Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí Từ Các Nguồn Điểm Ở Các Huyện Ngoại Thành - Pdf 17

class="bi x0 y0 w1 h1" Chương trình Hợp tác CIDA-AIT
Dự án SEA-UEMA
Viện Công nghệ Châu Á, Thái Lan
Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn
Bộ Xây dựng
Việt Nam KỶ YẾU Diễn Đàn Chính Sách Về Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí
Từ Các Nguồn Điểm Ở Các Huyện Ngoại Thành Hà Nội

ThS. Nguyễn Thị Lan Anh
CN. Ngô Thanh Vân

Tháng 10 năm 2006 (100 bản)

Publication Development Team:
Text Editors: Nowarat Coowanitwong, Pravakar Pradhan and Truong Thien Thu
Graphic Designer: Ahmed Imtiaz Khan
Quyền Từ chối

là hội thảo thứ ba trong chuỗi các hội thảo của Dự án. Mục đích của hội thảo này là nhằm để nghiên
cứu các v
ấn đề ô nhiễm không khí ở các khu vực đô thị và ngoại thành của Hà Nội, và tìm hiểu những
khó khăn và cản trở trong việc tiếp cận các chính sách một cách hiệu quả bằng các công nghệ thích
hợp. Hội thảo sẽ thảo luận các chiến lược và các chính sách quốc gia, và các thực tiễn ở địa phương
cho phép thành lập khuôn khổ cho việc triển khai các biện pháp để kiểm soát ô nhiễm không khí trong
thực tế. Hội thả
o này còn xem xét những điển hình thực tế có thể được dùng để phát triển các chính
sách, và từ đó đề xuất một số giải pháp cho các cấp chính quyền địa phương.

v
Mục Lục Thứ tự Trang
1 Lời nói đầu iii
2 Mục lục v
3 Chương trình Hội thảo vii
4 Phát biểu Chào mừng
ThS. KTS. Ngô Trung Hải
ix
5 Phát biểu Khai mạc Hội thảo
TS. Lê Hồng Kế
xi
A. Phần Nội Dung 1
1 Tổng quan về hiện trạng ô nhiễm không khí 3
2 Các chính sách hiện nay, chương trình và hành động cụ thể về việc giảm thiểu

6
Chính sách Quản lý Chất lượng Không khí ở Việt Nam: Vấn đề, Khó khăn và Giải
pháp
TS. Hoàng Dương Tùng
99 vi

7
Dự án Ứng dụng Thực tiễn Công nghệ sạch hơn Cải tạo Môi trường tại Làng gốm
cổ truyền Bát Tràng–Hà Nội
ThS. Quách Huy Thông
109
8
Giảm Ô nhiễm Không khí qua Khai thác một cách Hiệu quả Chất thải rắn Kinh
nghiệm từ một Dự án Trình diễn
ThS. Nguyễn Nam Sơn
121
Phụ Lục 2: Một số thực tiễn tốt 135
Phụ Lục 3: Các thông tin khác 143
1 Thông báo về Diễn đàn 143
2 Các thông tin tóm tắt về Diễn đàn 147
3 Luật, Chính sách, Nghị định, Thông tư liên quan đến Chất lượng Không khí 149
4 Các dự án liên quan Cải thiện Chất lượng Không khí 151
5 Danh sách Đại biểu tham dự 153 vii
Chương Trình Hội Thảo

