MỞ ĐẦU
Viêm ruột thừa là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh
lý bụng cấp và phẫu thuật cắt ruột thừa được thực hiện thường nhất trong cấp
cứu ngoại khoa.
Vò trí cơ thể học ruột thừa thay đổi đưa đến nhiều biểu hiện lâm sàng của
viêm ruột thừa (biểu hiện lâm sàng không điển hình chiếm trên 30% [11]).
Nói cụ thể viêm ruột thừa có thể bò che lấp do nhiều bệnh cảnh khác đặc biệt
là ở bệnh nhân nữ. Phẫu thuật viêm ruột thừa sớm thường được chỉ đònh vì
khả năng gây ra nhiều hậu quả trầm trọng do can thiệp phẫu thuật muộn.
Chẩn đoán sớm giúp thành công trong điều trò. Chẩn đoán nhanh và chính xác
giúp cải thiện kết cuộc của bệnh nhân.
Viêm ruột thừa có thể khó chẩn đoán trên lâm sàng. Tỉ lệ cắt ruột thừa âm
tính khoảng 20% xưa nay đã được chấp nhận vì hậu quả thủng ruột thừa có
thể gây chết người. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ngày càng được dùng để
khảo sát ở người lớn nghi viêm ruột thừa [63].
Những kỹ thuật hình ảnh như siêu âm và cắt lớp vi tính đem lại nhiều khả
năng cải thiện kết cuộc lâm sàng do tăng độ chính xác chẩn đoán. Năm 1986,
Puylaert [43] lần đầu tiên đã nêu lên việc sử dụng siêu âm trong đánh giá
ruột thừa. Ưu điểm của siêu âm là không có tia xạ và thuận tiện nhưng có
nhược điểm là phụ thuộc người làm siêu âm và gặp khó khăn ở người mập,
ruột chướng hơi. Sử dụng cắt lớp vi tính để chẩn đoán viêm ruột thừa được
1
giới thiệu vào cuối thập niên 90 với một nghiên cứu báo cáo 98% độ chính
xác trong việc dùng cắt lớp vi tính thường quy có thuốc cản quang đường trực
tràng để chẩn đoán viêm ruột thừa [48]. Có sự bàn cãi liên tục về giá trò
tương đối của siêu âm và cắt lớp vi tính. Phân tích tổng hợp gần đây nhất đã
kết luận rằng cắt lớp vi tính nhạy hơn hẳn siêu âm trong chẩn đoán viêm ruột
thừa nhưng siêu âm cần được cân nhắc ở trẻ em. Nhược điểm rõ rệt của cắt
lớp vi tính gồm phơi nhiễm bức xạ ion hoá và khả năng đáp ứng quá mẫn với
thuốc cản quang.
Hầu hết những người cần hình ảnh cắt lớp vi tính chẩn đoán viêm ruột thừa
Ruột thừa nhận máu cung cấp từ một nhánh của động mạch manh tràng sau;
dẫn lưu tónh mạch đến hệ cửa giúp giải thích sự xuất hiện đồng thời nhiễm
trùng gan trong viêm ruột thừa. Trước tiên, dẫn lưu bạch huyết vào các hạch
của mạc treo ruột thừa và sau đó đến các hạch bạch huyết chung quanh đại
tràng phải cũng như các hạch bạch huyết hồi manh tràng [15].
4
Hình 1.1. Ruột thừa bình thường xuất phát từ ba dải cơ dọc đại tràng [15].
Mặc dù đáy ruột thừa tương đối cố đònh nhưng đầu ruột thừa thường di
động tự do. Do đó vò trí ruột thừa thay đổi rất nhiều. Trong một nghiên cứu cơ
thể học ruột thừa của 10.000 BN [60], vò trí đầu ruột thừa thường gặp nhất ở
cạnh sau manh tràng (65% trường hợp). Các vò trí khác là ở hố chậu (31% ),
sau manh tràng (2,5% ) và cạnh quanh vùng hồi tràng (1,5% ), trước hồi tràng,
sau hồi tràng, ụ nhô hay dưới manh tràng. Rất hiếm hơn ruột thừa ở dưới gan
trong trường hợp manh tràng ngừng di chuyển xuống. Ruột thừa cũng có thể
khu trú ở hố chậu trái nếu có sự chuyển vò nội tạng. Thiếu ruột thừa bẩm sinh
và nhân đôi ruột thừa đã được báo cáo nhưng hiếm gặp. Một nghiên cứu gần
đây hơn, dựa trên hình ảnh học cho thấy chỉ có 4% ruột thừa khu trú ở điểm
McBurney cổ điển ( chỗ nối một phần ba ngoài và giữa của đường nối gai
chậu trước trên và rốn ) [50]. Chiều dài ruột thừa từ 1 đến 25 cm, trung bình
8 cm. Mối quan hệ giải phẫu hằng đònh của ruột thừa với van hồi manh tràng
cho phép nhận ra ruột thừa trên siêu âm và cắt lớp vi tính.
