1001 câu hỏi đáp về lịch sử Việt Nam
1. Ba vua trong câu ca dao "Một nhà sinh đặng ba vua/Vua còn, vua mất, vua
thua chạy dài" là những vua nào?
Trả lời: Đó là Đồng Khánh (vua còn); Kiến Phúc (vua mất) và Hàm Nghi (vua thua
chạy dài)
Câu ca dao này nói về gia đình Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai - Hoàng tử thứ
26 của vua Thiệu Trị. Ông có 3 người con làm vua:
- Vua Kiến Phúc: tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con thứ ba của Kiên Thái Vương và
bà Bùi Thị Thanh. Vua Tự Đức vì lúc bé bị bệnh đậu mùa, không có con nên đã nhận Ưng
Đăng làm con nuôi. Sau này, Ưng Đăng lên ngôi, là vị vua thứ 7 của triều Nguyễn.
- Vua Hàm Nghi: tên huý là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, còn có tên là Nguyễn Phúc Minh, con
thứ 5 của Kiên Thái Vương và bà Phan Thị Nhàn. Là vua thứ 8 triều Nguyễn.
- Vua Đồng Khánh: tên huý là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, con trưởng của Kiên Thái Vương
Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, đồng thời là con nuôi của vua Tự Đức. Là vị
vua thứ 9 của triều Nguyễn.
Trong 3 vua này thì vua Kiến Phúc chỉ làm vua được 8 tháng. Vua mất lúc mới 16 tuổi,
chưa nạp phi, không có con cái. Vua Hàm Nghi chống lại quân Pháp, ban hịch Cần Vương,
tổ chức kháng chiến nhưng thất bại. Vua phải chạy lên vùng núi Quảng Bình, Hà Tĩnh. Sau
bị Pháp bắt đầy đi Algérie năm 1888. Vua Đồng Khánh lên ngôi năm 1885. Vua rất được
lòng người Pháp nhưng chỉ ở ngôi được hơn 3 năm, mất ngày 28 tháng 1 năm 1889. Khi đó
ông 25 tuổi.
Câu ca dao này ra đời khi vua Đồng Khánh vừa lên ngôi. Vua Kiến phúc đã mất. Vua Hàm
Nghi đang cùng quân Cần Vương chạy lên vùng núi. Do đó mới gọi là "vua còn, vua mất,
vua thua chạy dài".
2. Vì sao nhà Nguyễn kiêng tên Hoa?
Trả lời: Vì mẹ vua Thiệu Trị tên là Hồ Thị Hoa
Từ đầu triều Nguyễn, tất cả các danh từ có từ “hoa” đều phải đổi. Vì thế mà chợ Đông Hoa
thành chợ Đông Ba, tỉnh Thanh Hoa thành tỉnh Thanh Hoá, cầu Hoa bắc qua rạch Thị
Nghè đổi thành cầu Bông, điệu hát “hoa tình” thành “huê tình”, “hoa lợi” thành “huê lợi”,
“hoa viên” thành “huê viên”,… Vì sao có chuyện kiêng cữ và chuyển đổi ấy?
Chuyện kể rằng: Năm 1806, Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm đến tuổi lập phủ thiếp. Vua Gia
Sêcuturê, Tổng thống Ghi Nê sang thăm Việt Nam theo lời mời với tư cách là khách của
Hồ Chủ Tịch.
Trong buổi mít tinh tiễn đưa tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, Sêcuturê hết lời ca ngợi và
khâm phục Hồ Chủ Tịch. Ông phát biểu đại ý: Vợ tôi sắp sinh, nếu sinh con trai, tôi sẽ đặt
tên con là Hồ Chí Minh.
Sêcuturê quả thật rất chân thành và rất cảm phục Hồ Chí Minh nhưng ông ta chưa hiểu câu
"nhập gia vấn huý" của phong tục nước ta. Liền đó Hồ Chủ Tịch trả lời lại rất khôn khéo,
tài tình: "Bác không có vợ nên không có con, vậy Bác đề nghị các cháu thanh niên, nếu sắp
tới, cháu nào có con trai thì đặt tên cháu là Sêcuturê!"
Mọi người dự lễ đều vui cười thoải mái, phục tài đối đáp của Bác, vừa được lòng khách
nước ngoài, vừa phù hợp với phong tục nước ta trong hoàn cảnh đó.
