa] Tiến hành các nghiệp vụ thị trường mở
Xem bài chính về nghiệp vụ thị trường mở
Cơ quan hữu trách tiền tệ khi mua vào các loại công trái và giấy tờ có giá khác của nhà nước đã làm
tăng lượng tiền cơ sở. Hoặc khi bán ra các giấy tờ có giá đó sẽ làm giảm lượng tiền cơ sở. Qua đó, cơ
quan hữu trách tiền tệ có thể điều chỉnh được lượng cung tiền.
[sửa] Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ nhắm vào hai mục tiêu là lãi suất và lượng cung tiền. Thông thường, không thể thực
hiện đồng thời hai mục tiêu này. Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh tế ở tình trạng bình thường, thì mục tiêu
lãi suất được lựa chọn. Còn khi kinh tế quá nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ sẽ nhằm vào
mục tiêu trực tiếp hơn, đó là lượng cung tiền.
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua và bán trái phiếu chính phủ của FED. Khi FED mua trái
phiếu của công chúng, số đô-la mà nó trả cho trái phiếu làm tăng tiền cơ sở và qua đó làm tăng cung
tiền. Khi FED bán trái phiếu cho công chúng, số đô-la mà nó nhận làm giảm tiền cơ sở và bởi vậy làm
giảm cung tiền. Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách được Fed sử dụng thường xuyên nhất .
Trên thực tế, FED thực hiện nghiệp vụ này trên thị trường chứng khoán New York hàng ngày
Chính sách tiền tệ của NHNN:
1.Nghiệp vụ thị trường mở:
Là việc NHNN mua bán các loại giấy tờ có giá ngoài thị trường,chủ yếu đó là tín phiếu kho bạc nhằm
làm thay đổi cơ số tiền từ đó dẫn đến thay đổi lượng tiền cung ứng.Sở dĩ ngân hàng tiến hành đại bộ
phận nghiệp vụ thị trường tự do của mình đối với tín phiếu kho bạc vì loại chứng khoán này có số
lượng lớn,lại an toàn,thời hạn thanh toán ngắn.
Việc mua bán chứng khoán của NHNN là yếu tố chủ yếu gây nên những biến động về lượng tiền cung
ứng.
Nếu NHNN mua vào các loại chứng khoán sẽ làm tăng cơ số tiền do đó làm tăng lượng tiền cung ứng.
Nếu NHNN bán ra các loại chứng khoán sẽ làm giảm cơ số tiền do đó làm giảm lượng tiền cung ứng.
Đây là công cụ có thể nói là quan trọng nhất của NHNN trong chính sách tiền tệ của NHNN vì những
ưu thế vốn có của nó:
-Với công cụ này NHNN có thể kiểm soát toàn bộ nghiệp vụ tự do trên thị trường.
-Nhanh chóng và chính xác,có thể điều chỉnh một lượng tiền bất kì bằng việc mua bán chứng khoán.
-Các ngân hàng ko có tiền dự trữ dư thừa so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc đươc qui định.
-Tiền gửi mới được tạo ra đều nằm trong hệ thống ngân hàng.
Một sự thay đổi trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc kéo theo sự thay đổi về lượng tiền gửi mới được tạo ra và từ
đó tác động tới lượng tiền cung ứng.Ví dụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì lượng tiền gửi mới được tạo
ra bằng 10 lần so với lượng tiền dự trữ ban đầu.Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 5% thì từ một lượng tiền dự trữ
ban đầu,lượng tiền gửi mới được tạo ra sẽ tăng thêm 20 lần.
Ngoài ra dự trữ bắt buộc tác động tới lãi suất cho vay của các ngân hàng.Khi dự trữ bắt buộc tăng
lên,các ngân hàng thương mại sẽ tăng lãi suất cho vay của mình lên,làm cho khả năng cho vay của các
ngân hàng giảm và làm giảm lượng tiền cung ứng.Ngược lại khi dự trữ bắt buộc giảm thì lượng tiền
cung ứng sẽ tăng lên.
Trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW,công cụ dự trữ bắt buộc thường tỏ ra kém
phần quan trọng.Việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ hạn chế đầu tư của các DN,làm giảm cạnh tranh của
các ngân hàng và giảm lợi nhuận của chúng.
Ba công cụ này được các nước phát triển sử dụng một cách có hiệu quả.Tuy vậy ở các nước kém hoặc
đang phát triển,các công cụ trên còn chưa thật sự phát huy hết hiệu quả mà trái lại còn nhiều hạn
chế.Khi đó các nước có thể sử dụng thêm một vài công cụ khác là kiểm soát hạn mức tín dụng,quản lý
lãi suất các ngân hàng
4.Kiểm soát hạn mức tín dụng:
Kiểm soát hạn mức tín dụng căn cứ theo tỷ lệ tăng trưởng hay tỷ lệ lạm phát của quốc gia.Ngoài ra còn
một số các tín hiệu khác như là tỷ lệ thất nghiệp,tốc độ lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế Từ đó sẽ có
qui định hạn mức tín dụng cụ thể đối với các ngân hàng cho phù hợp với mục đích chính sách tiền tệ
và tình hình kinh tế.
Để hạn chế việc tạo tiền quá mức,NHNN đưa ra hạn mức tín dụng đối với từng ngân hàng.Trong phần
lớn các trường hợp,các hạn mức riêng này sẽ được căn cứ vào tỷ lệ cho vay của nó trong quá khứ trên
tổng lượng tiền cho vay của hệ thống ngân hàng.Các ngân hàng thương mại không được cho vay quá
hạn mức tín dụng đã qui định.
Hạn mức tín dụng là công cụ quan trọng được NHNN sử dụng khi các công cụ trên tỏ ra kém hiệu
quả.Tuy vậy việc qui định hạn mức tín dụng sẽ làm lãi suất thị trường tăng,giảm cạnh tranh của các
ngân hàng,ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp,hơn nữa còn tạo ra những thị trường tài chính ngầm
ngoài kiểm soát của NHTW
làm,mở rộng sản xuất,tăng sản lượng.