Trưởng phòng QLMT, khí tượng thủy văn, Sở Tài nguyên Môi
trường và Nhà đất Hà Nội
09.30-10.00 Giải lao
10.00-10.30
Bài trình bày I: Ô nhiễm không khí ở Việt Nam:
Thực trạng và xu hướng trong bối cảnh ở khu vực
PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Oanh
Quản lý và kỹ thuật Môi trường
10.30-11.00
Bài trình bày II: Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm
bụi ở thành phố Hà Nội và đề xuất các giải pháp
khắc phục
PGS.TS. Hoàng Xuân Cơ
Phó trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Trường ĐH Khoa học
Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội
11.00-11.15
Bài trình bày III: Chính sách quản lý chất lượng
môi trường không khí ở Việt Nam: Vấn đề, khó
khăn và giải pháp
TS. Hoàng Dương Tùng
Cục Bảo vệ Môi trường
11.15-11.30 Thảo luận về các chủ đề của bài trình bày I & II
11.30-12.00
Thảo luận I: Chính sách quản lý môi trường và sự
tham gia của cộng đồng
Chủ trì: GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, Giám đốc Trung tâm kỹ
thuật môi trường đô thị và KCN
Đồng chủ trì: TS. Hoàng Dương Tùng, Cục BVMT
12.00-13.00 ăn trưa: Dự án SEA-UEMA chiêu đãi tại Khách sạn Công đoàn
13.00-13.30
ix
Phát Biểu Chào Mừng
ThS. KTS. Ngô Trung Hải
Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn
- Kính thưa PGS.TS. Lê Hồng Kế, Giám đốc Trung tâm Bảo vệ Môi trường và Phát triển Bền
vững,
- Thưa TS. Ranjith Perera, giám đốc dự án ứng dụng Quản lý môi trường Đô thị ở Đông Nam Á,
- Thưa các quý vị đại biểu.
Trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá của Việt Nam diễn ra khá nhanh,
gây áp lực lớn đối với tài nguyên và môi tr
ường. Đô thị hoá, công nghiệp hoá trong khi hạ tầng kỹ
thuật và hạ tầng xã hội còn chưa hoàn thiện, làm nảy sinh những vấn đề môi trường bức bách như
thiếu nước sạch, ô nhiễm không khí, tiếng ồn, lượng chất thải rắn gia tăng. Nguy cơ ô nhiễm diện vùng
đang được các nhà môi trường cảnh báo, đặc biệt là ô nhiễm không khí khu vực ven đô của Hà Nội vì
việc tập trung các khu công nghiệp, cụm côn nghi
ệp đang ngày càng nhiều trong vùng Hà Nội. Tỷ lệ
dân số bị nhiễm bệnh do ô nhiễm môi trường cũng đang gia tăng. Để giải quyết các vấn đề đó, nhà
nước cần phải đưa ra những chính sách nhằm hạn chế cũng như kiểm soát sự phát thải các chất gây ô
nhiễm.

Hội thảo "Chính sách về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí từ các nguồn điểm ở các
huy
ện ngoại thành Hà Nội" được tổ chức lần này nằm trong khuôn khổ dự án ứng dụng Quản lý Môi
trường Đô thị ở Đông Nam á (SEA-UEMA) của Viện Công nghệ Châu á (AIT) và Viện Quy hoạch Đô
thị-Nông thôn thực hiện nhằm mục tiêu nghiên cứu về các vấn đề ô nhiễm không khí ở các khu vực đô
thị và ngoại thành Hà Nội và tìm hiểu những khó khăn, cản trở trong việc tiếp cận chính sách một cách
có hiệu quả bằng các công nghệ thích hợp thông qua các hoạt động:
1. Phổ biến các bài học rút ra từ thực tế các dự án mẫu về việc giảm ô nhiễm không khí;

AIT của Việt Nam xin được gửi đến quý vị khách quý quốc tế và trong nước lời chào mừng nồng nhiệt
nhất.

