1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mũi là một bộ phận rất quan trọng của cơ thể con người. Mũi là cơ quan đầu tiên của
đường hô hấp mà không khí phải đi qua để vào phổi và là nơi bắt đầu của quá trình làm
ấm, làm ẩm và lọc sạch không khí, nó cũng là cơ quan khứu giác (ngửi), phát âm và đặc
biệt là chức năng thẩm mỹ, chức năng này ngày càng được coi trọng trong cuộc sống
hiện đại
Nằm ở vị trí chính giữa và nhô ra của mặt, mũi là bộ phận rất dễ bị va chạm khi
có chấn thương. Xương chính mũi nằm ở dưới da và phần cố định nằm ở vị trí cao nhất
của tháp mũi, Các khớp của xương chính mũi với cấu trúc xung quanh khá lỏng lẻo[10].
Tỷ lệ gãy xương chính mũi đúng thứ 3 trong các trường hợp gãy xương sau gãy xương
đòn và xương cổ tay[31].
Chấn thương tháp mũi tuy ít nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nhưng xương
mũi gãy nếu không xử lý kịp thời và đúng đắn sẽ liền nhanh làm biến dạng tháp mũi, để
lại di chứng nặng nề về mặt chức năng và thẩm mỹ khó khắc phục. Chấn thương tháp
mũi nhất là khi phối hợp với các chấn thương khác (chấn thương sọ não, chấn thương
hàm mặt, chấn thương mắt ) phải đặc biệt chú ý vì rất dễ bị bỏ qua[9]; [32].
Nếu được xử trí từ đầu, phần lớn tháp mũi đều được phục hồi ngay sau chấn
thương và các biến chứng như dị dạng mất thẩm mỹ, van mũi hoạt động không tốt và
ngạt mũi có thể không xảy ra[10]
Ngày nay cùng với quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, các hoạt động của con
người ngày càng trở nên phong phú. Các loại phương tiện giao thông với tốc độ cao
ngày càng nhiều, các công trình xây dựng liên tục gia tăng làm cho các chấn thương
nói chung và chấn thương tháp mũi nói riêng ngày càng phong phú và phức tạp.
Chấn thương tháp mũi không chỉ xảy ra đơn thuần mà còn phối hợp các chấn
thương khác. Do vậy việc điều trị chấn thương tháp mũi không chỉ còn là mối quan tâm
riêng của thầy thuốc TMH mà còn cần có sự phối hợp của các chuyên khoa khác như
răng hàm mặt, mắt, sọ não
Việc ưu tiên cứu sống bệnh nhân sau đó phục hồi lại chức năng thẩm mỹ, sinh lý
của mũi đảm bảo hình dáng cho khuôn mặt đồng thời tránh được các biến chứng lâu dài
Chấn thương sọ mặt nói chung và chấn thương tháp mũi nói riêng đã được quan tâm từ
lâu.
Năm 1650 (trước công nguyên) Edwin Smith mô tả biến dạng mặt lần đầu tiên trên một
trang sách bằng giấy cói[33]
Hippocrate (460 – 377 trước công nguyên) mô tả sửa mũi kín lần đầu tiên[33]
Năm 1899 Lang mô tả lần đầu tiên vỡ blow – out[35]
Chiến tranh thế giới thứ I. Gillies (Anh), IVY, Kazaniian (Mỹ); Ollivier, Morestin
(Pháp); Ganzer Lindemann (Đức) đưa ra nhiều cách cố định gãy xương mặt[33].
Năm 1974 Shultz, Devillers; 1978: Covruss; 1979 Harrison, Stranc, Robertson đưa ra
nhiều cách phân loại chấn thương mũi. Chung quy đều dựa vào mức độ, hướng của lực
tấn công, tính chất và các dạng tổn thương mũi[36].
Năm 2004: Kun Hwang, Sun Hye You, Sun Goo Kim đã mô tả các vết gãy xương mũi
trên 503 bệnh nhân kéo dài 6 năm (từ 1998 – 2004)
Năm 2004 Seung Chul Rhee, Yoo Kyung Kim đã mô tả tổn thương vách ngăn mũi trong
chấn thương tháp mũi[38]
Thập kỷ 60 ngành phẫu thuật hàm mặt, TMH, và phẫu thuật đầu cổ tách khỏi ngoại khoa
chung và có xu hương nghiên cứu chấn thương thời bình
Thập kỷ 70 TMH và phẫu thuật đầu cổ có xu hướng nghiên cứu chuyên sâu. Thập kỷ 80
và những năm gần đây nhờ phát triển của phương tiện chẩn đoán bằng hình ảnh CT
Scanner, nội soi và phẫu thuật hiện đại đã giúp chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn.