Tuy vậy hiện giờ là thời điểm cực kì nhạy cảm,cuối năm nhu cầu sẽ tăng cao,giá nguyên liệu thế giới
đang tăng do nhiều nước đã bắt đầu hồi phục,lượng kiều hối đổ về cuối năm cũng tăng,giá vàng,giá
dầu hàng trăm nguyên nhân có thể khiến lạm phát tăng cao trở lại.Vì vậy gói kích thích kinh tế nên
thật sự thận trọng.
Mình xin nói thêm việc tăng lãi suất cơ bản của NHTW đi kèm việc giảm biên độ tỷ giá từ 5%-
>3%,thêm nữa lại bơm 2 tỷ usd để bình ổn tỷ giá,nhằm làm cho giá nguyên liệu nhập khẩu đỡ sốt,như
1 cách đối phó lạm phát.Tỷ giả chính thức giờ đã hơn 18600 và gần sát giá chợ đen,tỷ giá bình quân
liên ngân hàng cũng giảm còn trên 17500.Ngoài ra cách làm này khiến doanh nghiệp và người dân bớt
găm ngoại tệ vì lo sợ mất giá,càng làm tăng cung ngoại tệ,tỷ giá càng ổn định.Hơn nữa NHTW lại yêu
cầu các DN nhà nước còn ngoại tệ phải bán lại cho NHTW.
Đó là những gì mà chính phủ đang thực hiện đối phó với lạm phát đó!
Còn vấn đề Nhật bản,họ giảm phát bởi nhu cầu đã giảm mạnh,CPI giảm xuống mức thấp nhất trong ít
nhất 38 năm qua.Bởi vì người dân đang thắt lưng buộc bụng do tình trạng thất nghiệp gia tăng,sản
lượng giảm nên các công ty buộc cắt giảm nhân công.Nhiều hãng điện tử nổi tiếng như Sony đang phải
khuyến mãi để kích thích nhu cầu mà dường như chưa có mấy tín hiệu tốt.Thêm vào đó đồng Yên tăng
giá càng làm giảm xuất khẩu của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này.
S: " đồng yên tăng giá càng làm giảm nhập khẩu của nền kt lớn thứ 2 thế giới" nhưng theo mình thì
nếu đồng yên tăng giá thì tỷ giả của đồng của tiền ngoại tệ khác so với yên sẽ giảm có nghĩa là với một
lượng tiền nhưng có thể mua được nhiều hàng hơn trước vậy thì phải tăng nhập khấu chứ giảm xuất
khẩu của Nhật còn tạo điều kiện cho nhập khẩu
tại sao Các Ngân hàng vẫn phải tiếp tục nâng lãi suất lên đến mức 10.49% (10.5% là max)/năm
để huy động vốn? Tức là Ngân hàng thưong mại đang khát vốn, vậy sao ngân hàng nhà nước không
tiếp tục nâng lãi suất cơ bản lên, hoăc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc và tăng lượng cung tiền cho nền
kinh tế?
Đó là NHTW đang thắt chặt tiền tệ,muốn giảm lượng tiền cung ứng.Lãi suất cơ bản tăng sẽ tác
động tới các lãi suất khác như chiết khấu,tái chiết khấu,lãi suất trái phiếu,tín phiếu,huy động,cho
vay Tức là NHTW muốn VND đỡ mất giá,giảm áp lực lạm phát,hoặc có thể đề phòng trước về lạm
phát.Theo mình nghĩ,việc tăng hay giảm lãi suất cơ bản cần phải căn cứ vào lượng tiền cần lưu
thông,bám sát tín hiệu thị trường chứ ko phải cứ muốn tăng lên bao nhiêu cũng đc.Nền kinh tế sẽ
điều kiện cho VN tăng trưởng nhanh hơn so với năm ngoái. Để đạt mức tăng trưởng 6,5% cho 2010, có
lẽ chúng ta phải chấp nhận một mức độ lạm phát cao hơn 7%. Một mức lạm phát 7-9% có thể chấp
nhận được.
- Có một số ý kiến cho rằng thời gian qua, đặc biệt từ cuối năm 2008 đến nay, NHNN đã sử dụng
nhiều biện pháp hành chính trong điều hành. Ý kiến của ông về vấn đề này?
- Nền kinh tế nào cũng phải có vai trò điều tiết của nhà nước, nhất là trong bối cảnh của VN - một đất
nước đang trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Đặc biệt trong bối cảnh năm 2009, khi
kinh tế VN nói chung, hệ thống NH nói riêng phải đương đầu nhiều khó khăn, thách thức gay gắt do
tác động khủng hoảng tài chính và suy thoái của kinh tế thế giới.
Trong một số tình huống có nguy cơ dẫn đến tính khủng hoảng, NHNN cần mạnh tay can thiệp bằng
những biện pháp hành chính. Tuy nhiên, sau cơn khủng hoảng, NHNN nên nới lỏng và sử dụng cơ chế
thị trường để điều tiết thị trường.
Biện pháp hành chính tăng LSCB từ 7% lên 8% vào tháng 11 năm ngoái và giữ đến nay bị coi như là
một trong những nguyên nhân làm suy giảm khả năng huy động vốn của các NHTM và do đó suy giảm
tính thanh khoản trên toàn thị trường tài chính.
Thay vì sử dụng LSCB, NHNN có thể điều tiết lãi suất qua nghiệp vụ thị trường mở qua việc bán ra
hay mua vào những chứng từ có giá và do đó rút vào hay bơm ra một lượng tiền cần thiết để điều chỉnh
cung tiền và cùng với đó đạt được mức lãi suất chỉ đạo.