5
Phần nguyên thuỷ của manh tràng và ruột thừa là túi thừa manh tràng và
xuất hiện ở tuần thứ sáu của thai như là một chỗ phồng lên ở bờ đối diện mạc
treo của phía đuôi quai mầm ruột. Người ta nghó ruột thừa có chức năng miễn
dòch ở trẻ em nhưng ở người lớn là bộ phận thừa [63].
1.2. Đặc điểm giải phẫu bệnh viêm ruột thừa
Bình thường niêm mạc ruột thừa trơn láng, màu nâu hơi vàng; lớp thanh
mạc màu nâu hồng, trơn và sáng. Khi viêm nhiễm được giới hạn ở lớp niêm
mạc, bên ngoài của RT có thể có hình ảnh đại thể bình thường. Giãn hay sung
ruột thừa nhưng nó vẫn còn chưa thâm nhiễm niêm mạc [53]. Những thay đổi
nhỏ khác có thể bao gồm tích tụ khu trú bạch cầu trung tính trong lòng và lớp
riêng. Đôi khi có liên quan đến VRT sớm hay VRT niêm mạc.
Từ “ VRT niêm mạc” được dùng cả khi có hoặc không có loét nếu tình
trạng viêm nhiễm giới hạn ở niêm mạc [23]. Ý nghóa lâm sàng của viêm
niêm mạc đơn thuần không có loét là không chắc chắn. Vì những thay đổi
này có thể liên quan đến sai lầm khi lấy mẫu, phải lấy nhiều mẫu RT để chắc
chắn rằng có nhiều tình trạng viêm nhiễm lan tràn ở nơi khác trong ruột thừa.
1.3. Bệnh sinh viêm ruột thừa
Khoảng 50-80% trường hợp VRT là do tắc lòng ống dẫn đến căng chướng,
tăng áp lực trong lòng ống và tổn thương niêm mạc kéo theo sau sự xâm lấn
thành ruột thừa do vi khuẩn trong lòng ruột thừa. Nếu áp lực tiếp tục tăng gây
tắc tónh mạch, hoại thư và thủng. Nguồn gốc tắc lòng ruột thừa bao gồm: sỏi
ruột thừa, tăng sinh bạch huyết, các hạt ăn vào, barium còn sót lại, giun đũa,
u carcinoid ruột thừa hoặc hiếm hơn do nuốt dò vật. Viêm ruột thừa kinh
nguyệt (Catamenial appendicitis) do lạc nội mạc tử cung cũng đã được mô tả
[9]. Ngoài ra trong một số rất ít trường hợp viêm ruột thừa không có nguyên
nhân rõ ràng của tắc lòng ống được ghi nhận sau mổ và khảo sát bệnh học,
nguyên nhân viêm nhiễm vẫn chưa biết được [13].
Khi lòng RT bò tắc gây ứ đọng dòch tiết dẫn tới tăng áp lực trong lòng RT, ứ
trệ tuần hoàn, vi khuẩn phát triển chuyển chất tiết thành mủ. Giai đoạn đầu
9
quá trình này gây viêm, phù nề thành RT và có những nốt loét ở niêm mạc.
Đây là giai đoạn VRT sung huyết. Nếu tiếp tục phát triển, quá trình viêm
càng làm tăng áp lực gây ứ trệ tuần hoàn tónh mạch và thiếu máu nuôi dưỡng.