1.1.2 Ở trong nước
Từ thời kỳ chống Pháp các nhà ngoại khoa sử dụng nhiều phương pháp điều trị chấn
thương phục vụ thương binh
Thập kỷ 60, các chuyên khoa TMH, RHM đã có nhiều công trình nghiên cứu về chấn
thương mũi
Võ Tấn – Ngô Ngọc Liễn, Nguyễn Nguyên Hà, Trần Vân Anh nghiên cứu các đặc điểm
chấn thương mũi xoang, rút kinh nghiệm xử trí
Formatted: Indent: First line: 0", Space
Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
Cấu tạo giải phẫu
4
Hình 1.1. Giải phẫu tháp mũi
Bộ khung chống đõ cho mũi ngoài được cấu tạo bằng xương, sụn và phần mềm.
- Khung xương: 2 xương chính mũi hình chữ nhật nằm 2 bên rễ mũi và hình thành vòm
hố mũi. Ngành lên 2 xương hàm trên đi từ bờ dưới của mũi lên đến gai mũi xương trán
và các mỏ trán của xương hàm trên.
- Sụn: nâng đỡ cho phần dưới của mũi bao gồm:
Sụn tam giác: 2 sụn cánh mũi hình móng ngựa cuốn quanh cửa mũi, sụn
này là cốt của cánh mũi. Đoạn trong 2 sụn cánh mũi hợp lại thành tiểu trụ.
Sụn tứ giác: là một bộ phận của vách ngăn, có tác dụng giữ tháp mũi không
bị bẹp.
Ngoài ra có 2 sụn mũi bên, 2 sụn lá mía và các sụn phụ.
- Phần mềm: Cơ mũi gồm nhiều cơ bám da có tác dụng làm nở hoặc co cửa
mũi: Cơ tháp, cơ mũi ngang, cơ lá, cơ giãn cánh mũi. Da dính vào xương lỏng
lẻo nhưng dính vào sụn chặt.
1.2.1.2 Hốc mũi
Đặc điểm: là một ống dẹt nằm song song với nhau ở giữa mặt cách nhau
bởi vách ngăn. Mỗi hốc mũi có hai lỗ và 4 thành
Cấu tạo giải phẫu:
Formatted: Indent: First line: 0", Space
Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
single
Formatted: Indent: First line: 0", Space
Before: 0 pt, Line spacing: single
5
6
Cuốn trên và khe trên: là một mảnh xương sàng nằm phía trên sau của xương sàng,
đầu và thân tự do. Đuôi gắn vào thành trước xoang bướm. khe trên có lỗ thông xoang
bướm và sàng sau.
Hình 1.3. Giải phẫu thành ngoài hốc mũi
1.2.1.3 Niêm mạc hốc mũi – mạch máu và thần kinh
Niêm mạc: hốc mũi được lót bởi 2 loại biểu mô là biểu mô hô hấp và biểu
mô ngửi. Biểu mô hô hấp là biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển với 3 loại: tế
bào lông, tế bào hình đài chế tiết và tế bào đáy. Từ cuốn giữa trở xuống là
vùng hô hấp, niêm mạc màu hồng nhạt. Vùng khứu ở trên cuốn mũi trên và 1/3
trên vách mũi niêm mạc màu vàng, dày, chứa đựng tế bào khứu. Sợi trục của
các tế nào chui qua lỗ mảnh sàng và tập hợp thành thần kinh khứu giác
Mạch máu: ở mũi có rất nhiều mạch máu. Động mạch bướm khẩu cái, tận
cùng của động mạch hàm trong, chui vào hố mũi bằng lỗ bướm khẩu cái rồi
chia ra làm 2 ngành: Ngành trong cho vách ngăn, ngành ngoài cho vách ngoài
Formatted: Indent: First line: 0", Space
Before: 0 pt, Line spacing: single
7
Hình 1.4. Mạch máu của mũi
Còn động mạch sàng trước và động mạch sàng sau đều xuất phát từ động mạch mắt do
động mạch cảnh trong mà ra tưới máu cho phần trên và trước của mũi. Các động mạch
này giao nhau tại 1 điểm gọi là điểm mạch Kiesselback ở phần trước và dưới vách ngăn.