Trong năm 2010 nếu nền kinh tế càng ngày càng ổn định hơn thì NHNN cần sử dụng nhiều hơn những
công cụ của CSTT thay vì những biện pháp hành chính, như nghiệp vụ thị trường mở, chiết khấu, tái
chiết khấu, dự trữ bắt buộc để điều tiết cung tiền.
- Các quyết định của NHNN sẽ tác động đến giá cả. Vì vậy, quá trình ra quyết định thường được
giữ bí mật. Thị trường trông đợi gì ở NHNN?
- NHNN VN đang tiến dần đến một mô hình một NHTƯ của một nền kinh tế trưởng thành. Ngày
trước một số chỉ tiêu tài chính được xem là bí mật quốc gia, thì ngày nay đã được công khai hóa. Tuy
nhiên, thị trường tài chính chờ đợi ở NHNN một sự trong suốt hơn trong CSTT qua việc công bố
những chỉ tiêu như: Chỉ tiêu về cung tiền, mức lãi suất, tỉ giá hối đoái, dự trữ ngoại hối. Việc công
khai hoá những chỉ tiêu này không những tạo sự an tâm của thị trường về CSTT của NHNN mà còn
giúp thị trường dự đoán chính xác hơn những biện pháp của NHNN.
Trong điều hành chính sách tiền tệ thì có một vấn đề khó khăn, đó là cân bằng lãi suất giữa nội tệ và
ngoại tệ để làm sao người dân tin vào đồng nội tệ. Chúng ta phải rất thận trọng về câu chuyện sai lệch
cơ cấu đồng tiền trong thời gian tới, nếu không giám sát tốt giữa đồng đô la và tiền mặt thì trong quí 3,
4, thị trường ngoại hối sẽ rất căng thẳng.
Nhìn trên kênh tỷ giá, tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế khá cao với khoảng hơn 20 tỷ USD và 500
tấn vàng đang được găm giữ trong dân. Con số được ghi vào sai số trong cân đối cán cân thanh toán
(BOP) năm 2009 là 9,7 tỷ USD.
Một trong những yếu tố tác động lớn tới tỷ giá là vấn đề trung chuyển dòng ngoại tệ. Tại Việt Nam
(VN), quá trình này rất phức tạp, không chỉ trong quan hệ giữa trong nước và quốc tế mà còn ở ngay
trong nội tại nền kinh tế.
Việt Nam là một nền kinh tế đô-la hóa rất cao nên người dân dễ dàng dịch chuyển từ tài sản đánh giá
bằng đồng nội tệ sang tài sản đánh giá bằng ngoại tệ, bao gồm cả vàng. Quá trình này có diễn ra mạnh
mẽ hay không phụ thuộc nhiều vào niềm tin của người dân đối với thị trường tài chính, vào đồng tiền.
Như vậy, việc giữ được lạm phát ở mức thấp hay không sẽ tác động lớn đến tỷ giá.
Trong trường hợp lạm phát tăng cao, lượng đôla bị găm giữ trong nền kinh tế nhiều khả năng cũng sẽ
gia tăng. Điều này sẽ hạn chế rất nhiều tính hiệu lực của chính sách tiền tệ khi Chính phủ không thể
kiểm soát được cung tiền cho nền kinh tế. Hiện tượng đôla hóa nền kinh tế, khi đó, sẽ trực tiếp ảnh
hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ đầu năm đến nay, các luồng vốn vào VN tốt hơn, như vậy, thâm hụt vãng lai giảm so với dự báo,
không đến nỗi trắc trở so với cách đây 3 - 4 tháng.
Thị trường nội địa là "bà đỡ" rất tốt trong những lúc kinh tế khó khăn. Đứng ở góc độ doanh nghiệp,
thị trường trong nước còn rất nhiều tiềm năng.
Tuy nhiên, sản xuất hàng hóa lại nhập khẩu khá nhiều nguyên liệu. Nếu không giải quyết được nguồn
nguyên liệu tại chỗ thì việc thực hiện chủ trương "ưu tiên dùng hàng Việt" sẽ thiếu thực tế vì các nhà
sản xuất phải vay ngoại tệ để nhập đầu vào mà khi bán sản phẩm lại thu nội tệ. Trong tình hình tỷ giá
không ổn định, hàng hóa sẽ rất khó cạnh tranh mà doanh nghiệp cũng khó chủ động hạch toán kinh
doanh dài hạn.
Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng vấn đề lãi suất trần, huy động là phải theo thị trường. Nhưng để
vận hành tốt cơ chế bỏ "trần" trong tín dụng, phải có 3 điều kiện: (1) Chống lại được rủi ro hành vi đạo
đức của một số ngân hàng. (2) Chống lại được sự đổ vỡ của thành quả. (3) Tăng vốn cho ngân hàng và
mức vừa phải. Trong khi đó, để đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế, thì cần sử
dụng các chính sách tài khóa. Đó cũng là cách Chính phủ đang điều hành để giữ cân bằng.
Một chính sách khác không thể không nhắc đến là thương mại. Nếu chính sách thương mại và tiền tệ,
tài khóa kết hợp tốt, thì sẽ hạn chế được sự mất cân đối trong cán cân thương mại.
- Thông thường, doanh nghiệp và giới đầu tư rất sợ những rủi ro chính sách. Theo ông, làm thế nào để
họ không bị xáo trộn khi chính sách trong năm nay có thể liên tục được điều chỉnh?
- Tôi cho rằng cần tăng cường đối thoại giữa doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách. Mặt
khác, khi các cơ quan này nghiên cứu và hoạch định, cần tính toán mức độ ảnh hưởng của nó đó đến
các chính sách khác. Thứ ba, là khi chuẩn bị ban hành chính sách mới, cần có thông tin trước, mang
tính cảnh báo, như là dự lệnh để khi ban hành sẽ không đột ngột.