Vi khuẩn phát triển ra thành RT lúc đó RT viêm có giả mạc chung quanh,
trong lòng chứa mủ. Giai đoạn này là VRT nung mủ. Trong trường hợp mạch
máu RT bò tắc do huyết khối nhiễm trùng bởi vi khuẩn yếm khí dẫn tới hoại
tử RT. Giai đoạn cuối cùng khi RT bò thủng dẫn tới mủ chảy ra ngoài. Nếu
được khu trú bởi tổ chức chung quanh gồm ruột, mạc nối, phúc mạc dính lại
[20], với nguy cơ 8,6% ở nam và 6,7% ở nữ. Tỉ lệ toàn bộ thủng khoảng 26%
và được nghó là phần lớn do bởi biểu hiện đầu tiên chậm, mặc dù trong bệnh
viện viêm ruột thừa được chẩn đoán chậm có thể giữ một vai trò [64]. Khi
ruột thừa thủng, tỉ lệ bệnh và tử vong trong phẫu thuật tăng cao rõ rệt. Tỉ lệ tử
vong tăng từ 0,0002% lên 3% và tỉ lệ bệnh tăng từ 3% lên 47% [20]. Những
con số này nhấn mạnh tầm quan trọng của độ chính xác cao và nhanh chóng
trong chẩn đoán viêm ruột thừa.
11
1.4. Đặc điểm lâm sàng của viêm ruột thừa
Người bệnh bò VRT điển hình có biểu hiện đau bụng lan toả, chán ăn, nôn
ói và tiếp sau đó cơn đau di chuyển về hố chậu phải (HCP) và các dấu hiệu
cơ thể này thay đổi theo thời gian và vò trí của RT. Mặc dù có tính gợi ý, biểu
hiện này chỉ hiện hiện 50% đến 60% ở bệnh nhân có VRT [50]. Triệu chứng
không điển hình có thể là do sự thay đổi vò trí của RT. Hình ảnh lâm sàng tiêu
biểu thường không có ở các trẻ nhỏ ( dưới 5 tuổi ) do chúng không thể cung
cấp đầy đủ bệnh sử, và ở người già, triệu chứng phúc mạc của họ có thể
không rõ ràng. Tỉ lệ cao của thủng RT trong các nhóm này (lần lượt là 45%
và 51% so với 25,8% trong toàn thể dân số) phản ảnh sự khó khăn trong chẩn
đoán lâm sàng. Yếu tố có giá trò nhất của bệnh sử và thăm khám cơ thể bệnh
nhân gần đây đã được xác đònh trong phân tích tổng hợp [59] của các nghiên
cứu trong đó các tác giả báo cáo những triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng hữu
ích trong VRT người lớn. Chẩn đoán VRT có vẻ thích hợp nhất khi có cơn đau
vùng HCP, co cứng và cơn đau lúc đầu quanh rốn lan truyền đến HCP. Không
có cơn đau vùng HCP và sự lan truyền kinh điển của cơn đau làm giảm khả
năng xảy ra viêm ruột thừa. Các tác giả của nghiên cứu này [59] nhấn mạnh
rằng không có một dấu hiệu đơn độc nào có khả năng hữu hiệu giúp loại trừ
VRT. Ba dấu hiệu và triệu chứng dự báo nhiều nhất của VRT là đau ở HCP,
gồng cứng bụng và sự di chuyển cơn đau từ vùng quanh rốn đến HCP [59].
Thời gian kéo dài của cơn đau cũng cho thấy là một dự báo quan trọng vì
bệnh nhân bò VRT có thời gian kéo dài cơn đau ngắn hơn rõ rệt so với các rối
Khoảng 10% bệnh nhân đau bụng đến khoa cấp cứu có bệnh đường tiết
niệu [40]. Mặc dù diễn tiến viêm nhiễm của viêm ruột thừa có thể gây mủ
niệu, tiểu máu hay vi khuẩn niệu trong hơn 40% bệnh nhân [42] việc phân
tích nước tiểu có thể xác đònh hay loại trừ nguyên nhân niệu của đau bụng.
1.6. Giá trò của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
trong chẩn đoán viêm ruột thừa
Chụp CLVT bụng và SÂ có lợi thế riêng biệt rõ ràng hơn đánh giá lâm
sàng đơn thuần trong chẩn đoán VRT. Doria và các cộng sự thực hiện một
phân tích tổng hợp các nghiên cứu đã được công bố giữa năm 1986 và 2004
để đánh giá độ chính xác của CLVT và SÂ. CLVT có độ nhạy và độ chuyên
lần lượt là 94% và 95% ở trẻ em, 94% và 94% ở người lớn. Siêu âm có độ
nhạy và độ chuyên lần lượt là 88% và 94% ở trẻ em, 83% và 93% ở người
lớn. Các nghiên cứu so sánh CLVT và SÂ đã thẳng thắn xác nhận rằng CLVT
nhạy hơn siêu âm. Một số bất lợi khác của siêu âm là thành công phụ thuộc
mạnh vào kiến thức, kỹ năng, sự che lấp của hơi trong ruột, ruột thừa nằm sau
manh tràng và tính kiên nhẫn của bác só siêu âm [19]. Trong một bài viết
14
được công bố trên báo NEJM, Rao và các cộng sự chủ trương dùng ảnh cắt
lớp vi tính thường quy cho tất cả bệnh nhân có tiêu chuẩn nhập viện nghi ngờ
viêm ruột thừa. Nghiên cứu này cho rằng ảnh cắt lớp vi tính thường quy cải
thiện kết cuộc lâm sàng và giảm chi phí nằm viện để theo dõi viêm ruột thừa.