Nên chú ý đến động mạch mũi khẩu cái đi từ lỗ khẩu cái trước lên điểm mạch
kiesselback vì nó gây ra chảy máu cam.
Các tĩnh mạch chạy kèm theo động mạch và đổ vào tĩnh mạch mắt, tĩnh mạch mặt và
tĩnh mạch chân bướm.
Hệ thống mạch máu mũi có nhiều liên hệ với hệ thông mạch máu nội sọ, vì vậy những
Trong xương hàm có xoang hàm.Trong xương trán có xoang trán, trong xương sàng có
xoang sàng và trong xương bướm có xoang bướm. Các xoang đều được lót 1 lớp niêm
mạc. Niêm mạch này được cấu tạo như niêm mạc mũi nhưng mỏng hơn, mỗi xoang có
lỗ thông với hố mũi. Riêng đối với xoang trán lỗ thông được thay thế bằng một cái ống
hơi ngoằn ngoèo gọi là ống mũi trán. Các xoang được sắp xếp thành hai loại tùy theo vị
trí của nó: loại xoang trước gồm có xoang hàm, trán và xoang sàng trước. Lỗ thông của
các xoang này đổ vào ngách giữa. Nhóm xoang sau gồm có xoang sàng sau và xoang
Formatted: Indent: First line: 0", Space
Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
single
9
bướm đổ vào ngách trên. Tác dụng của các xoang là làm nhẹ bớt khối xương mặt và
động thời có ảnh hưởng đối với tiếng nói do thanh quản phát ra.
Liên hệ với tai: Mũi liên hệ với tai bằng vòi Eutachie. Lỗ vòi này nằm ở
vách ngăn bên của vòm mũi họng, ngay sau đuôi cuốn dưới
Liên hệ với hố mắt: Mũi liên hệ với hố mắt bằng ống mũi lệ. ống này nối
liền khe dưới của mũi với túi lệ của mắt. Ngoài ra xoang sàng chỉ cách ổ mắt
bởi một lớp xương mỏng, nên viêm xoang sàng có thể lan sang ổ mắt.
Liên hệ với sọ: Mũi liên hệ với sọ thông qua xoang sàng, mảnh sàng và xoang
trán. Thành của các xoang này liên hệ trực tiếp với màng não
Mũi còn liên hệ với răng: thông qua xoang hàm, đặc biệt răng nanh và răng
hàm nhỏ, chân của răng này thường lên đến sát đáy xoang và đôi khi chui hẳn
vào xoang hàm.
1.2.3 Chức năng sinh lý của mũi
1.2.3.1 Chức năng thở
Là chức năng chính của mũi. Mũi được coi là cửa ngõ của đường hô hấp. Nhờ các cuốn
mũi làm chậm luồng không khí hít vào mũi, mũi thực hiện chức năng sưởi ấm, làm ẩm
và lọc sạch không khí trước khi vào phổi
Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
single
10
Lưu ý người tham gia giao thông sử dụng rượu, bia, đặc biệt không đội mũ bảo hiểm,
không thắt dây an toàn khi điều khiển phương tiện giao thông là những yếu tố thuận lợi
cho chấn thương.
Tai nạn lao động:
Có thể gặp ngã từ dàn giáo xuống, vận hành máy móc, do xẻ đá, tay quay hay vật cứng
đập vào mặt ở Việt Nam còn gặp tai nạn do trâu bò húc.
Tai nạn sinh hoạt
Tai nạn do ngã cây, ném đá, ở người già đập mặt vào vật cứng, ngã cầu thang, trượt chân
Tai nạn do đánh nhau
Đánh bằng tay, chân, hoặc thanh gỗ, ném gạch đá, vật nhọn (thanh sắt, dao găm)
Tai nạn thể thao:
Đấm bốc, va chạm khi chơi thể thao, nhẩy cầu, đá bóng, quyền anh
Ngoài ra còn có tể gặp chấn thương ở trẻ em mới sinh ra trong quá trình
chuyển dạ đẻ như thủ thuật lấy thai bằng forceps hay những can thiệp thô bạo
khi lấy thai.
1.3.2 Cơ chế chấn thương tháp mũi[6][10]
Xương chính mũi là một xương nhỏ ở sống mũi, nó tạo dáng cho sống mũi có hình nhô
lên thành tháp mũi.