- Thực tế trên thị trường tài chính, có những tin đồn chỉ là tin đồn, trong khi những tin đồn khác trở
thành tin chính thức. Làm thế nào để nhà đầu tư và doanh nghiệp nhận biết dự lệnh từ cơ quan điều
hành chính sách?
- Tin đồn là một thực thể của nền kinh tế thị trường, vì thế đầu tiên nhà đầu tư cần tỉnh táo để phân tích
tính hợp lý của tin đồn. Thứ hai là cần có sự trao đổi giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, trong đó
các cơ quan cần có thông tin kịp thời. Thứ ba là nếu cơ quan nhà nước điều hành chính sách theo đúng
tín hiệu thị trường có sự điều tiết của nhà nước, thì cơ bản doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể phần nào
tiên liệu các bước tiếp theo.
- Mới đây lãi suất liên ngân hàng qua đêm gia tăng, khiến Ngân hàng Nhà nước phải có biện pháp can
thiệp. Ông đánh giá như thế nào về hiện tượng này, ngay sau khi hỗ trợ lãi suất ngắn hạn kết thúc?
- Tôi cho rằng cần xem xét hiện tượng này có mang tính bản chất hay không, như có phải do tính thanh
khoản hay vốn của ngân hàng có vấn đề, để tiên liệu diễn biến của thị trường. Nếu đó là hiện tượng đột
biến trong một thời gian nào đó, thì có thể yên tâm là tình hình sẽ ổn định trở lại. Tôi cho rằng, Ngân
hàng Nhà nước sẽ có cách xử lý, và thời gian qua họ cũng có biện pháp, bởi hơn ai hết, họ là cơ quan
có trách nhiệm về vấn đề này.
Chính sách tiền tệ năm 2010: Siết chặt sau nới lỏng! Thứ hai, 28/12/2009, 15:22 GMT+7
Giảm mức tăng tổng phương tiện thanh toán, điều hành cung ứng tiền chặt chẽ hơn và tăng hệ số an
toàn vốn gấp nhiều lần năm 2009 cho thấy một tín hiệu NHNN quyết tâm thực hiện mục tiêu siết chặt
tăng trưởng tín dụng trong năm mới.
Những con số
linh hoạt.
Gay gắt hơn, TGĐ BIDV – ông Trần Anh Tuấn - đề nghị cần thanh tra ngay các NHTM có lãi suất huy
động vượt trần 10,5%/năm vì nguy cơ tạo nên bất ổn cho thị trường và nền kinh tế.
“Đây là biểu hiện không bình thường và không thể để một vài NH không bình thường kéo cả hệ thống
vào hoạt động không bình thường” – ông Trần Anh Tuấn nói. Khó khăn với kênh huy động vốn từ dân
cư buộc nhiều NHTM phải tìm kiếm nguồn vốn từ NH bạn qua kênh thị trường liên NH. Chính làn
sóng này đẩy lãi suất trên thị trường liên NH lên cao và NH càng sẵn “lương khô” càng được hưởng lợi
nhiều.
“Nên sửa ngay quy định trần lãi suất không vượt quá 150% lãi suất cơ bản và áp dụng việc điều hành
lãi suất bằng cơ chế khác. Như thế sẽ trả lại tính thị trường cho hoạt động ngân hàng” – bà Dương Thu
Hương đưa ý kiến.
Liên quan đến hiện tượng ngân hàng xé rào huy động và cho vay, Thống đốc NHNN – ông Nguyễn
Văn Giàu cho biết, không loại trừ NHNN sẽ nâng hệ số an toàn (bao gồm các tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên
tổng tài sản, tỉ lệ vốn thanh toán và các tỉ lệ trích lập dự phòng rủi ro ) lên tiệm cận dần với thông lệ
quốc tế là 14-15% thay vì 8% như hiện nay.(Nguồn: LĐ, 28/12)
Chính sách tiền tệ 2010: Nhiều thách thức và biến động
Những tin đồn xung quanh việc tăng lãi suất cơ bản đầu năm 2010 cùng với việc tăng tỷ giá USD
liên ngân hàng và giảm lãi suất tiết kiệm đồng USD… ngay trước thềm Tết Âm lịch báo
hiệu một năm đầy thách thức với chính sách tiền tệ của Việt Nam. Vậy, đâu là những áp
lực chính lên chính sách tiền tệ của Việt Nam năm nay?
Lạm phát và tăng trưởng
Năm 2009, trong khi chính phủ các nước trong khu vực sử dụng các gói kích cầu khổng lồ song vẫn
duy trì được mức độ lạm phát âm hoặc xấp xỉ bằng không thì Việt Nam (và Ấn Độ) lại xuất hiện lạm
phát khá sớm và cao hơn nhiều so với mặt bằng chung. Vì thế, cũng không khó hiểu khi Chính phủ
quyết định thu hẹp gói kích cầu sớm hơn so với nhiều quốc gia khác, mặc dù nếu có khả năng tiếp tục
duy trì, chắc chắn sẽ đảm bảo tăng trưởng kinh tế vững chắc hơn. Bản chất của quyết định cắt giảm gói
kích cầu cũng như tăng lãi suất cơ bản là thắt chặt chính sách tiền tệ để nhằm kiềm chế lạm phát, hy
sinh tăng trưởng ngắn hạn vì mục tiêu phát triển bền vững và đảm bảo chất lượng cuộc sống. Sử dụng
chính sách tiền tệ để điều tiết nền kinh tế là đúng đắn, nhưng thắt chặt chính sách tiền tệ khi nền kinh tế
chưa thực sự hồi phục và còn nhiều khó khăn phía trước lại là một quyết định không dễ dàng. Ngân
tệ trên thị trường mà không xáo trộn hệ thống tiền tệ, gây ảnh hưởng tiêu cực tới NĐT.