(Theo 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam)
5. Chồng bà Trưng Trắc tên là Thi hay Thi Sách?
Trả lời: Chồng bà Trưng Trắc tên Thi.
Sách Thủy kinh chú viết "…Châu Diên lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc tướng nữ
tử danh Trưng Trắc vi thê" (nghĩa là: Con trai của lạc tướng Châu Diên tên là Thi hỏi
[sách] con gái lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ). Từ "sách" trong câu trên vốn
có nghĩa là "hỏi". Do nhầm lẫn, người đời sau đã ghép từ "sách" đó với từ Thi thành tên
Thi Sách.
Các bạn có thể tìm hiểu thêm về vấn đề này tại đây.
6. Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên vào thời gian nào?
Trả lời: Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ
chống thực dân Pháp (23/11/1940).
Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí
Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, hy sinh ngày 28/8/1941). Tâm huyết
của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ Tổ quốc được khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông:
"Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi, da của giống nòi
ba: Cách giải thích này có liên quan đến “tứ bất lập” dưới thời chúa Nguyễn Ánh. Sau khi
lên ngôi năm 1802, Nguyễn Ánh ban ra nhiều chính sách mà trong đó có “tứ bất lập” (bốn
điều không) : không đặt ngôi hoàng hậu và đông cung thái tử, không tể tướng, không trạng
nguyên và không phong vương cho người ngoài họ. Trong những điều không ấy, sở dĩ
Nguyễn Ánh không phong hoàng hậu và đông cung là vì ông muốn dành trọn vẹn hai vị trí
đó cho hai người mà ông yêu thương nhất, người vợ cả Tống Thị Lan và con trai cả
Nguyễn Phúc Cảnh. Ngược dòng lịch sử, ta biết bà Tống Thị Lan là người vợ đã một lòng
một dạ, cùng chia sẻ và đồng cam cộng khổ cùng Nguyễn Ánh khi ông thất thế, lúc còn
phải trốn chạy nhà Tây Sơn. Còn Nguyễn Phúc Cảnh, khi mới 4 tuổi đã phải theo Bá Đa
Lộc sang Pháp cầu viện giúp cha. Nguyễn Phúc Cảnh lúc đó không khác gì vật “thí thân”,
ra đi mà chẳng biết có ngày trở về hay không. Về sau, hoàng tử Cảnh cũng đoản mệnh, mất
vì bệnh đậu mùa. Nguyễn Ánh là người trọng tình, trọng nghĩa, ông muốn dành vị trí cao
nhất cho hai người mà ông hết mực yêu thương này. Vì thế về sau, với ông không có gì là
“thứ nhất” cả, dù có toàn vẹn thế nào thì cũng chỉ là “thứ hai” mà thôi, và ông muốn thực
hiện điều ấy bằng những chính sách của mình. Phải chăng cách nói “anh hai / chị hai” bắt
nguồn từ đây? (Nguồn: Internet)
8. Có ai biết "Ngũ Quảng" không?
Hỏi: Có ai biết "Ngũ Quảng" không? Kể tên từng "Quảng " từ trong ra ngoài
Trả lời: Ngũ Quảng gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế), Quảng Nam,
Quảng Ngãi. "Ngũ Quảng" chỉ đất miền Trung Quảng Bình là Quảng ngoài cùng tính vô.