Phẫu thuật viên trước nay đã chấp nhận chẩn đoán dương tính giả VRT trên
20% để giảm đến mức tối thiểu tỉ lệ bệnh kết hợp với chẩn đoán sai. Trong
thực tiển lâm sàng, tỉ lệ chẩn đoán dương tính giả VRT ở phụ nữ đã được báo
cáo trên 42% [6]. Nhiều nghiên cứu cho rằng khi sử dụng thích hợp, ảnh cắt
lớp vi tính trước mổ bao gồm các qui trình kỹ thuật khác nhau giúp cải thiện
kết cuộc ở bệnh nhân có lâm sàng nghi ngờ viêm ruột thừa.
Đặc biệt, hiệu quả lợi ích của hình ảnh CLVT thường quy trên kết cuộc
bệnh nhân được biểu hiện giảm tỉ lệ thủng và cắt RT âm tính [21],[58]. Tỉ lệ
hằng năm dùng CLVT xoắn ốc trước mổ ở bệnh nhân nghi ngờ VRT tăng từ
Việc sử dụng cộng hưởng từ giúp hạn chế thai nhi bò phơi nhiễm tia xạ, tránh
sự phụ thuộc vào người làm siêu âm và dễ dàng chẩn đoán các bệnh khác
16
như là xoắn buồng trứng, áp-xe vùng chậu hay thận chướng nước.
1.6.1. Cắt lớp vi tính của viêm ruột thừa
1.6.1.1. Kỹ thuật cắt lớp vi tính
Có nhiều phương pháp CLVT có giá trò đối với VRT. Hiện nay chụp MSCT
có một vai trò quan trọng trong chẩn đoán VRT và mức độ trầm trọng của nó.
MSCT cũng có khả năng tái tạo toàn bộ hình dáng và vò trí của RT từ các ghi
nhận CLVT liên tục dựa vào các hình ảnh MSCT lát cắt mỏng có độ phân
giải cao. Có nhiều qui trình chụp CLVT khác nhau trong việc dùng thuốc cản
quang đường tónh mạch, đường uống hay đường TT và tùy theo phương pháp
chụp có thể quét toàn bộ vùng bụng chậu hay chỉ quét khu trú vùng bụng
dưới. Dùng các lát cắt mỏng đi qua vùng RT xem như điểm đặc trưng chung.
Phương pháp thường nhất dùng cản quang đường tónh mạch và đường uống
đồng thời quét toàn bộ vùng bụng chậu [34]. Độ chính xác cao của kỹ thuật
này đối với chẩn đoán viêm ruột thừa đã được chứng minh từ lâu (độ nhạy
96%, độ chuyên 89%, độ chính xác 94%). Lợi điểm chính của kỹ thuật này là
khả năng chứng minh chẩn đoán khác hoặc xảy ra cùng lúc. Khả năng này
đặc biệt quan trọng ở bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ bởi vì các
bệnh nhân này có cơ may lớn hơn có những bệnh cảnh khác như là bệnh viêm
nhiễm vùng chậu. Quét toàn thể vùng bụng cho phép dễ dàng phát hiện ruột
thừa ở vò trí bất thường bao gồm vùng bụng trên phải. Kết quả tốt nhất đạt
được khi manh tràng ngấm thuốc cản quang cho phép phát hiện bệnh lý đại
tràng thứ phát. Dùng thuốc cản quang đường uống phải đợi ít nhất 1 giờ sau
17
khi uống mới thực hiện lấy hình cắt lớp vi tính. Sự chậm trễ là bất lợi chủ yếu
của qui trình này.