Nếu lạm phát tiếp tục diễn ra theo chiều hướng xấu, NHNN sẽ phải sử dụng công cụ lãi suất để điều
tiết nền kinh tế. Rút kinh nghiệm năm 2008, yếu tố tâm lý có khả năng được chú trọng hơn, do đó,
quyết định bỏ ngay trần lãi suất khó có thể xảy ra. Tuy nhiên, NHNN hoàn toàn có thể giữ nguyên trần
lãi suất nhưng nới lỏng biên độ, tăng thêm tính linh hoạt cho các ngân hàng. Một giải pháp khác là kết
hợp sử dụng các biện pháp hành chính để giảm thiểu tối đa tác động tâm lý NĐT. Có thể nói, 2009 là
một năm vô cùng khó khăn cho nền kinh tế nhưng lại không khó để đoán biết trước các chính sách tiền
tệ của NHNN. Nhưng năm 2010, tình hình có nhiều đổi khác. Trong báo cáo phân tích của Russell
Investments về tình hình khu vực châu Á Thái Bình Dương năm 2010 có nhận định: sự thành công của
mỗi quốc gia năm nay không phải phụ thuộc vào các nước đoàn kết với nhau như thế nào, mà là Chính
phủ mỗi quốc gia xử lý như thế nào để hạn chế những khó khăn của thời kỳ hậu khủng hoảng, và sẽ
không có một lời giải chung.
Có vẻ như lời tiên đoán đó đang trở thành hiện thực và năm 2010 sẽ là năm đầy thách thức và biến
động của chính sách tiền tệ nước ta.
Chính sách ti ề n t ệ c ủ a Vi ệ t Nam đ ang đ i đ úng h ướ n g
Đó là nhận định của ông Hisatsugu Furukawa, Chuyên gia Chính sách tiền tệ, Văn phòng hợp tác quốc
tế Nhật Bản (JICA) trong cuộc trao đổi với chúng tôi về xung quanh chính sách tiền tệ của Việt Nam
thời gian qua.
Theo ông, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong năm 2008 có những điểm hạn
chế gì?
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang đi đúng hướng. Lãi suất đã được thay đổi
linh hoạt và kịp thời. Lãi suất của dự trữ bắt buộc cũng được thay đổi linh hoạt. Tính thanh khoản của
thị trường cũng được tăng lên thông qua việc Ngân hàng Nhà nước mua lại trái phiếu đã phát hành cho
các định chế tài chính hồi tháng ba.
Chính sách tiền tệ thắt chặt của Ngân hàng Nhà nước đã kiểm soát lạm phát một cách thành công.
Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh chính sách trong tháng 10 và bắt đầu chú ý nhiều hơn đến
việc ổn định hoạt động kinh tế trong nước.
Điểm hạn chế của chính sách tiền tệ trong năm 2008 là ở thị trường ngoại hối. Theo hệ thống tỷ giá hối
đoái ít biến động hiện nay, nhiều lúc, khoảng cách giữ tỷ giá hối đoái chính thức và tỷ giá hối đoái trên
thị trường phi chính thức đã dao động và bị nới rộng ra.
nhanh, vì lạm phát vẫn ở mức cao trên 20%.
Nhưng nhìn chung, có thể nói rằng sự điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước là kịp thời.
Những thay đổi chính sách nhanh chóng gần đây cho thấy rằng Ngân hàng Nhà nước đang thiết lập hệ
thống thu thập thông tin tốt và nhiều cơ hội để đối thoại với các thành viên chính của thị trường, đó là
một yếu tố rất quan trọng để chính sách tiền tệ được điều hành thật sự hiệu quả.
Theo ông, triển vọng của thị trường tiền tệ Việt Nam trong năm tới là gì?
2009 sẽ là một năm khó khăn cho kinh tế thế giới và Việt Nam. Tác động tiêu cực của khủng hoảng tài
chính Mỹ sẽ lan rộng trên khắp thế giới, không chỉ một vài quốc gia, cả những quốc gia đã phát triển
và đang phát triển đều có thể phải đối mặt với khủng hoảng tài chính, sự sụt giảm kinh tế lớn và những
khó khăn trong việc quản lý các món nợ và nợ xấu (NPL).
Kinh tế thế giới đang đối mặt với áp lực giảm phát lớn và có thể trải qua tình trạng lạm phát trì trệ
(stagflation). Nhưng tôi cho rằng, tác động tiêu cực đến kinh tế Việt Nam có thể giới hạn vì liên tục có
nhu cầu đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng tại Việt Nam.
Việt Nam cũng là nước có nguồn nhân lực và tài nguyên khá tốt. Hệ thống chính trị của các bạn ổn
định.
Câu hỏi cần đặt ra là làm thế nào quản lý và dành ưu tiên cho các khoản đầu tư đó, xét dưới góc độ
hiệu quả đầu tư.
Tôi nghĩ rằng, đã đến lúc lĩnh vực tài chính của Việt Nam phải nỗ lực hơn nữa để hiện thực hóa mục
tiêu của Nghị định 112 và chuẩn bị cơ sở hạ tầng tài chính hiệu quả cho Việt Nam. 2009 sẽ là một năm
có vai trò quyết định đối với lĩnh vực tài chính của Việt Nam.
Chính sách tài chính - tiền tệ năm 2009 đã tạo kết quả tích cực cho tăng trưởng kinh tế và thực hiện dự
toán thu chi ngân sách
09:21 | 03/10/2009
(ĐCSVN) - Ngày 2.10, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên, UBTVQH đã
nghe Chính phủ báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách
Nhà nước năm 2009; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán phân bổ ngân sách
Nhà nước và phương án phân bổ ngân sách Trung ương năm 2010.
Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế -xã hội năm 2009, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội năm 2010, do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc, thừa ủy quyền Thủ tướng
Chính phủ trình bày, nêu rõ: năm 2009 nền kinh tế nước ta chịu tác động trực tiếp của khủng hoảng
chính - tiền tệ chưa tạo đòn bẩy để bước đầu chuyển đổi và tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng tích
cực; gói kích thích kinh tế của Chính phủ còn mang tính bình quân và dàn đều, chưa có trật tự ưu tiên;
triển khai quá nhiều mục tiêu nhưng giải ngân chậm. Các đối tượng khu vực nông nghiệp, nông thôn
và nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận với chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất làm giảm hiệu
quả của chính sách tài khóa năm 2009. Lượng tiền bơm vào nền kinh tế lớn nhưng tốc độ tăng trưởng
kinh tế chưa cao, làm cho hệ số sử dụng vốn ICOR của toàn bộ nền kinh tế tăng lên rõ rệt, cùng với
chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được nới lỏng sẽ làm tăng nguy cơ lạm phát trong giai đoạn
tới. Thường trực UB Tài chính – Ngân sách đề nghị, trong năm 2010, cơ cấu lại các khoản chi ngân
sách Nhà nước; ưu tiên đầu tư cho con người và thực hiện chính sách an sinh xã hội; giảm dần tỷ trọng
đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách và giảm dần bội chi ngân sách Nhà nước. Trong điều kiện
nguồn thu ngân sách hạn hẹp, nhu cầu chi bảo đảm an sinh xã hội và chi đầu tư phát triển rất lớn, thì
việc phân bổ ngân sách Trung ương năm 2010 cần ưu tiên để thực hiện chính sách cải cách tiền lương;
bố trí tăng vốn đầu tư cho các vùng kinh tế động lực; bố trí đủ nguồn vốn đầu tư cho các công trình
quan trọng, cấp bách.
Một số Ủy viên UBTVQH đề nghị mức bội chi ngân sách trong năm 2010 không vượt qua mức 6%, và
đưa kế hoạch cụ thể để giảm bội chi ngân sách Nhà nước dưới 5% trong các năm sau. Bởi do mức bội
chi ngân sách Nhà nước năm 2010 là 125,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10 nghìn tỷ đồng so với năm 2009 là
mức tăng khá lớn. Trong khi đó, nếu bội chi ngân sách tiếp tục tăng cao thì sẽ ảnh hưởng đến các cân
đối vĩ mô khác. Bên cạnh đó, Chính phủ cần phân tích rõ vì sao thu ngân sách trong năm 2009 tăng,
mà mức bội chi vẫn tiếp tục tăng cao. Nhìn nhận rõ những yếu tố khiến mức bội chi ngân sách tăng cao
trong năm 2009 sẽ rút kinh nghiệm trong cân đối thu, chi trong năm 2010./
NHÌN LẠI CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THỜI GIAN QUA VÀ MỘT VÀI
ĐỀ XUẤT
Posted on 30/09/2009 by Civillawinfor
NGUYỄN HÒA BÌNH – Chủ tịch HĐQT VCB
1. Điều hành chính sách tiền tệ 2008-2009 – những thành công lớn
Theo nhận định của nhiều chuyên gia tài chính trong và ngoài nước, của giới ngân hàng cũng như công
luận nói chung, việc điều hành chính sách tiền tệ trong hai năm qua đã thực sự thành công. NHNN đã
có những quyết định hết sức nhanh nhậy, kịp thời trong điều hành lãi suất, tỷ giá, … và những liệu
pháp đó đã nhanh chóng có tác động điều tiết rõ rệt đối với thị trường. Có thể điểm lại một số ví dụ.
NHNN đã quyết định nới biên độ dao động từ +1% lên +2% (từ ngày 26/06/08) đồng thời triển khai
hàng loạt các biện pháp khác: kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ, tăng cường truyền thông, công
bố dự trữ ngoại hối của Việt Nam (điều chưa hề có tiền lệ tại Việt Nam), … Nhờ đó, tỷ giá đã dần dịu
lại và duy trì ở mức ~ 16.500 cho đến hết quý 3/08.
Từ cuối năm 2008 đến nay, suy thoái kinh tế đã tác động mạnh đến nguồn cung ngoại tệ của Việt Nam;
cộng thêm tâm lý găm giữ ngoại tệ của dân cư và các thành phần kinh tế đã dẫn đến tình trạng khan
hiếm ngoại tệ, làm cho tỷ giá ngoại tệ luôn nóng, phố biến ở mức ~ 18.000. NHNN đã thêm hai lần
điều chỉnh biên độ dao động tỷ giá (+3% từ 06/11/08 và +5% từ 23/03/09) và triển khai một số công cụ
can thiệp khác. Vì vậy, tỷ giá ngoại tệ đang dần ổn định, nhu cầu ngoại tệ trong thanh toán những mặt
hàng thiết yếu được đáp ứng cơ bản đầy đủ.
- Hỗ trợ lãi suất
Đầu năm 2009, Chính Phủ đã đưa ra gói kích cầu bao gồm các nhóm giải pháp cơ bản: (i)Với doanh
nghiệp: giảm, giãn thuế TNDN, hỗ trợ lãi suất ở mức 4%; Với dân cư: trợ cấp người nghèo, giãn/miễn
thuế TNCN, giảm VAT, đào tạo lao động; (3) Về phía Chính Phủ: tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng chi
tiêu công, đẩy mạnh xúc tiến thương mại để tăng xuất khẩu.
Nổi bật và có tác động rõ rệt nhất là chính sách hỗ trợ lãi suất mà ở đó vai trò của hệ thống ngân hàng
và các công cụ chính sách tiền tệ một lần nữa lại được phát huy mạnh mẽ.
Đến hết tháng 7/2009, tổng dư nợ cho vay HTLS của toàn hệ thống ngân hàng đã đạt 389.107 tỷ đồng,
trong đó dư nợ đối với các doanh nghiệp nhà nước là 61.048 tỷ đồng, doanh nghiệp ngoài quốc doanh
là 259.454 tỷ đồng và với hộ kinh doanh là 68.605 tỷ đồng.
