các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng sử dụng e-commerce - Pdf 18

Luận văn Cao học QTDN-K12 Mục Lục i
MỤC LỤC

CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU 1
I. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1
II. ĐẶT VẤN ĐỀ 6
III. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
1. Mục tiêu nghiên cứu 7
2. Phạm vi nghiên cứu 8
IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN 8
CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
PHẦN A. CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 10
I. MÔ HÌNH CHẤP THUẬN CÔNG NGHỆ (TAM) 10
I.1. Các kiến trúc chính 10
I.1.1 Nhận thức sự hữu ích 10
I.1.2 Nhận thức tính dễ sử dụng 10
I.1.3 Thái độ hướng đến việc sử dụng 11
I.2. Mô hình TAM 11
II. MÔ HÌNH CHẤP NHẬN SỬ DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (e-CAM) 12
II.1. Các kiến trúc chính 12
II.1.1 Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dòch vụ (Perceived Risk with
Product/Service - PRP) 12
II.1.2 Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dòch trực tuyến (Perceived Risk in
the Context of Online Transaction) 14
II.2. Mô hình e-CAM 15
III. MÔ HÌNH KẾT HP VỀ CHẤP THUẬN VÀ SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ
(UTAUT) 17
III.1. Các kiến trúc chính 17

I.2.5 Các biến nhân khẩu học (Demographic) 32
I.3. Mô hình TAM-ECAM dự đònh 33
II. CÁC GIẢ THUYẾT NỀN TẢNG 34
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
III.1. Dữ liệu nghiên cứu 35
III.2. Thủ tục thu thập dữ liệu 35
III.3. Các đo lường 35
CHƯƠNG IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 37
I. CÁC THỐNG KÊ CHUNG 38
I.1. Thống kê các đặc tính nhân khẩu học 38
I.2. Thống kê kinh nghiệm sử dụng Internet 38
I.3. Thống kê dự đònh mua hàng trực tuyến 39
II. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH TAM-ECAM 39
II.1. Xác đònh độ tin cậy và độ giá trò 39
II.2.1 Độ tin cậy 39
II.2.2 Độ giá trò 40
Luận văn Cao học QTDN-K12 Mục Lục iii
1. Phân tích nhân tố khẳng đònh cấp nhân tố (bước 1) 41
2. Phân tích nhân tố khẳng đònh cho toàn bộ mô hình (bước 2) 43
II.2. Trình bày mô hình TAM-ECAM cuối cùng 45
III. KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ THUYẾT 45
CHƯƠNG V. SO SÁNH KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 47
I. SO SÁNH VỚI KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH e-CAM 48
II. SO SÁNH VỚI KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH TAM và UTAUT 49
CHƯƠNG VI. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 50
I. TÓM TẮT KẾT QUẢ 51
II. ĐỀ XUẤT 51

Hình IV. 1. Kết quả chạy mô hình TAM-ECAM 45
Bảng IV. 12. Giá trò các hệ số đường dẫn và t-value 46
Bảng V. 1. Kết quả so sánh theo mô hình e-CAM 48
Bảng V. 2. So sánh tác động của PRP và PRT lên BI 48

Luận văn Cao học QTDN-K12 Bảng các chữ viết tắt v
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghóa
BI Dự đònh hành vi
CFA Phân tích nhân tố khẳng đònh
ECAM Mô hình e-CAM
EFA Phân tích nhân tố khám phá
FACI Các điều kiện thuận tiện
PEU Nhận thức tính dễ sử dụng
PRP Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dòch vụ
PRT Nhận thức rủi ro trong giao dòch trực tuyến
PU Nhận thức sự hữu ích
SCREEN Thiết kế giao diện
SEM Lập mô hình phương trình có cấu trúc
TAM Mô hình TAM
TERMI Thuật ngữ
TMĐT thương mại điện tử
UTAUT Mô hình UTAUT