Quảng Bình đất rộng, người thưa Cái tên tỉnh, từ xa xưa có rồi: Khi mà đất nước phân đôi
Đằng trong chúa Nguyễn, đằng ngoài vua Lê Quảng Bình có Động Phong Nha và đất
"Hai huyện" bao la lúa vàng Tiếp vào: Quảng Trị hiên ngang Cồn tiên, Dốc Miếu, rồi sang
Đông Hà Dòng sông Bến Hải ruột rà Một thời chia cắt xót xa một thời Vĩ tuyến mười
bảy ngăn đôi Nhưng không ngăn được tình người, nước non. Nghĩa trang Liệt sĩ Trường
Sơn Di tích lịch sử mãi còn ghi công Biết bao xương máu anh hùng Đã để lại đã nằm cùng
chốn đây Vào nữa là "Quảng Đức" này Cái tên đã đổi từ ngày Gia Long Sau thành tên
tỉnh Thừa Thiên Một vùng đất đã ghi tên sử dài Cố đô nước Việt một thời Vàng son chìm
nổi một thời Cố đô Về đây nhớ món bún bò món cơm hến Huế ngọt lừ bờ môi Kể ra
được ba "Quảng" rồi Chỉ con 2 "Quảng" nữa thôi là về Đi vào đèo dốc quanh co Hải Vân
lòng giúp đỡ. Lại giao kết với vua Ai Lao là Sạ Đẩu để nhờ quân và lương, mưu việc tiến
lấy lại nước”. Vì sao Lê Trang Tông được dân gian ưu ái cho mỹ danh nghèo nàn Chúa
Chổm? Chuyện này bắt nguồn từ giai thoại dân gian: Hồi nhỏ vua Lê Trang Tông có tên
tục là Chổm, mẹ là cô bán rượu xinh đẹp người làng Kim Lũ ven sông Tô Lịch. Bố cô
trước là một viên quan nhỏ của nhà Lê trước cảnh vua Lê Chiêu Tông chưa có con nối
nghiệp, muốn con gái mình đổi đời liền bày cho cô đem rượu ra bán bên cạnh nhà tù giam
vua Lê Chiêu Tông, chuốc rượu cho lính canh say mèm rồi được dịp lẻn vào tình tự với
vua. Sau cô bán rượu có thai, vua Chiêu Tông liền giao cho cô chiếc ấn ngọc và bảo cô
trốn đi, nếu đẻ con trai thì gặp dịp khôi phục lại nhà Lê. Chiêu Tông sau đó chết trong tay
nhà Mạc. Cô gái bán rượu sinh ra được bé trai, đặt tên là Chổm. Nhà nghèo chàng Chổm
phải đi làm thuê nuôi mẹ. Nhiều lần Chổm bán củi la cà ăn uống nơi các hàng quán ở cửa ô
Thăng Long, lạ nỗi Chổm ăn mở hàng ở hàng nào thì hôm đó quán ấy bán đắt như tôm
tươi. Một đồn mười, mười đồn trăm, các chủ quán nghĩ Chổm tốt vía nên thi nhau mời
Chổm ăn mở hàng và sẵn lòng cho ăn chịu. Được thể, Chổm tiêu pha, ăn uống bạt mạng,
nợ nần khắp nơi, người nào đòi thì Chổm bảo “Chờ lúc làm nên tôi sẽ trả”. Nhưng ai biết
lúc nào Chổm làm nên. Bẵng đi thời gian sau Chổm (Lê Trang Tông) được làm vua, từ Ai
Lao trở lại Thăng Long, khi kiệu vua đến cửa ô, các chủ hàng nhận ra đó là anh Chổm nợ
vung nợ vãi ngày xưa nên thi nhau chào đón đòi nợ. Nợ nhiều, Chổm vẫn quen cái tính
vung tay quá trán nên ai đòi cũng trả. Vua sai quân lính lấy tiền trả, nhưng chủ nợ thật nợ
dỏm lẫn lộn nhiều quá mà vua thì không nhớ mình đã nợ ai, quan quân cứ thế vung tay trả
tiền mãi không thôi, mệt quá đành vung tiền ném cho đám chủ nợ nhặt. Nhưng chủ nợ
càng ngày càng đông như nêm cối. Đến cửa Đại Hưng một viên tướng bèn hạ lệnh “cấm
chỉ” không ai được phép đòi nợ vua nữa. Tên ngã Tư Cấm Chỉ (ở cạnh Hàng Bông thuộc
phố Tống Duy Tân, Hà Nội nay) cũng từ đó mà ra đời. Còn thành ngữ “Nợ như chúa
Chổm” thì ăn liền với vua Lê Trang Tông. (Nguồn: Trần Đình Ba - Cử nhân khoa học
chuyên ngành Lịch sử).
12. Tính đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam có bao nhiêu người được phong
quân hàm Đại tướng?
Trả lời: Tính đến tháng 7/2007, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có 12 vị được phong
quân hàm Đại tướng.
Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương
Đảng. Trong cuộc họp này, Thường vụ quyết định một số chủ trương đối nội và đối ngoại
trong tình hình mới, về việc sớm công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời. Theo
đề nghị của Hồ Chủ tịch, Thường vụ nhất trí mở rộng hơn nữa thành phần Chính phủ lâm
thời, chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt
nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính
thể dân chủ cộng hòa. Ngày 30/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến
trao đổi, góp ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập do Người soạn thảo. Ngày 31/8/1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào dự thảo Tuyên ngôn độc lập. Ngày
2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinh trước
hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, tại vườn hoa Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa.