Một phương pháp khác, chụp khu trú hơn đã được ủng hộ bởi Rao và các
cộng sự bao gồm bơm thuốc cản quang đường TT và chỉ quét vùng bụng dưới
cho thận. Sự phát hiện các bất thường bởi CLVT không tăng quang dễ dàng
hơn khi lượng mỡ trong ổ bụng phong phú. Bệnh nhân gầy như trẻ em và phụ
nữ trẻ có thể đặc biệt khó để khảo sát không có thuốc cản quang tónh mạch.
Lợi điểm của việc sử dụng thuốc cản quang đường tónh mạch cho phép đánh
giá thành ruột thừa tăng quang sau tiêm thuốc cản quang đường tónh mạch,
phân biệt các mạch máu vùng chậu với ruột thừa sau manh tràng và nhận ra
được các bệnh lý khác [16].
Ở Đại Học California, San Francisco, nhiều tác giả và các cộng sự dùng lát
cắt tái tạo có bề dày từ 3 đến 5mm đối với CLVT xoắn ốc và từ 2, 5 đến 5mm
hay mỏng hơn đối với MSCT. Lúc đầu lấy hình bệnh nhân nằm ngửa nhưng
trong trường hợp khó khăn thì lấy thêm hình bệnh nhân nằm nghiêng trái hay
19
phải. Tác giả và các cộng sự chỉ đònh thường quy thuốc cản quang tónh mạch,
uống và đường TT trong qui trình chụp CLVT đối với viêm ruột thừa, nó
mang lại độ chính xác cực tốt đối với viêm ruột thừa và các chẩn đoán khác.
Dùng thuốc cản quang TT rút ngắn sự chậm trễ chẩn đoán bởi vì không cần
thiết chờ đợi thuốc cản quang đường uống xuống tới manh tràng. Thuốc cản
quang trực tràng giúp phát hiện ruột thừa trong những trường hợp khó. Nó cho
phép có được hình ảnh đại tràng tuyệt đẹp có ích vì bệnh lý ruột già có thể
giống viêm ruột thừa [29]. Cản quang trực tràng và Sigma cũng giúp phân
biệt các cơ quan vùng chậu như là buồng trứng với các quai ruột lân cận.
Cản quang trực tràng được ưa thích sử dụng hơn cản quang đường uống do
nhiều lý do. Thứ nhất, thuốc cản quang trực tràng nhanh chóng đi qua đại
tràng và đi đến tận ruột thừa trong vài phút, trái lại thuốc cản quang đường
uống có thể mất 1 đến 2 giờ. Thứ hai, cản quang trực tràng dễ dự đoán thời
gian manh tràng ngấm thuốc cản quang tối ưu. Thứ ba, cản quang trực tràng
được ưa thích cho hơn cản quang đường uống trong trường hợp mổ cấp cứu
đòi hỏi gây mê tổng quát. Cuối cùng, một số bệnh nhân nhận thấy dễ chòu
hơn so với uống một lượng lớn thuốc cản quang.
Trong khi đó thuốc cản quang đường tónh mạch rõ ràng giúp ích phát hiện
mỡ trong ổ bụng, vò trí bất bình thường của manh tràng và RT, giãn ruột non
hay hình thành áp-xe gần kề phần phụ phải ). Trong những trường hợp như
thế, dữ liệu được tái tạo đa mặt cắt (MPR) của MSCT có thể giúp cải thiện
việc phát hiện RT và tăng độ tin cậy trong chẩn đoán VRT. Hơn nữa, việc sử
dụng MPR có thể giúp tăng phát hiện RT bình thường và do đó làm tăng độ
tin cậy trong loại trừ VRT và chẩn đoán được các bệnh giống VRT [28].
1.6.1.2. Ruột thừa bình thường trên cắt lớp vi tính
Tăng quang niêm mạc ruột thừa bình thường thì thường không thấy và thuốc
cản quang đường uống lấp đầy RT bình thường thì thay đổi. Ruột thừa bình
thường được lấp đầy chất cản quang sau bơm thuốc cản quang đường trực
tràng nhiều hơn sau uống thuốc cản quang [19]. Chiều dài RT từ 1 đến 25 cm,
trung bình 8 cm. Đường kính của RT phụ thuộc vào các chất bên trong lòng
với độ dày thành trung bình 1, 5 mm. Vì vậy, chẩn đoán VRT không chỉ dựa
vào kích thước RT mà cũng phải dựa vào hình ảnh các dấu hiệu phụ [56].