đồng với các doanh nghiệp khác đễ vận chuyển sản phẩm, hay để cung cấp
trực tiếp các dòch vụ của nó. Việc chia sẻ rủi ro giữa tổ chức và nhà cung
cấp của nó ít khi xảy ra. Vai trò của công nghệ thông tin biến đổi từ sự tự
động hóa computer đơn giản đến kích hoạt tích hợp bên trong thông qua
chia sẻ thông tin. Trong một vài trường hợp, công nghệ thông tin mở rộng
vượt qua biên giới tổ chức nhằm cung cấp các liên kết sống còn giữa tổ
chức và nhà cung cấp để xúc tiến các quan hệ làm việc gần gũi (vd.
Walmart). [5]
TMĐT đã báo trước nhiều cơ hội mới cho các tổ chức kinh doanh thông qua
việc mở rộng và nâng cao thò trường của chúng cùng với việc kéo dài và
bành trướng các kênh cung cấp. TMĐT gồm có việc trao đổi (ví dụ, mua và
bán) sản phẩm, dòch vụ và thông tin thông qua mạng máy tính, bao gồm
Internet (Kalakota & Whinston, 1996) [5]. Công nghệ thông tin đã làm cho
các tổ chức có khả năng phát triển các chiến lược tập trung vào 1 mô hình
TMĐT và thực hiện những thay đổi tận gốc đối với cách thức họ thực hiện
kinh doanh.
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
2
Một ví dụ khá tham vọng của TMĐT, các liên minh ảo cho phép các tổ chức
góp chung tài nguyên của họ cho thu lợi kinh tế và vươn tới thò trường mở
rộng. Những phát triển gần đây trong công nghiệp hàng không minh họa cho
khái niệm này, đặc biệt là các liên minh Star and One World. Thay vì một
Công ty đầu tư tài nguyên của họ và chòu rủi ro khi gia nhập thò trường mới,
các Công ty hàng không đã hợp nhất với nhau trong một liên minh hợp tác
để cung cấp các dòch vụ vận chuyển không ngắt quãng, điều này làm lợi
cho họ và và cho công chúng lữ hành. Công nghệ thông tin đã trở thành

Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
3
được xem xét. Để đạt được nhiều lợi ích của công nghệ thông tin và TMĐT,
một tổ chức phải đánh giá một cách nghiêm túc cấu trúc và qui trình của nó
(nghóa là, kinh doanh, sản xuất, phân phối, …), và xác đònh bằng cách nào
nó có thể tích hợp hiệu quả công nghệ thông tin vào chính bản thân để có
thể đạt được các mức kết quả thực hiện cao hơn. Bởi vì các mô hình kinh
doanh thì rất khác nhau, chuyển từ một mô hình kinh doanh bricks and
motar (truyền thống) thành 1 mô hình TMĐT thường yêu cầu việc tái thiết
kế hay tái lập tận gốc các qui trình và cấu trúc. Các framework của Leavitt
(1965) và Scott Morton (1995) chỉ ra rằng việc thay đổi chiến lược tổ chức
hay việc sử dụng công nghệ thông tin của nó sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến các
lónh vực khác của tổ chức. Do đó, chỉ đơn giản mang đến các công nghệ
Internet thì không thể tự bảo bảo đảm cho việc thành công TMĐT (v.d.,
Toys R Us).
Hơn nữa đối với việc thay đổi tổ chức, việc thay đổi hành vi cá nhân cũng
phải xảy ra. Một vài nghiên cứu chủ yếu về quản lý công nghệ thông tin đề
nghò mạnh mẽ rằng việc thực hiện công nghệ thông tin thành công yêu cầu
thay đổi hành vi một cách tích cực (Davis, 1998; Davis & Bagozzi, 1989;
Venkatesh & Davis, 1996, 2000). Thiếu thực hiện những thay đổi như vậy
có thể ngăn trở chuyển đổi; chỉ đơn giản mang đến công nghệ thông tin
không thể tự động dẫn đến việc chấp nhận của nó. Do đó, quản lý việc thực
hiện công nghệ thông tin trong tổ chức có thể chứng minh là một bước chủ
yếu để thực hiện thành công một mô hình TMĐT.
Việc chuyển đổi từ một mô hình bricks and motar (truyền thống) sang một
mô hình TMĐT đưa ra một vài thách thức lớn. Đối với tổ chức, TMĐT phản