Để đối phó với suy thoái, Chính Phủ của hầu hết các nước đều đưa ra các gói hỗ trợ lên tới hàng ngàn
tỷ USD với cách thức chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp: mua tài sản xấu, sở hữu vốn của các tập đoàn tài
chính và tập đoàn công nghiệp lớn; chi tiền cho người nộp thuế, người tiêu dùng; thưởng tiền cho
người hủy xe cũ, mua xe mới, … Gói hỗ trợ của Chính Phủ Việt Nam được định lượng là 1 tỷ USD
(trên 17.000 tỷ đồng) với cách làm rất sáng tạo, rất linh hoạt, rất “made in Việt Nam”. Phần lớn tiền hỗ
trợ không được chi trực tiếp mà được hỗ trợ gián tiếp thông qua hỗ trợ lãi suất. Bằng cách này chúng ta
đã kích thích tăng trưởng mạnh tín dụng, giúp các doanh nghiệp có được nguồn vốn giá rẻ nên giảm
được giá thành sản phảm, duy trì ổn định sản xuất, kích thích được nhu cầu trong nước, …
Cũng đã có nhiều ý kiến trái chiều về chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính Phủ rằng can thiệp như vậy
sẽ làm méo mó hoạt động của các NHTM, làm như vậy thực chất là kích cung chứ không phải kích
3. Những nguy cơ và một vài đề xuất cho cho thời gian tới
Nền kinh tế Việt Nam đang có dấu hiệu dần ổn định và tăng trưởng trở lại. Tuy nhiên, vẫn còn tiềm ẩn
nhiều nguy cơ. Tốc độ tăng trưởng GDP còn thấp; tình trạng nhập siêu và thâm hụt cán cân thanh toán
chậm được cải thiện; mức thâm hụt ngân sách cao; lạm phát có nguy cơ tăng do giá cả một số mặt hàng
nhất là nguyên nhiên liệu đầu vào đang tăng và sẽ tiếp tục tăng khi kinh tế hồi phục.
Về lĩnh vực tài chính tiền tệ, cuộc đua lãi suất của các NHTM đang có xu hướng nóng dần lên, một số
NHTM bắt đầu gặp khó khăn về thanh khoản; Tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu “nóng”; Tình trang
khan hiếm ngoại tệ chưa được giải quyết triệt để, tỷ giá ngoại tệ còn diễn biến phức tạp. Như vậy, có
thể thấy nền kinh tế Việt Nam đã tạm qua giai đoạn suy giảm và đang bắt đầu hồi phục với không ít
khó khăn và nhiều nguy cơ đòi hỏi phải những nhà hoạch định chính sách tiền tệ phải đối mặt để ngăn
chặn.
Điều tiết mức cung tiền là nội dung cơ bản và cũng là quan trọng nhất của chính sách tiền tệ. Thông
qua các công cự khác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, … NHNN tác
động điều tiết mức cung tiền nhằm ổn định tiền tệ, tác động vào nên kinh tế hướng đến các mục tiêu
kinh tế vĩ mô. Vai trò to lớn và ngày càng rõ rệt của các công cụ thực thi chính sách tiền tệ là thực tế
hoàn toàn không thể phủ nhận. Từ giác độ NHTM, xin nêu ra một số đề xuất.
Thứ nhất, ngoại trừ điều kiện bất khả kháng, nên tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản như thời gian qua.
Trong thời gian qua, lãi suất cơ bản đã thực sự trở thành công cụ quan trọng trong điều hành chính
sách tiền tệ, chỉ báo nhạy bén của thị trường tiền tệ. Mỗi thay đổi của công cụ này đã gần như ngay lập
tức có tác động điều tiết rõ rệt đối với thị trường.
Tính đến thời điểm hiện nay đã là hơn 6 tháng NHNN giữ lãi suất cơ bản ở mức 7%. Điều này một mặt
cho thấy sự ổn định của thị trường tiện tệ. Mặt khác, mức lãi suất thấp có tác dụng tích cực trong kích
thích đầu tư, giảm khó khăn cho các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vĩ mô – yếu tố rất cần
thiết trong giai đoạn “hậu suy thoái”. Vì vậy, lãi suất cơ bản nên tiếp tục giữ ổn định ở mức như hiện
nay.
Thứ hai, nên xem xét thu hẹp phạm vi hỗ trợ lãi suất, tiến tời dừng thực hiện hỗ trợ lãi suất.
Gần đây NHNN đang có hướng hạn chế dần mức cung tiền với các biện pháp: khống chế tăng trưởng
dư nợ tín dụng của các NHTM Nhà nước, giảm lãi suất DTBB (xuống còn 1,2% từ 17/07/09), giảm tỷ
lệ cho vay trung dài hạn trên tổng nguồn vốn ngắn hạn từ 40% xuống còn 30% (Thông tư 15/2009/TT-
NHNN ngày 10/08/2009).
thông tin đại chúng, định hướng dư luận, … Nên xem xét chủ động và định kỳ công bố thông tin về dự
trữ ngoại hối như các quốc gia khác vẫn làm.
Thứ năm, cần tăng cường kiểm tra giám sát và xử lý nghiêm các sai phạm trong việc thực hiện các quy
định liên quan đến chính sách tiền tệ: vi phạm về biên độ tỷ giá, về trần lãi suất, trong cho vay hỗ trợ
lãi suất, vi phạm của các đại lý thu đổi ngoại tệ, …
Thời gian qua công tác này đã được NHNN hết sức chú trọng. Tuy nhiên để đảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các NHTM và đặc biệt là để các công cụ của
chính sách tiền tệ thực sự phát huy tác dụng tích cực, cần phải xiết chặt hơn các chế tài đi đôi với tăng
cường công tác kiểm tra của các cơ quan chức năng cũng như phát huy cơ chế giám sát chéo, cơ chế
giám sát của cộng đồng, công luận, …
Nền kinh tế thế giới đang vượt qua suy thoái và dần hồi phục. Kinh tế Việt Nam cũng đang bước vào
thời kỳ “hậu suy giảm”. Với những công cụ hữu hiệu và sự điều hành linh hoạt của NHNN, chắc chắn
chính sách tiền tệ sẽ là động lực tạo đà thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng phục hồi và tiếp
tục phát triển bền vững.