16. Bạn hãy cho biết ý nghĩa của quốc hiệu văn Lang! Trả lời: Hiện tại, ít nhất có
ba cách giải thích khác nhau về ý nghĩa của quốc hiệu Văn Lang. Cách giải thích thuyết
phục nhất: Văn Lang là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông.
Khoảng thế kỉ VII TCN, các vua Hùng đã dựng nên nhà nước đầu tiên trên lãnh thổ nước
ta. Đó là nhà nước Văn Lang. Quốc hiệu Văn Lang có ý nghĩa như thế nào? Đó là câu hỏi
mà mỗi người con đất Việt muốn tìm hiểu khi nhìn lại cội nguồn dân tộc. Hiện tại, ít nhất
có ba cách giải thích khác nhau về ý nghĩa của quốc hiệu Văn Lang: Cách thứ nhất cho
rằng: Vì tổ tiên ta có tục xăm mình nên khi lập quốc mới nhân đó mà đặt quốc hiệu là Văn
Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích này nằm ngay trong tính phổ biến của tục xăm
mình từng tồn tại trước và cả sau thời Hùng Vương hàng ngàn năm. Sách Đới Kí của
Trung Quốc gọi nước ta thời Hùng Vương là "Điêu Đề” cũng không ngoài ý nghĩa này
(Điêu nghĩa là chạm, xăm; đề là cái trán. Điêu Đề là xăm hình vào trán. Thực ra lúc bấy
giờ, dân ta không chỉ xăm hình vào trán). Cách thứ hai cho rằng: Vì tổ tiên ta có tục
nhuộm răng và ăn trầu nên mới có tên nước là Văn lang. Những người chủ trương theo
cách này giải thích: hai chữ "tân lang" (nghĩa là cây cau) nói trại ra thành Văn Lang. Cơ sở
thực tiễn của cách giải thích thứ hai này chính là tính phổ biến và sự trường tồn của tục
nhuộm răng và ăn trầu. Tuy nhiên, "tân lang" là từ gốc Hán mà từ gốc Hán chỉ mới xuất
hiện ở nước ta bắt đầu từ thời Bắc thuộc, tức là sau sự khai sinh của Văn Lang rất nhiều thế
năm 1975? Trả lời: Bùi Quang Thận Bùi Quang Thận (1948-) là người lính Giải phóng
quân miền Nam đã cắm lá cờ chiến thắng đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam Việt Nam trên nóc dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Bùi Quang Thận đi trên chiếc xe tăng 843 tiến vào dinh Độc Lập. Xe của ông bị kẹt tại
cổng phụ. Ông mang cờ xuống xe, chạy bộ vào dinh. Cùng với chính trị viên đại đội Vũ
Đăng Toàn trên xe tăng 390, hai ông là những người lính Giải phóng quân đầu tiên vào
dinh Độc Lập. Khi xông vào dinh, do không nhìn thấy cửa kính trong suốt, ông đã lao đầu
vào cửa và ngã bật ra phía sau. Vào trong dinh, Bùi Quang Thận đề nghị Vũ Đăng Toàn ở
lại “canh chừng” các thành viên nội các Việt Nam Cộng hòa và chờ cấp chỉ huy đến, còn
ông thực hiện cho được nhiệm vụ của mình là cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập. Đại tá
Chiêm, chỉ huy trưởng lực lượng phòng vệ phủ Tổng thống được lệnh dẫn Bùi Quang Thận
cùng hai người đi theo hỗ trợ là Nguyễn Hữu Thái - cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài
Gòn và nhà báo Huỳnh Văn Tòng. Khi đại tá Chiêm dẫn vào thang máy để lên chỗ cắm cờ,
ông đã không chịu vào thang máy do đây là lần đầu tiên được biết đến loại thiết bị này.
Ông kể lại: "Lúc đó tôi thấy thang máy giống như cái hòm. Vào đó nó nhốt mình luôn,
biết bao giờ mới ra được!". Sau khi nghe đại tá giải thích, ông đã cảnh giác yêu cầu đại tá
vào trước để mình vào sau rồi lên cắm cờ. Bùi Quang Thận đã kéo lá cờ xanh đỏ sao
vàng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, trên lá cờ ông đã viết và
ký tên: "11g30 ngày 30-4. Thận". Sự kiện cắm cờ này được viết trong tác phẩm "Người
cắm cờ trên Dinh Độc Lập" của Trần Đăng Khoa, in trong tập "Người thường gặp".