hoạt động tập trung vào tối ưu hóa nhiệm vụ cá nhân phải được tái lập để
cho phép tổ chức như là 1 tổng thể nhằm cân bằng thông tin của nó để đáp
ứng tốt hơn yêu cầu của thò trường, và tận dụng lợi thế của các liên minh
hay đối tác có thể hoặc là giúp giải quyết việc giao hàng hoá hay dòch vụ,
hoặc nâng cao/mở rộng thò trường của nó. Do đó, việc thực hiện 1 mô hình
TMĐT bao gồm việc mang lại những thay đổi chưa hề có để làm thích nghi
tổ chức với môi trường hoạt động mạnh mẽ và kích hoạt IT, người ta yêu
cầu tái lập tổ chức để thích hợp hơn với 1 loại hình kinh doanh khác.
Hammer và Champy (1993) đònh nghóa tái lập là “tư duy lại một cách cơ bản
và thiết kế lại tận gốc các qui trình hoạt động để đạt được những cải thiện
ấn tượng trong những đo lường kết quả thực hiện đương thời và quan trọng,
như chi phí, chất lượng, dòch vụ và tốc độ” (p. 32). Một nhân tố cơ bản để tái
lập là chọc thủng phòng tuyến IT, loại công nghệ mới giúp tái thiết kế tận
gốc và thực hiện các qui trình kinh doanh.
Nhu cầu tái lập trở thành hiển nhiên hơn với TMĐT. Do công nghệ thông tin
cho phép và duy trì những mô hình này, công nghệ thông tin nắm vai trò lớn
trong các phương tiện sản xuất. Việc thay đổi vai trò từ công nghệ thông tin
hỗ trợ hoạt động sang công nghệ thông tin là hạt nhân của 1 doanh nghiệp
và trở nên hướng đi quan trọng của sự phát triển doanh nghiệp dẫn đến thay
đổi loại hình (Earl & Kahn, 2001).
Sự sống còn của 1 doanh nghiệp hiện nay xoay quanh việc làm cách nào để
cân bằng tốt giữa công nghệ thông tin và kiến thức của nó. Điều này đặc
biệt đúng với việc đổi mới sản phẩm và dòch vụ khuyến khích thông tin thu
thập được thông qua các giao dòch và tương tác kinh doanh, và kiến thức tích
lũy được của tổ chức (Cohen & Levinthal, 1989, 1990; Hurley & Hult, 1998;
Prahalad & Hamel, 1990). Kiến thức của tổ chức càng lớn, hoặc là sở hữu
nội bộ hay thông qua các liên minh, thì cơ hội đổi mới và sống còn càng
nhiều (Cockburn & Henderson, 1998; Cohen & Levinthal, 1990; Lane &
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu


hết các tổ chức, việc thay đổi biểu thò các thức quản lý kinh doanh khác biệt
về căn bản. Về mặt này, El Sawy (2001) cho rằng việc tái lập là cần thiết
cho “tư duy lại và thiết kế lại các qui trình hoạt động tại cả hai cấp độ
doanh nghiệp và kênh cung cấp để tận dụng lợi thế kết nối Internet và những
cách thức tạo giá trò mới” (trang 7). Hơn nữa, những thay đổi tái lập cho
phép và xúc tiến dòng thông tin cả bên trong tổ chức và với đối tác kênh
cung cấp của nó. TMĐT cũng là phương tiện cấu trúc tổ chức để tương tác
hữu hiệu và hiệu quả với những tổ chức khác thông qua thò trường điện tử,
là Internet.
Loại hình TMĐT được phân chia thành các lónh vực như trong nền kinh tế
không có Internet.
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
6
 B2B (business-to-business): doanh nghiệp thực hiện kinh doanh với
các doanh nghiệp khác thông qua Internet.
 B2C (business-to-consumer): các doanh nghiệp bán sản phẩm và
dòch vụ cho khách hàng thông qua Internet.
 C2B (consumer-to-business): khách hàng khởi đầu các giao dòch và
mua sản phẩm thông qua Internet (vd. Priceline.com).
 C2C (consumer-to-consumer): những cuộc đấu giá trực tuyến thông
dụng nhất, nơi khách hàng trực tiếp mua và bán với nhau (vd.
eBay.com).
 G2C (government-to-consumer): chính phủ thực hiện các hoạt động
trực tuyến với khách hàng (vd. U.S. Portal Service).
 Mobile commerce (m-commerce): sử dụng các thiết bò không dây
dựa trên sóng vô tuyến như điện thoại di động (cell phone) và máy