Nhìn lại năm 2009: Hai vấn đề nóng trong điều hành chính sách tiền tệ
Theo ven.vn - 03/02/2010
(VEN) - Do tác động kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, năm
2009 nền kinh tế nước ta liên tục phải đối đầu với nhiều khó khăn thách thức.
Các chính sách cấp bách nhằm thực hiện mục tiêu chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định thị trường tài
chính - tiền tệ, trong đó có hai chính sách (nhóm giải pháp) nóng được đặt lên hàng đầu là chính sách
hỗ trợ lãi suất và điều tiết, ổn định thị trường ngoại hối. Đó là hai nhóm giải pháp có mối quan hệ trực
tiếp, rộng lớn đến cộng đồng DN và dân cư mà ngành ngân hàng đảm nhận trách nhiệm chính.
Theo báo cáo ngày 23/12/2009 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Trung ương, ngay từ ngày đầu bước
vào thực hiện các nhiệm vụ năm 2009, toàn ngành coi việc triển khai các chính sách hỗ trợ lãi suất theo
các Nghị quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 và Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 9/1/2009, số
443/QD-TTG ngày 4/4/2009, số 497/QĐ-TTG ngày 17/4/2009 và số 597/QĐ-TTG ngày 19/5/2009 của
Thủ Tướng Chính phủ là “nhiệm vụ lớn trọng tâm hàng đầu năm 2009 của toàn ngành ngân hàng.
Cùng với sự nỗ lực của chính mình, NHNN đã có sự phối kết hợp chặt chẽ, thường xuyên với các Bộ,
ngành ở trung ương và cấp uỷ, chính quyền và các cấp địa phương, triển khai đồng bộ, theo dõi tiến độ
thực hiện, cập nhật đánh giá kết quả cũng như những vướng mắc, hạn chế cần khắc phục để hoàn thiện
lãi suất và biên độ tăng giảm tỷ giá đã thực sự khuyến khích sản xuất và xuất khẩu, đảm bảo ổn định
kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.
Về biện pháp điều tiết quan hệ cung cầu ngoại tệ, ổn định thị trường ngoại hối (vàng, ngoại tệ), NHNN
đã trình Chính phủ cho phép triển khai nhiều giải pháp như được phép bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu
nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân; chỉ đạo một số tập
đoàn, tổng công ty có nguồn thu ngoại tệ lớn bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại; bắt buộc một
số DN nhập khẩu lớn chuyển từ mua sang vay bằng ngoại tệ, theo đó là kiểm soát chặt chẽ nhập siêu,
đặc biệt là việc nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, không liên quan gì đến quá trình sản xuất,
kinh doanh của các DN và của nền kinh tế.
Với thị trường vàng, nhìn chung, suốt cả chiều dài năm, thị trường vàng nước ta luôn phụ thuộc và
chịu sự tác động cảu diễn biến thị trường vàng quốc tế, và càng phức tạp hơn khi bị yếu tố đầu cơ tung
thổi tin đồn phục vụ cho hành động đầu cơ, phá giá. Điều này được chứng minh trong nửa đầu tháng
11/2009, giá vàng trong nước liên tục tăng, có thời điểm lên tới 29,3 triệu đồng/lượng, cao hơn từ 2,5-3
triệu đồng/lượng so với giá vàng quốc tế.
Khi cơn sốt về giá vàng tăng cao, tạo sức ép đến chóng mặt, NHNN thực thi ngay giải pháp cho các
DN nhập khẩu vàng để cân đối cung cầu, kéo ngay giá vàng trên thị trường xuống. Theo đó là trình
Chính phủ cơ chế về quản lý hoạt động các sàn giao dịch vàng. Kẻ cơ hội đầu cơ cạn đường vùng vẫy.
Tuy nhiên, bên cạnh cái được là cơ bản, xuyên suốt thì hai nhóm giải pháp được thực thi nêu trên hiện
vẫn còn một số tồn tại, khó khăn, thách thức mà ngành ngân hàng sẽ tìm cách khắc phục trong năm tới.
Đó là, tâm lý găm giữ ngoại tệ của DN và người dân vẫn chưa được giải toả triệt để. Giá vàng trên thị
trường thế giới luôn diễn biến phức tạp, khó lường và thực sự đang có xu hướng tăng… Còn với chính
sách hỗ trợ lãi suất, sự phối hợp giữa ngân hàng với các Bộ, ngành thực hiện Quyết định 497/QĐ-TTg
chưa thật tốt, nhiều vướng mắc chậm được giải quyết cho nên nguồn vốn hỗ trợ chảy về lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn chưa nhiều, mức lãi suất vay USD thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn đã phát sinh
hiện tượng khách hàng vay để trục lợi bằng cách vay ngân hàng này gửi vào ngân hàng khác. Cũng qua
chính sách hỗ trợ này được áp dụng khá rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, ngành hàng và đối tượng thụ
hưởng cho nên xuất hiện tâm lý ỷ lại hoặc sử dụng vốn không đúng mục đích, không kiểm soát được.
Đồng vốn hỗ trợ lãi suất thực sự đã giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào sản phẩm, tạo thêm công
ăn việc làm cho người lao động./.
Kinh tế Việt nam vừa trải qua năm 2009 với nhiều khó khăn được khắc phục, nhưng để đổi lại