20. Ai là người kéo cờ trong lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945? Trả lời:
[COLOR="DarkSlateGray"]Đó là bà Đàm Thị Loan - đội viên đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân và bà Lê Thi - nữ sinh Trường Đồng Khánh, Hà Nội.[/COLOR] Bà Đàm
Thị Loan sinh năm 1926 tại Áng Giàng, Bình Long, Hoà An, Cao Bằng. Năm 1940, bà
tham gia hội Việt Minh của xã, lấy bí danh là Thanh Xuân. Năm 1942, bà đi hoạt động
cách mạng và là một trong số 34 đội viên đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có
mặt trong lễ tuyên thệ ngày 22/12/1944. Sau này, bà trở thành phu nhân của Đại tướng
Hoàng Văn Thái. Bà Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, là con gái thứ tư của cố giáo sư
Dương Quảng Hàm. Sau cách mạng tháng Tám, từ năm 1947 đến 1950, bà được tổ chức
điều về hoạt động bí mật trong nội thành Hà Nội, âm thầm vận động bà con ủng hộ kháng
thơ văn, lịch sử Từ đó, báo không chỉ làm một tờ công báo đơn thuần nữa. Gia Định báo
cũng có góp phần cổ động việc học chữ Quốc ngữ và lối học mới, mở đường cho các thể
loại văn xuôi Việt Nam in bằng chữ Quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí
Việt Nam.[/COLOR]
23. Chùa Diên Hựu là tên gọi khác của ngôi chùa nào? Trả lời: Chùa Một Cột
Chùa Một Cột có tên chữ là Diên Hựu (phúc lành dài lâu) được xây dựng vào năm 1049
thời vua Lý Thái Tông. Tương truyền khi ấy vua Lý Thái Tông đã cao tuổi mà chưa có con
trai nên nhà vua thường đến các chùa để cầu tự. Một đêm ông chiêm bao thấy Đức Phật
Quan Âm hiện lên đài hoa sen ở một hồ nước hình vuông phía tây thành Thăng Long, tay
bế đứa con trai trao cho nhà vua. Ít lâu sau hoàng hậu sinh con trai. Nhà vua cho dựng chùa
Một Cột có dáng dấp như đã thấy trong giấc mơ để thờ Phật Quan Âm.
24. Ai là Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam dự Hội nghị Genève (về Đông
Dương) năm 1954? [COLOR="DarkRed"]Trả lời: Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Đồng chí Phạm Văn Đồng sinh ngày 1/3/1906 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng
Ngãi, mất ngày 29/4/2000. Đồng chí Phạm Văn Đồng là vị Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu
nhất (1955–1987). Ông giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ
năm 1955 đến năm 1976 và Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1976 cho
đến khi nghỉ hưu năm 1987. Năm 1954, khi còn giữ chức vụ Phó Thủ tướng, đồng chí
Phạm Văn Đồng được cử làm Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam dự Hội nghị Genève.
[/COLOR]
25. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã miêu tả chủ nghĩa tư bản bằng hình ảnh con vật gì?
Trả lời: Con đỉa Trong tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" (1925), Hồ Chí Minh đã
miêu tả bản chất "ăn bám" của chủ nghĩa tư bản bằng hình tượng "con đỉa hai vòi". Người
viết: [COLOR="navy"]"Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai
cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu
muốn giết con vật ấy người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một
vòi thôi thì cái vòi còn lại kia sẽ tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản con vật vẫn tiếp
tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra". [/COLOR]
26. Khi mới thành lập, Đảng ta có tên là gì? [COLOR="DarkRed"]Trả lời: Đảng
Cộng sản Việt Nam Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta có các tên gọi: - Từ tháng 2/1930:
Lê Quyên tháo súng ra nghiên cứu để chế tạo súng cho nghĩa quân. Ông tổ chức mở xưởng
đúc vũ khí theo kiểu châu Âu ở núi Vụ Quang và sản xuất được 500 khẩu súng theo mẫu
1874 của Pháp. Ông được coi là ông tổ của ngành quân giới nước ta. Ngoài chế tạo vũ khí,
ông còn xây dựng được một đội quân có tính chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm. Năm 1893,
trong trận đánh Đồn Nu (Thanh Xuân - Thanh Chương - Nghệ An), ông bị trúng đạn và hy
sinh lúc mới 29 tuổi.