Do đó các chấn thương vào mũi – còn gọi là tai nạn vỡ tháp mũi – thường xuyên và
trước tiên gây thương tích cho xương chính mũi và là nguyên nhân của những vẹo lệch
sống mũi rất đa dạng[6]
Hình thái và mức độ chấn thương gãy xương chính mũi thay đổi theo cường độ, vị
trí, tính chất và hướng của lực tác động[10]
- Nếu hướng chấn thương thẳng góc sẽ làm vỡ xương chính mũi, sống mũi không còn thẳng
nữa mà bị lõm xuống, vách ngăn cũng vỡ theo và chảy máu.
+ Đường gãy vách ngăn mũi thường là đường dọc khi lực làm gãy đi từ trước ra sau và
đường gãy ngang khi lực đi từ phía sau. Vách ngăn mũi bị vặn và trở thành hình chữ C,
chữ S, hoặc chữ Z.
Hình 1.6. Các hình thái chấn thương tháp mũi
1.3.3 Các kiểu tổn thương bệnh lý tháp mũi[7]
Tổn thương tháp mũi thường do các vật tù gây ra cũng như các đường vỡ khác hướng và
tính chất của vật va đập vào tháp mũi có thể giúp ta xác định loại tổn thương. Những
chấn thương ở một phía của tháp mũi cắt chéo so với sống mũi gây nên gãy xương chính
mũi và đẩy lệch tháp mũi về bên đối diện và sống mũi thường bị võng xuống. Nếu lực
tác động theo chiều chính diện với sống mũi và là vật tù thì thường làm gãy vỡ xương
chính mũi và vách ngăn. Tổn thương loại này gây nên sập sống mũi, mũi bị lún xuống.
Với một lực tác động mạnh có thể đè bẹp xương chính mũi và rẽ mũi cũng bị lún vào
trong xoang sàng. Loại chấn thương này gây nên tổn thương phức hợp sàng – mũi, có
thể kèm theo chấn thương xoang trán và nền sọ tương ứng mào sàng. Có 4 kiểu vỡ tháp
mũi:
12
Hình 1.6. Các kiểu vỡ tháp mũi
- Vỡ đầu dưới xương chính mũi một bên, thường do những lực tác động cùng bên tổn
thương (hình 1.6A).
Chấn thương một bên tháp mũi với lực tác động mạnh làm xương chính mũi và cả một
phần vách ngăn gẫy lệch về bên đối diện (Hình 1.6B).
- Lực tác động vuông góc với sống mũi gây gãy vỡ xương chính mũi và sụn tứ giác
(Hình 1.6C)
- Vỡ phức hợp sàng - mũi xảy ra do lực tác động vào chính diện sống mũi với cường độ
lớn. chấn thương lan rộng vào khối sàng và vỡ thành trong ổ mắt (Hình 1.6D)
1.4 . PHÂN LOẠI CHẤN THƯƠNG THÁP MŨI TRÊN CHỤP CLVT[7],[11]
Chụp CT scanner là rất cần thiết để xác định những hiện tượng bệnh lý mà ta không thể
Tư thế chụp coupe axial: Bệnh nhân nằm ngửa, các coupe được đặt song
song với đường ống tai - ổ mắt
Tiêu chuẩn phim chụp đúng:
- Diện cắt đi từ mào huyệt răng, đáy xoang hàm lên đến trần của xoang trán
- Các coupe cắt cách nhau 3 – 4 mm
- Các tiêu chuẩn khác cũng giống coupe coronal
Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
single
Formatted: Indent: First line: 0", Space
Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
single
14
Hình 1.8.
1.4.3 Phân loại
Hai coupe axial và coronal này sẽ cung cấp cho ta những thông tin hữu ích. Coupe axial
sẽ giúp ta đánh giá được vị trí xương chính mũi, xương lệ, thành trong ổ mắt và các
thành của xoang trán.
Coupe coronal giúp ta đánh giá sàn của tầng sọ trước, hố sàng, sàn ổ mắt và hai khối
sàng hai bên. Việc xem xét tỷ mỷ những tổn thương trên phim CT scanner giúp ta phân
loại đường vỡ thành các nhóm khác nhau. Dựa vào vị trí mảnh trán – hàm mà người ta
gọi mảnh xương nằm giữa xương trán – hàm là mảnh trung gian của Markowitz. Mảnh
trung gian này bao gồm 3 xương cùng tham gia để tạo nên trụ đỡ nối giữa xương hàm
và xương trán
Từ trong ra ngoài ba xương đó gồm: xương
chính mũi, ngành lên xương hàm trên và
xương lệ.