Dự án "Những ứng dụng về Qu
ản lý Môi trường đô thị" khu vực Đông Nam Á là một dự án
được Quỹ trợ giúp phát triển quốc tế Canada tài trợ. Dự án sẽ được thực hiện trong 8 nước là
Campuchia, Indonesis, Malaysia, CHĐCN Lào, Philippine, Đông Timo, Thái Lan và Việt Nam. Thời
gian thực hiện dự án là 5 năm (từ 2003-2008). Nội dung của dự án sẽ bao gồm các thành phần đa
dạng, phong phú:
- Các hoạt động trình diễn của cựu sinh viên AIT, người được đào tạo từ AIT.
- Xây d
ựng mạng lưới khu vực và chương trình hỗ trợ chuyên môn tập trung vào 3 chủ đề
chính cấp nước và vệ sinh môi trường; chất thải rắn và ô nhiễm không khí.
- Các đề tài kiên kết nghiên cứu giữa các nước trong dự án.
- Những ứng dụng các kết quả đạt được và những bài học của chúng.
Để thực hiện dự án, tổ chức CIDA đã chọn Trường Môi trường, Tài nguyên và phát triển
thuộc Học viện Công ngh
ệ châu Á (AIT), Thái Lan là đối tác chính, chủ trì quản lý và thực hiện dự án
này. Cho đến nay, dự án được thực hiện gần 2 năm. Trong quá trình thực hiện AIT với tư cách là cơ
quan thực hiện đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực như tuyển chọn và tổ chức mạng lưới thành
viên ở các nước dự án, tuyển chọn đào tạo sau đại học ở cấp Thạc sỹ và Tiến s
ỹ, tổ chức nhiều dự án
trình diễn, thực hiện một số đề tài liên kết nghiên cứu ở tất cả các nước thuộc dự án.

Đối với nước ta, một số tổ chức Chính phủ và Phi chính phủ đã trở thành mạng lưới của dự án
như: Viện Quy hoạch đô thị-nông thôn (Bộ Xây dựng), Trung tâm Bảo vệ môi trường và Quy hoạch
phát triển bền vững (Hộ
i QHPTĐT Việt Nam), Dự án cũng đã cấp nhiều học bổng từ dự án cho một
số học viên Việt Nam được học tập nghiên cứu ở cấp Thạc sỹ tại AIT. Một số đề tài nghiên cứu của
cựu sinh viên AIT ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu trình diễn. Dự án


3
Tổng Quan Về Hiện Trạng Ô Nhiễm Không Khí
1. Khái quát về tình hình ô nhiễm không khí tại Việt nam

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và tốc độ phát triển kinh tế nhanh đó dẫn đến hậu quả là
môi trường đô thị phải đối mặt với nhiều thử thách trong đó ô nhiễm không khí là một trong những
vấn đề then chốt. Vấn đề ô nhiễm ở các thành phố đang phát triển của Việt Nam tạo ra một sự đe dọa
nghiêm trọng cho sứ
c khỏe con người khi mà các chất thải trong không khí như SO
x
, NO
x
, CO
2
và các
hạt nhỏ vượt xa giới hạn cho phép của WHO và USEPA.

Theo báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam 2001, môi trường không khí ở các thành phố
và khu công nghiệp ở Việt Nam bị ô nhiễm nặng bởi bụi. Lượng bụi trong không khí vượt quá giới
hạn cho phép từ 1,3 đến 3 lần. Lượng khí SO
2
tập trung trong không khí xung quanh một số khu công
nghiệp vượt quá giới hạn cho phép từ 1,1 đến 2,7 lần. Lượng chì trong không khí tại các giao lộ trong
thành phố đó đạt đến ngưỡng cho phép.

Nguyên nhân chính của ô nhiễm không khí ở Việt Nam là từ khí thải công nghiệp, nhất là từ
các nhà máy ximăng, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, nhà máy hóa chất, …, và từ các phương
tiện giao thông trên đường phố, trong đó xe gắn máy hai bánh chiếm tỉ trọng lớn.


hướng gia tăng. Tại các khu chung cư cũ, nhiều hộ dân có thu nhập thấ
p vẫn sử dụng chất đốt là than,

Tổng Quan Về Hiện Trạng Ô 4
củi trong sinh hoạt. Hà Nội đó xảy ra nhiều vụ tử vong do hớt phải khí độc từ than tổ ong. Một số nhà
máy như: xà phòng, dệt may, bia rượu, thuốc lá đó thải ra đường phố khí, chất thải, làm ảnh hưởng
đến sức khoẻ của người dân xung quanh. Mặt khác, trong quá trình chuyển hoá năng lựơng của nhiều
nhà máy công nghiệp trên địa bàn, đó gây nên mức độ ô nhiễm khói công nghi
ệp khá cao, nhất là hiện
nay công nghiệp tăng trưởng mạnh (15-17%).