hình TAM. Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng Mô hình chấp thuận công
nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) (Davis 1989) để dự đoán sự
chấp thuận của người sử dụng về các ứng dụng thương mại điện tử (Devaraj
2002; Hsu và Lu; Olson và Boyer 2003). Olson và Boyer (2003) đã cho rằng
ảnh hưởng của khác biệt cá nhân về sự chấp thuận công nghệ mới như các
trang web thương mại điện tử thường không được chú trọng trong khi
Lightner (2003) bảo vệ ý kiến liên quan đến các đặc điểm nhất đònh về kinh
nghiệm mua hàng trực tuyến có quan hệ với các đặc tính nhân khẩu học.
Joongho Ahn, Jinsoo Park, và Dongwon Lee (2001) đã tích hợp TAM với
thuyết nhận thức rủi ro (Theories of perceived risk – TPR) trong một nghiên
cứu thực nghiệm để giải thích sự chấp thuận thương mại điện tử với mô hình
e-CAM (E-commerce Adoption Model).
Như vậy, các yếu tố nào có thể tác động vào nhận thức của cá nhân trong
việc sử dụng các hệ thống thương mại điện tử là một vấn đề quan trọng cần
quan tâm trong các nghiên cứu về nhận thức và hành vi.
Với hiện thực ngày càng phát triển của thương mại điện tử, tôi chọn thực
hiện đề tài “Khảo sát một số yếu tố tác động vào sự sẵn sàng của
thương mại điện tử” với đònh hướng nghiên cứu khám phá trong lónh vực
nhận thức về hoạt động thương mại điện tử B2C.
III. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu nghiên cứu
Ở Việt Nam, với cơ sở hạ tầng hạn chế và các điều kiện kinh tế xã hội chưa
được thuận lợi cho việc phát triển thương mại điện tử, nghiên cứu này đònh
hướng tập trung khảo sát một số yếu tố đã được kiểm tra thực nghiệm trong
các nghiên cứu trước đây trên thế giới. Song song với việc kiểm tra lại các
yếu tố tác động vào nhận thức của người sử dụng, nghiên cứu này khảo sát
tính sẵn sàng của người sử dụng với các hệ thống thương mại điện tử là các
website thương mại. Nói cách khác, nghiên cứu tập trung vào khảo sát hệ
thống thương mại điện tử B2C với yếu tố nhận thức là mục tiêu khảo sát.
Nghiên cứu cũng đònh hướng xác đònh giá trò của một số kiến trúc tác động

CHÖÔNG II.
CÔ SÔÛ LYÙ THUYEÁT
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương II:Cơ sở lý thuyết Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử

10
PHẦN A. CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
I. MÔ HÌNH CHẤP THUẬN CÔNG NGHỆ (TAM)
Trong nửa cuối thế kỷ 20, nhiều lý thuyết đã được hình thành và được kiểm
nghiệm nhằm nghiên cứu sự chấp thuận công nghệ của người sử dụng.
Fishbein và Ajzen (1975) đã đề xuất Thuyết Hành Động Hợp Lý (Theory of
Reasoned Action - TRA), Ajzen (1985) đề xuất Thuyết Hành Vi Dự Đònh
(theory of planned behavior - TPB), và Davis (1986) đã đề xuất Mô Hình
Chấp Nhận Công Nghệ (Technology Acceptance Model - TAM). Các lý
thuyết này đã được công nhận là các công cụ hữu ích trong việc dự đoán
thái độ của người sử dụng. Đặc biệt, TAM đã được công nhận rộng rãi là
một mô hình tin cậy và mạnh trong việc mô hình hóa việc chấp nhận IT của
người sử dụng. "Mục tiêu của TAM là cung cấp một sự giải thích các yếu tố
xác đònh tổng quát về sự chấp nhận computer, những yếu tố này có khả năng
giải thích hành vi người sử dụng xuyên suốt các loại công nghệ người dùng
cuối sử dụng computer và cộng đồng sử dụng" (Davis et al. 1989, trang 985).