- Typ 1: Tổn thương là mảnh trung gian bị di lệch
biến chứng thường xảy ra, nhất là ở trẻ em. Mảnh silastic có thể được sử dụng trong
trường hợp có đọng máu vách ngăn
Chảy máu mũ sẽ tự cầm một thời gian sau. Trong trường hợp chảy máu mũi tái phát,
cân fphải kiểm tra nơi chảy máu và đốt điện để cầm máu, thực hiện nhét bấc mũi trước
hay sau thắt động mạch. Đứt hoặc giập mạch, máu chảy nhiều. Phải hút sạch máu đọng
trong hốc mũi và dùng ống nội soi để tìm nơi chảy máu và đốt điện cầm máu. Chảy
nhiều máu mũi trước có thể do chấn thương hoặc giập một nhánh của động mạch mặt.
Nếu n hét bấc mũi trước, phải lưu ý bấc không len lõi vào được hết mọi nơi, động mạch
bị tổn thương, bị chèn ép, vách ngăn sẽ bị hoại tử.
Nhiễm trùng là biến chứng ít khi gặp. Tuy nhiên sử dụng kháng sinh dự phòng là cần
thiết, nhất là khi có biến chứng chảy máu vách ngăn mũi.
Chảy dịch não tuỷ hiếm gặp. Trong trường hợp gãy kèm với vỡ mảnh sàng hay vỡ thành sau
xoang trán, dịch não tuỷ có thể chảy ra. Tìm chất transferrin trong dịch mũi là phương pháp
tốt để xác định có chảy dịch não tuỷ.
1.5.2. Biến chứng muộn
Sẹo co gây biến chứng muộn. Bệnh nhân bị nghẹt mũi từ từ, tháp mũi bị dị dạng, sống
mũi sụp hình yên ngựa, dính cuốn mũi, thủng vách ngăn… Các triệu chứng này có thể
được phòng ngừa dễ dàng. Phải lưu ý trước, xử trí kịp thời các di chứng. Một khi di
chứng xuất hiện, điều trị gặp khó khăn, dễ tái phát. Theo dõi chấn thương xử trí tránh di
chứng là việc phải làm. Nhận biết này cần thiết cho xử trí gãy xương. Phần lớn gãy
XCM có từ lâu đời và không được xử tí, nhưng nghiên cứu hiện tại có thể giúp xử trí
đúng để tránh di chứng. Trong trường hợp chấn thương mũi và mặt em bé, Theo Grymer
và cộng sự có 3 giai đoạn phát triển mũi: từ 1 đến 6 tuổi, tháp mũi phát triển nhanh; từ 6
đến 11 tuổi phát triển tháp mũi bị chậm lại và từ 12 đến 16 tuooỉ tháp mũi lại phát triển
nhanh. Thời điểm thuận tiện để phẫu thuật XCM là thời điểm từ 6 đến 11 tuổi.
1.6. Triệu chứng và chẩn đoán [7], [6], [10]
1.6.1. Triệu chứng lâm sàng
Có thể gặp chấn thương tháp mũi kín (đơn thuần) và chấn thương tháp mũi phối hợp.
16
trong hốc mũi.
Có thể thấy niêm mạc mũi phù nề - đọng máu trong hốc mũi hoặc máu chảy từ vết rách
hoặc từ trên cao xuống khó xác định vị trí. Phải cẩn thận khi lấy vảy máu khô trong mũi,
nếu không bệnh nhân sẽ bị chảy máu mũi tái phát có khi máu chảy nhiều và khó cầm.
- Có thể vùng vách ngăn mũi bị lệch sang 1 bên, hoặc là vùng van có thể bị sập xuống.
- Kiểm tra kỹ xem niêm mạc mũi có bị tổn thương, bị rách, bị chọc thủng không, những
trường hợp vết thương hở sát xương có thể có dị vật, mảnh xương vụn…
* Sờ:
Với những trường hợp hốc mũi bị phù nề có thể che giấu ổ gãy xương bên dưới. Do vậy
việc thăm khám này có thể chậm lại vài ngày để tìm dấu hiệu lạo xạo nơi xương bị gãy.
Biết được nơi vùng xương bị lõm vào, bị đổi vị trí để xử trí đúng mực. Cần thăm khám
17
kỹ bằng cách c ho 1 dụng cụ vào hốc mũi phối hợp với ngón tay nắn bên ngoài, ta có
thể biết được nơi xương bị gãy kiểm tra thật cẩn thận vùng XCM, nhiều khi có thể phát
hiện được trật khớp XCM, sụn cánh mũi, sụn tứ giác, các phần này dễ bị tổn thương.