Xác đònh độ dày tối đa thành RT trên CLVT rất quan trọng để chẩn đoán
VRT và để loại trừ các nguyên nhân khác của đau bụng cấp. Sỏi RT có thể
hiện diện trong lòng RT ở bệnh nhân không có triệu chứng. Hầu hết RT bình
thường đều nhìn thấy được trên CLVT xoắn ốc và CLVT có thể loại trừ VRT
khi thấy ruột thừa bình thường. Tỉ lệ nhìn được RT thay đổi theo kỹ thuật,
79% với CLVT không tiêm cản quang và đạt 90 % đến 100% khi có sử dụng
22
thuốc cản quang đường uống và hoặc đường TT [63]. Khí là dấu hiệu thường
gặp trong ruột thừa bình thường và có thể thấy trên 50% các trường hợp [25].
Đôi khi ở người có manh tràng di động gây sai lệch vò trí cơ thể học và làm
cho khó thấy ruột thừa. Cũng như ở bệnh nhân có thai, ruột thừa lên cao do tử
cung có thai phát triển lớn. Cơ thể học điển hình trở nên sai lệch và RT trên
CLVT có thể thấy trên lát cắt cao hơn van hồi manh tràng. Sự cản quang tối
ưu manh tràng có thể giúp xác đònh vò trí manh tràng và giảm đến mức tối
thiểu chẩn đoán không chắc chắn. Cấu trúc cơ thể học khác nhất là mạch
máu vùng chậu hay quai ruột non đôi khi có thể gây lầm lẫn với ruột thừa
thừa viêm do sự hiện diện của vi khuẩn tạo khí. Do đó sự hiện diện của thuốc
cản quang hay khí trong ruột thừa không dùng để loại trừ viêm ruột thừa.
Sỏi ruột thừa thấy được trong 20% đến 40% trường hợp viêm ruột thừa và
có thể có nguy cơ lớn dự báo thủng. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây của
244 bệnh nhân với viêm ruột thừa chỉ rằng sự hiện diện sỏi ruột thừa có độ
nhạy chỉ là 50% và độ chuyên 70% đối với thủng [12].
24
Gần đây, ảnh cắt lớp vi tính trở thành phương tiện hình ảnh học được chọn
lựa để chẩn đoán viêm ruột thừa. Độ nhạy và độ chuyên trong khoảng từ 94%
đến 98% dựa trên các dấu hiệu dày thành ruột thừa kèm một số mức độ viêm
nhiễm lân cận [46]. Các tiêu chuẩn ảnh cắt lớp vi tính chính đối với viêm ruột
thừa là thay đổi viêm nhiễm quanh ruột thừa, ruột thừa có đường kính trên
6 mm hay dày thành ruột thừa từ 3 mm trở lên. Tuy nhiên, chúng ta thường
bắt gặp ruột thừa bình thường với đường kính trên 6 mm và thỉnh thoảng bắt
gặp ruột thừa bình thường với thành dày trên 3 mm. Ngược lại, thỉnh thoảng
chúng ta thấy bệnh nhân bò viêm ruột thừa mà không có viêm nhiễm quanh
ruột thừa [38] mặc dù trên lâm sàng nghi ngờ nhiều đến viêm ruột thừa.
Tuy nhiên, không có báo cáo nào dùng dấu hiệu của CLVT để phân biệt
giữa RT bình thường có đường kính trên 6 mm và VRT không có viêm nhiễm
quanh RT. Nếu sự phân biệt CLVT giữa các trường hợp như thế có thể thực
hiện được, CLVT có thể có ích lợi để đánh giá bệnh nhân có biểu hiện triệu
chứng nghi ngờ VRT nhưng có ít mô mỡ trong ổ bụng hoặc bệnh nhân biểu
hiện đau bụng mơ hồ trong khi đó RT có đường kính trên 6 mm. Moteki và
cộng sự [38] dùng tiêu chuẩn mới dựa vào độ sâu tối đa dòch trong lòng RT
lớn hơn 2,6 mm xem như có ích lợi đặc biệt để phân biệt VRT không có viêm
nhiễm quanh RT với ruột thừa bình thường có đường kính lớn hơn 6 mm.
Để đánh giá dòch trong lòng ruột thừa, chúng ta không dùng chiều rộng tối
đa dòch trong lòng ruột thừa nhưng thay vào đó dùng độ sâu tối đa (đường
kính trước- sau) của dòch trong lòng ruột thừa bởi vì độ sâu tối đa gần đúng
25