Ô nhiễm bụi tại Hà Nội đó gấp ba - bốn lần tiêu chuẩn cho phép. Theo thống kê chưa đầy đủ
của Sở Tài Nguyên Môi trường (TN-MT) Thành phố cho biết: Mỗi năm, Hà Nội tiếp nhận khoảng
80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO2, 46.000 tấn khí CO từ hơn 400 cơ sở công nghiệp; chưa kể
khói của hơn 100.000 ô-tô và một triệu xe máy. Trước
đó, tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về chất
lượng không khí ở Hà Nội (1994-1998), do Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Hà Nội phối hợp
với một số cơ quan liên quan tiến hành, chỉ riêng nội thành Hà Nội với dân số khoảng hơn 1,4 triệu ở
bốn quận nội thành, mỗi nǎm có 626,8 người chết và 1.547,9 người bị bệnh hô hấp do nồng độ cơ bản
của TSP trong không khí ngoài trời vượt quá TCVN 159,4mg/m
3
. Mặc dù chưa có kết quả nghiên cứu
định lượng mới nhất về nồng độ TSP hiện nay, người dân và các cơ quan liên quan ở Hà Nội đều cảm
nhận được nạn ô nhiễm bụi tại Hà Nội ngày càng trầm trọng.

Nhìn chung, các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí ở Hà Nội gồm có các nhà máy công
nghiệp, phương tiện giao thông có động cơ, các công trình xây dựng và việc vận chuyển vật liệu xây
dựng, và chất đốt từ các hộ
gia đình. Theo thống kê của Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội từ năm
1993 đến năm 2000 và dự báo đến năm 2010, tổng lượng khí thải gây ô nhiễm không khí tăng rất

(Nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội) 5
Các Chính Sách Hiện Nay, Chương Trình Và Hành Động Cụ Thể Về Việc Giảm Thiểu
Ô Nhiễm Không Khí
1. Chính sách của Nhà nước nhằm bảo vệ môi trường không khí

Để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí, chính phủ Việt Nam đó đưa ra nhiều chính sách và
chương trình hành động nhằm bảo vệ môi trường không khí như sau

- Tiến hành đánh giá tác động môi trường (EIA) cho tất cả các dự án phát triển kinh tế, xó hội;
kiểm soát một cách có hiệu quả các doanh nghiệp, xí nghiệp có khí thải độc hại ra môi trường; xử lý
các thiết bị
công nghiệp gây ô nhiễm bằng các kỹ thuật mới hoặc thay thế, trang bị thêm bộ xử lý chất
thải, thay thế nguyên liệu sản xuất, …; và phát triển công nghệ sản xuất sạch.

- Theo chỉ thị số 24/2000/ CT-TTg ngày 23/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ, kể từ ngày
01/07/2001 Việt Nam bắt đầu sử dụng xăng không chì cho các phương tiện giao thông có động cơ.

- Tăng cường hiệu quả sử dụng n
ăng lượng, hiệu quả sản xuất điện ở các nhà máy nhiệt điện,
cũng như là hiệu quả sử dụng năng lượng của các thiết bị điện. Khai thác sử dụng các chất đốt lỏng và
dầu nhẹ thay cho than và dầu nặng bởi vỡ những chất này có hàm lượng lưu huỳnh cao. Khai thác sử
dụng khí sinh học ở khu vực nông thôn, cùng với việc phát triển s
ử dụng các năng lượng sạch như
năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt, và năng lượng thủy triều.

- Chủ động tiến hành các chương trình tái tạo rừng, mở rộng rừng, trụng cây gây rừng, phục
hồi các đồng cỏ, … nhắm đến mục tiêu năm 2010 rừng sẽ chiếm 45% tổng diện tích đất đai. Đồng

định, quy tắc, chế tài xử phạt những trường hợp vi phạm, nhằm hạn chế tình trạng gây ô nhiễm không
khí trong các hoạt động của đời sống đô thị.
7
Thảo Luận Và Các Đề Xuất Đưa Ra Trong Diễn Đàn
1. Thảo luận

Xoay quanh các mục tiêu đề ra, một số chủ đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đã được
đưa ra thảo luận trong diễn đàn như: tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà, đánh giá tác động môi
trường và hậu đánh giá tác động môi trường, các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí, nâng cao
nhận thức cộng đồng và một số ý kiến xung quanh các bài báo cáo.

* Tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà:

- Theo đánh giá của WHO, 2/3 s
ố ca bệnh đường hô hấp ở Châu á là do ô nhiễm không khí
trong nhà, vì vậy một số ý kiến cho rằng cần sớm ban hành tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà.
Hiện nay, do Việt Nam chưa có tiêu chuẩn này nên đã nảy sinh nhiều khó khăn khi các cơ quan đề
nghị đánh giá chất lượng không khí trong nhà.

Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần xác định môi trường không khí trong nhà nằm trong phạm vi
quản lý của Bộ nào trong số các Bộ: Tài nguyên Môi trường, Y tế, Lao động Thương binh và Xã hộ
i?
Tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà nên đưa vào lĩnh vực tiêu chuẩn môi trường quốc gia hay
tiêu chuẩn ngành?

Một số ý kiến khác cho rằng việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà là một
vấn đề khó khăn. Về cơ bản chất lượng không khí trong nhà và chất lượng không khí bên ngoài có liên

phương tiện vận chuyển trên toàn lãnh thổ và thiết kế nắp đậy phù hợp, phát miễn phí cho các
phương tiện vận chuyển và bắt buộc phải sử dụng. Nếu không sử dụng sẽ bị phạt tiền và gi

phương tiện từ 15 ngày trở nên. Bằng cách đó, đến nay đã có 95% số phương tiện nắp đặt nắp
đậy. Tuy nhiên, một thách thức còn tồn tại là các phương tiện vận chuyển vật liệu chủ yếu
hoạt động vào ban đêm nên việc kiểm soát sẽ gặp khó khăn.

+ Đối với các phương tiện thi công ngoài công trường, để giảm thiểu bụi phát sinh các công
trường xây dựng bắt bu
ộc phải có hệ thống rửa xe tại cửa ra vào.

+ Tại các tuyến cửa ngõ thành phố cũng xây dựng các trạm rửa xe tự động (hiện nay đã xây
dựng một trạm tại Từ Liêm).

Bằng cách áp dụng các giải pháp đó, nồng độ bụi đã giảm được khoảng 50%.

- Đối với các nguồn thải từ GTVT, trong thời gian qua, từ khi Chính Phủ ban hành Quyết định
cấm sử
dụng xăng pha chì (ngày 1/7/2001 ), nồng độ chì trong các đô thị lớn của Việt Nam đã giảm
đáng kể. Năm 2004, US-AEP tiến hành đo nồng độ chì để đánh giá sự giảm thiểu ô nhiễm chì ở Việt
Nam. Theo số liệu trước ngày 1/7/2001, nồng độ chì ở các đô thị lớn của Việt Nam khoảng
0,003mg/m3. Sau năm 2001, tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Tp Hồ Chí Minh, nồng độ chì
giảm từ 40%-50%. Năm 2005, nồng độ chì tại Hà Nội nhỏ hơn 0,0015mg/m3, đạt tiêu chuẩn quốc tế
(0,0015mg/m3). Như vậy, có thể nói việc cấm sử dụng xăng pha chì là một bước đi đúng đắn, góp
phần đáng kể trong việc cải thiện chất lượng môi trường không khí.

Trong thời gian tới, một số hướng phát triển nhằm cải thiện chất lượng môi trường nói chung
và môi trườ
ng không khí nói riêng đã được xây dựng như: sử dụng xăng sạch, giảm 3,5% nồng độ
benzen, không cho xe máy đi vào các tuyến phố cổ và sử dụng xe buýt trong các tuyến phố đó…

tác bảo vệ môi trường.

+ Tăng cường quyền lực cộng đồng để người dân có quyền tham gia góp ý cho dự án.