Chóp mũi phải được nắn tìm xem có còn di động hay không và để ý chấn thương gãy
các phần ở dưới mà không hay biết. Nắn với hai ngón tay, ép gai mũi trước để biết tình
trạng của xương gãy. Mọi di lệch khác hoặc xương bị gập góc là dấu hiệu của gãy
xương.
- Ngoài ra sờ có thể thấy dấu hiệu tràn khí dưới da.
1.6.1.2. Chấn thương tháp mũi phối hợp [7]
- Thông thường vỡ xương chính mũi thường có dấu hiệu tụ máu. Hiện tượng tụ máu và
phù nề ở góc trong của khoé mắt lan rộng ra thường ẩn giấu bên dưới 1 ổ vỡ sàng - mũi
kèm theo cả vỡ xoang trán hoặc là đường vỡ lefort. Cần phải đánh giá vị trí bám vào
xương lệ của dây chằng trong của khoé mắt có bị tổn thương hay không, nếu có thì
thường biểu hiện mi dưới bị kéo xuống dưới.
Lưu ý khoảng cách giữa 2 đầu trong của khoé mắt, thông thường khoảng cách này bằng
chiều dài của con mắt.
Nếu khoảng cách này bị giãn rộng ra và lún xuống thì phải nghĩ đến vỡ phức hợp sàng
nhị diện tạo bởi xương chính mũi và vách ngăn. (hình 1.10A) nâng và đưa bay về phía
ngoài tháp mũi để kiểm tra xem xương chính mũi đã trở lại vị trí ban đầu chưa. Cần lưu
ý trong thì này chỉ được nâng cái bay về phía trước mà không được đưa sâu vào trần mũi,
nhất là khi cái bay lên đến tận ngang tầm dâychằng khoé mắt trong ví có thể gây tổn thương
nền sọ. Sau khi đẩy thẳng về phía trước, ta đẩy xương chính mũi sang bên đối diện hướng
đi lệch, đồng thời ngón cái trái của người thấy thuốc kiểm tra sự trở về cũ xương chính mũi
dọc theo xương chính mũi bên đối diện và đẩy cùng hướng phối hợp với cái bay ở bên
trong để đưa tháp mũi về vị trí đường giữa. (hình 1.10B).
Hình 1.10. Các bước xử trí vỡ tháp mũi
Sau đó kiểm tra bằng cách sờ tháp mũi xem cả hai xương chính mũi đã về vị trí ban đầu
chưa? có thể nắn điều chỉnh lại nếu chưa về đúng vị trí.
Sau đó cần đặt nẹp bột bọc bên ngoài tháp mũi để giúp cho việc đỡ tháp mũi được vững
chắc hơn. Có thể đặt mèche vào hốc mũi, tập trung chủ yếu vào góc nhị diện tạo bởi
vách ngắn và xương chính mũi. Việc đặt mèche này còn tránh được sự sập xuống của
niêm mạc mũi ở vùng này. Nép bột này được giữ trong vòng 1 tuần.
Trong trường hợp xương chính mũi bị tác động trực tiếp lún xuống và bè ra sang hai
bên, kèm theo gãy vỡ vách ngăn thì việc phục hồi lại cấu trúc giải phẫu vách ngăn khó
khăn hơn nhiều.
19
Trong trường hợp này ta phải gây mê toàn thân và ngay trước khi phẫu thuật
phải tiên hành gây tê vùng, gây tê tại chỗ giống như kỹ thuật vừa mô tả ở trên.
Sau khi rút mèche đặt hốc mũi, ta dùng forceps Asch hoặc Walscham đặt vào trong hốc
mũi. Một mỏ của forcép mở bên ngoài tựa vào sống mũi, kẹp chặt forceps nắn chỉnh lại
sống mũi. Trước hết là đẩy về phía trước để nâng xương sống mũi lên (hình 1.10C), sau
đó ta đặt 2 mỏ của forceps, mỗi mỏ vào một bên hốc mũi kẹp lấy vách ngăn. Vừa nắn
chỉnh lại sự di lệch của sụn vách ngăn, vừa đẩy ra phía trước. Ngón trỏ và ngón cái của
thầy thuốc đặt bên ngoài kiểm tra sự di lệch của tháp mũi. (hình 1.10D). Cần lưu ý rằng,
nếu trong thì đấu ta không nắn chỉnh được xương chính mũi về đúng vị trí thì kết quả
đúp hai bên đườnh gãy.Việc sử dụng các nẹp kim loại ở vùng này cần tránh vì nó sẽ gồ
lên ngay dưới da và gây hoại tử.Tuy nhiên trong một số trường hợp thật cần thiết mà các
trụ chống đỡ không có thì ta buộc phải đặt nẹp cầu từ xương trán tới xoang hàm(ngành
lên) để cố định xương vỡ.