32. Thế nào là lính khố đỏ, lính khố vàng, lính khố xanh, lính khố lục? Trả lời:
[COLOR="DarkOrchid"]Lính khố đỏ là lính người Việt trong quân đội chính quy cơ
động của Pháp thời trước Cách mạng tháng Tám. Chân lính khố đỏ quấn xà cạp bằng vải
đỏ. Lính khố vàng là lính không trực tiếp thuộc quyền quản lý của Pháp mà thuộc quyền
quản lý của triều đình nhà Nguyễn. Chân lính khố vàng quấn xà cạp bằng vải vàng. Lính
khố xanh là lính người Việt do thực dân Pháp tổ chức ở các tỉnh trước Cách mạng tháng
Tám. Chân lính khố xanh quấn xà cạp bằng vải xanh. Lính khố lục là lính Việt Nam do
thực dân Pháp tuyển mộ để canh gác các phủ, huyện. Chân lính khố lục quấn xà cạp bằng
vải xanh lục.[/COLOR]
33. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887) nổ ra ở tỉnh thành nào của nước ta?
Trả lời: Thanh Hóa Ba Đình là một căn cứ kháng chiến được xây dựng trên vùng đất
thuộc 3 làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mĩ Khê thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Các
ngôi đình của 3 làng được biến thành các chốt đóng quân, nối với nhau bằng chiến hào, có
thể hỗ trợ cho nhau. Từ Ba Đình, nghĩa quân có thể tỏa đi các nơi, kiểm soát các tuyến giao
thông quan trọng trong vùng. Khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887) là một trong các cuộc
khởi nghĩa tiêu biểu của phong trào Cần Vương.
34. Vị vua nào ở ngôi ngắn nhất trong lịch sử nước ta? Trả lời: Lê Trung Tông
(1005) và Nguyễn Dục Đức (1883) - đều làm vua trong 3 ngày. Vua Lê Hoàn (Lê Đại
Hành) có 4 Hoàng tử là Long Du, Ngân Tích, Long Việt và Long Đĩnh. Lê Hoàn đã chọn
người con thứ ba là Long Việt làm Thái tử, nhưng khi Lê Hoàn mất (tháng 3/1005), các
Hoàng tử đánh nhau trong 7 tháng để tranh giành ngôi vua. Tháng 10, Long Việt vừa lên
ngôi được 3 ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung giết chết, thọ 23 tuổi. Nguyễn
Phúc Ưng Chân lên ngôi theo di chiếu của vua Tự Đức, nhưng các quan phụ chính đại thần
là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vì không ưa nên phế đi khi ông vừa lên ngôi
mùa Xuân 1975, góp phần kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
39. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được tuyên bố thành lập ở
tỉnh nào? Trả lời: Tỉnh Tây Ninh Ngày 20/12/1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành
(nay là huyện Tân Biên), tỉnh Tây Ninh, đại biểu các cấp, các dân tộc, tôn giáo toàn miền
Nam đã họp, quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong những hình thức tổ chức của
Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam và có những đóng góp rất quan trọng trong lịch sử
của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức yêu
nước nổi tiếng của đồng bào miền Nam đã được giao trọng trách làm Chủ tịch Mặt trận.
40. Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên chiến dịch Hồ
Chí Minh vào ngày tháng năm nào? Trả lời: Ngày 14/4/1975 Trong một khu rừng ở Lộc
Ninh, Ban chỉ huy Chiến dịch nhất trí đề nghị Bộ Chính trị xin được đổi tên Chiến dịch
tổng công kích giải phóng Sài Gòn - Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Quyết định đổi
tên này do đồng chí Lê Duẩn kí ngày 14/4/1975.
41. Bạn hãy cho biết tên người phụ nữ vác đạn nặng nhất trong chiến tranh? Trả
lời: Đó là chị Ngô Thị Tuyển Chị Ngô Thị Tuyển sinh năm 1946 tại Nam Ngạn, Hàm
Rồng, Thanh Hóa. Chị là nữ dân quân mưu trí, dũng cảm. Ngày 4-4-1965, chị vác hai hòm
đạn nặng 98kg vượt qua bờ đê chuyển ra sông phục vụ chiến đấu tại Hàm Rồng, Thanh
Hóa