- Kinh nghiệm huy động cộ
ng đồng ở một số địa phương cho thấy muốn đạt được thành công
trong việc huy động sự tham gia của cộng đồng thì người đứng ra chủ trì, tổ chức cho các phong trào,
tập hợp, kêu gọi sự tham gia của cộng đồng phải là người có uy tín trong cộng đồng, giữ vai trò của
Đảng (ví dụ như một nhà khoa học, một nhà lãnh đạo, hội môi trường ).

Tuy nhiên hiện nay việc quan tâm đến cộng đồng h
ầu như chỉ dừng ở cộng đồng chịu ô nhiễm,
chưa quan tâm đến cộng đồng gây ra ô nhiễm (vứt rác ra đường, gia đình sản xuất TTCN, sử dụng
phương tiện giao thông vận tải)

- Hệ thống thông tin báo cáo có liên quan mật thiết với vấn đề nâng cao nhận thức cộng đồng.
Thưc tế hiện nay cho thấy hệ thống thông tin báo cáo của Việt Nam còn yếu, nhận thức cộng
đồng
chưa cao. Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề nhận thức của cộng đồng, tuy nhiên thực tế cần làm gì để
nâng cao nhận thức cộng đồng hầu như chưa được đề cập nghiên cứu cụ thể. Trong thời gian tới, một
giải pháp để nâng cao nhận thức cộng đồng dự kiến được thực hiện là công bố bản tin dự báo thời tiết
cho các đô thị vùng Đồng bằng Bắc bộ. Giải pháp này có thể được tham khảo mô hình công bố bản tin
dự báo chất lượng không khí để nâng cao nhận thức cộng đồng tại Trung Quốc.

* Thảo luận về 2 báo cáo dự án trình diễn tại Bát Tràng, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh

- Về vấn đề cải tạo môi trường tại làng gốm Bát Tràng: đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề ô
nhiễm môi trườ
ng, các tác động tới sức khỏe cộng đồng tại Bát Tràng. Về nhiên liệu đã có 2 công

ụng lò gas thì phải áp dụng giải pháp dùng chung cho một số hộ gia đình.

+ Để đánh giá khả năng nhân rộng của một dự án trình diễn cần có thời gian để người dân xem
xét hiệu quả, lợi ích của dự án
- Dự án giảm ô nhiễm không khí thông qua khai thác một cách hiệu quả chất thải rắn tại cộng
đồng nuôi bò sữa ở thành phố Hồ Chí Minh- dự án trình diễn vệ sinh môi trường dựa vào cộng đồ
ng

+ Với đặc điểm cơ bản của dự án là yêu cầu về khả năng ổn định của bình gas. Đây là yếu tố
quan trọng mà các hộ dân đều muốn khẳng định trước khi quyết định sử dụng. Như vậy, để dự
án phát triển bền vững, thiết kế kỹ thuật và công nghệ sử dụng để sản xuất khí biogas phải ổn
định và có thời gian sử dụng lâu dài.

+ Bên cạnh đó, vấn đề tài chính cũng là yếu tố liên quan đến khả năng nhân rộng của dự án
trình diễn. Hầu hết các hộ dân đều không muốn chi trả cho việc xây dựng hầm Biogas. Như
vậy vấn đề đặt ra là cần có chính sách hỗ trợ của chính quyền hoặc các nhà tài trợ để phát triển
và nhân rộng mô hình Biogas.

2. Đề xuất từ các nhóm thảo luận trong diễ
n đàn

Qua các báo cáo và ý kiến thảo luận, một số chính sách đã được đề cập:

- Gắn kết, hoà nhập quy hoạch bảo vệ môi trường với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, đặc
biệt là quy hoạch đô thị.
- Để xây dựng được chính sách cần phải kiểm soát chặt chẽ nguồn thải, đặc biệt là nguồn thải
giao thông, công nghiệp và xây dựng.
- Chính sách khuyến khích phát triển công nghệ x
ử lý ô nhiễm, chính sách sử dụng nhiên liệu
sạch (đã có dự án đề mô), chính sách sản xuất ô tô phải đạt tiêu chuẩn Châu âu, giải quyết vấn đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status