Việc khâu phần mềm phải được tiến hành hết sức cẩn thận bắt đầu từ lớp cơ phủ lên
xương chính mũi .Lưu ý khi đóng các cơ phải đảm bảo độ căng của cơ ở mức độ cần
thiết để tránh sự nhăn và trùng lớp da ở bên trên sau mổ.
1.7.3.Vỡ phức hợp sàng_mũi
Những trương hợp vỡ phức hợp sàng mũi thì bệnh nhân cần phải được gây mê toàn thân
.Thông thường người ta hay sử dụng đường rạch của Unterberger hay còn gọi là đường
rạch kiểu coupe cắt coronal kết hợp với đường rạch qua cùng đồ kết mạc để bộc lộ ổ gãy
Nếu chúng ta sử dụng đường rạch của Unterberger thì cần lưu ý đường rạch và bóc tách
tổ chức phần mềm từ trên xuống dưới, những không được làm tổn thương màng xương.
Chính đến khi bóc tách đến phần trên của ổ mắt thì ta mới rạch màng xương đến bờ trên
ổ mắt, rễ mũi.
Cần lưu ý tới vị trí bám của dây chằng khép mắt trong vào xương lệ cần phải được tôn
trọng để tránh dị dạng giả lồi mắt sau phẫu thuật. trong lúc phẫu thuật cần xác định được
dây chằng này để tránh làm tổn thương.
Trong trường hợp dây chằng này bị đứt sau thì phục hồi chỉnh hình lại phần xương bị vỡ, ta
cần phải khâu lại dây chằng này. Đây chính là chìa khoá của kỹ thuật phuc hồi thẩm mỹ
khoé mắt trong. Màng xương bao phủ lên xương chính mũi cũng được bóc ra và đẩy xuống
21
dưới. Thì bộc lộ tháp mũi phần xương, cần phải mở rộng rãi để đanhs giá được đầy đủ
toàn bộ đường vỡ.
Việc phục hồi lại phần xương gãy được bắt đầu từ hai ngành lên của xương hàm trên
trước rồi đến hai xương trán. Chỉnh hình đường vỡ của xoang trán nếu có. Trước tiên là
xác định, sau đó nắn chỉnh và cố định các mốc giải phẫu của thành trước xoang trán, sau
đó đến việc chỉnh hình thành trong của ổ mắt, sống mũi bằng cách khâu chỉ thép hoặc
buộc bằng chỉ buộc hoặc bằng các nép nhỏ bắt vít nếu cần thiết. Nếu xoang sàng bị tổn
bắt nẹp vít: giữa khớp mũi trán ta đặt nẹp vít chữ Y lộn ngược vuông góc qua chính giữa
đường gãy.
Đối với đường gãy đứt rời ngành lên xương hàm trên ta đặt 2 nẹp vít.
21.7.3.2. Loại gãy typ II
là Là loại gãy làm nhiều mảnh, ta phải bổ sung thêm 2 nẹp vít đặt haibên xương chính
mũi để cố định phần xương bám của dây chằng khoé mắt trong. Tác dụng của nẹp vít
này là cố định phần xương bám của dây chằng khoé mắt trong đã bị vỡ rời ra được cố
định chắc cả vaà xương trán và ngành lên xương hàm trên. Nếu việc cố dịnh 2 mảnh
xương bám của dây chằng khoé mắt trong với nhau bằng chỉ thép xuyên qua phía dưới
xương chính mũi để cố định đúng, chắc chắn phần xương này (hình 1.11B).
21.7.3.3. Tổn thương typ III
Là loại vỡ vụn thành nhiều mảnh buộc phải sử dụng kỹ thuật ghép xương để tạo hình lại
sống mũi và cả thành trong ổ mắt nếu phần xương này bị mất.
Nếu chỉ cần tạp hình sống mũi, thành trong ổ mắt còn lành lặn thì kỹ thuật lấy xương
mào chậu là đơn giản hơn cả. Trong trường hợp vỡ lan rộng sang hai bên đến thành
trong ổ mắt thì mảnh ghép xương phải lấy từ xương đỉnh để có độ rộng cần thiết. Tất
nhiên kỹ thuật ghép xương này chỉ thực hiện khi đã lấy sạch máu tụ, những mảnh xương
giập nát trong xoang sàng.
Mảnh xương này sẽ là chỗ tựa để ta khâu cố định dây chằng khoé mắt trong cả hai bên
(hình 6.41.11C).
Mảnh xương ghép sẽ được cố định vào phần xương xung quanh bằng chỉ thép hoặc nẹp
vít để tránh hiện tượng di lệch của mảnh ghép.
Trong trường hợp phần xương bị vỡ vụn thì chỉ tập trung vào 2 xương chính mũi, còn phần
ngành lên xương hàm trên áp sát 2 xương chính mũi vẫn còn nguyên vẹn. Ta có thể sửa
mảnh ghép sao cho vừa khít với phần xương bị mất.
Những trường hợp vỡ phức hợp sàng mũi kèm theo tổn thương đường lệ (rách hoặc đứt
đường lệ), sau đó khâu phủ các phần mềm lên trên. Trong trường hợp đứt đoạn ống lệ
dài có thể phải đặt ống dẫn lưu vào khe giữa hoặc phẫu thuật này phải tiến hành vào thì
2 với kỹ thuật nội soi mở thông ống lệ vào khe giữa.
Formatted: Font: Times New Roman Bold,
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân chia 2 nhóm
2.1.1. Nhóm hồi cứu:
Thời gian từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2008
* Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh án:
Tất cả bệnh án được chẩn đoán GXCM
- Phần hành chính: ghi đầy đủ
+ Họ tên, tuổi, giới, nghề nghiệp.
+ Thời gian nhập viện.
- Phần bệnh sử: tìm hiểu được:
+ Thời gian bị chấn thương.
+ Nguyên nhân chấn thương.
+ Tình trạng sau chấn thương đến khi vào viện.
+ Các phương pháp xử trí trước đó.
- Phần khám bệnh: ghi đầy đủ
+ Triệu chứng toàn thân
+ Triệu chứng tai mũi họng đặc biệt triệu chứng tai mũi.
+ Các cơ quan khác: mắt, RHM, thần kinh…
- Cận lâm sàng:
+ Nội soi
+ Xquang: mũi nghiêng, Blondeau, Hirtz
+ Chụp: CLVT (phải chó phim chụp)
- Điều trị: Nội khoa, ngoại khoa, nếu điều trị ngoại khoa có biên bản ghi cách thức phẫu
thuật.
- Theo dõi: có ghi nhận xét khi xuất viện
- Từ những bệnh án trên chúng tôi, thu thập số liệu, phân tích kết quả thu được bằng
phương pháp thống kê, so sánh với các tác giả trong và ngoài nước, rút ra các nhận xét,
kết luận về vấn đề nghiên cứu từ đó nêu ra đề xuất.
Formatted: Indent: Left: 0.5", First line: 0",
Space Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
single
Formatted: Font: Italic
Formatted: 4, Left, Indent: First line: 0",
Space Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
single
Formatted: Indent: Left: 0.5", First line: 0",
Space Before: 0 pt, Line spacing: single
25
- Triệu chứng: thống kê đầy đủ các triệu chứng về:
+ Toàn thân
+ Tai mũi họng.
+ Các cơ quan lân cận: mắt, RHM, thần kinh
+ Triệu chứng nội soi TMH.
+ Triệu chứng Xquang:
Phim mũi nghiêng
Blondeau
Hirtz
CLVT (nếu có)
- Điều trị:
+ Đối với những trường hợp gẫy xương chính mũi đơn thuần, chúng tôi có thể tiến hành
nâng xương chính mũi, có thể có phim chụp CLVT, nếu như phù nề nhiều, phải điều trị
nội khoa, đánh giá lại tình trạng tổn thương tháp mũi 1 cách chính xác sau đó tiến hành
nắn xương chính mũi theo phác đồ điều trị chấn thương tháp mũi kín.
- Đối ovứi những trường hợp chấn thương tháp mũi phối hợp yêu cầu bắt buộc phải có
phim chụp CT Scaner. Tuỳ theo tình trạng bệnh lý mà áp dụng phương pháp điều trị