TAM được trình bày trong Hình 1 là mô hình được giới thiệu lần đầu của
Davis (1986). Sau này, các nghiên cứu bổ sung của Thompson et al. (1991)
và Davis (1993) đề xuất nên bỏ thành phần Dự Đònh Sử Dụng và nối trực
tiếp Thành Phần Thái Độ sang Thành Phần Hành Vi. Thompson et al.
(1991) đã chứng tỏ Dự Đònh Sử Dụng nên được loại trừ bởi vì chúng ta quan
tâm vào hành vi thực sự (sử dụng hệ thống). Hành vi như vậy đã xảy ra
trong quá khứ, trong khi Dự Đònh Hành Vi là “xác suất chủ quan mà người
sử dụng sẽ thực hiện hành vi này trong chủ đề” (Fishbein và Ajzen 1975,
trang 12) và do đó nó liên quan tới hành vi tương lai. Do đó, nếu nghiên cứu
có dự đònh khảo sát hành vi chấp thuận công nghệ trong quá khứ thì nên bỏ
thành phần Dự Đònh Hành Vi [16].
Dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm sau khi mô hình TAM đầu tiên được
công bố, kiến trúc thái độ (Attitude construct - A) đã được bỏ ra khỏi mô
hình TAM nguyên thủy (Davis, 1989; Davis et al., 1989) vì nó không làm
trung gian đầy đủ cho sự tác động của PU lên hành vi dự đònh (behavioral
intention - BI) (Venkatesh, 1999). Hơn nữa, một vài nghiên cứu sau đó
(Adams et al., 1992; Fenech, 1998; Gefen and Straub, 1997; Gefen và Keil,
1998; Igbaria et al., 1997; Karahanna và Straub, 1999; Lederer et al., 2000;
Mathieson, 1991; Straub et al., 1995; Teo et al., 1999; Venkatesh và Morris,
2000) đã không xem xét tác động của PEU/PU lên Thái Độ (attitude - A)
và/hoặc BI. Thay vào đó, họ tập trung vào tác động trực tiếp của PEU
và/hoặc PU lên việc Sử Dụng Hệ Thống Thực Sự [6].
Trong đề tài này, tôi có ý đònh khảo sát cả hành vi trong quá khứ và quan
trọng là dự đònh hành vi trong tương lai nên sẽ sử dụng kiến trúc BI (hành vi
dự đònh) và bỏ đi kiến trúc A (thái độ) theo như kết quả trong các nghiên
cứu trước đây.



1
Trong từ điển điện tử Oxford Advanced Learner’s Dictionary đònh nghóa từ Adoption: [U] the decision to
start using sth such as an idea, a plan or a name, với ví dụ cụ thể: the adoption of new technology. Nên
trong bài này, tôi dòch e-CAM là: Mô hình chấp nhận sử dụng thương mại điện tử. Cụm từ này sẽ được sử
dụng thống nhất trong suốt đề tài, viết tắt là e-CAM.
Các biến

ngoại sinh
Nhận thức

sự hữu ích
Nhận thức

tính dễ sử dụng
Thái độ

hướng đến sử dụng

Dự đònh

sử dụng
Sử dụng

hệ thống thực sự

Tin tưởng

(Thành phần nhận thức)



Social Risk

Rủi ro mà 1 sự lựa chọn sản phẩm có thể mang lại kết quả bối rối trước bạn bè/gia
đình/nhóm làm việc của người ta

Time Risk
Rủi ro về tốn thời gian chuẩn bò bản liệt kê mua hàng, di chuyển
, tìm thông tin, mua
sắm
(Non-monetary) và chờ đợi giao sản phẩm
Khi chúng ta không thể thấy hay chạm trực tiếp sản phẩm/dòch vụ trong thò
trường điện tử (nghóa là, các đặc tính vô hình), người tiêu dùng có thể cảm
thấy băn khoăn hay không chắc chắn khi họ có giao dòch với những người
bán hàng trực tuyến. Ví dụ, sản phẩm/dòch vụ được giao cho người tiêu dùng
có thể không thực hiện như được mong đợi. Hơn nữa, người tiêu dùng có thể
được yêu cầu chòu chi phí như vận chuyển và bốc dỡ, khi trả lại hay trao đổi
sản phẩm/dòch vụ. Các tác giả nhận đònh mất chức năng và mất tài chính
(functional loss and financial loss) như các loại rủi ro liên quan đến sản
phẩm/dòch vụ hạn chế người tiêu dùng thực hiện các giao dòch trực tuyến.
[6]
Hơn nữa, khi việc mua sản phẩm/dòch vụ thất bại, chúng ta có thể mất thời
gian, sự thuận tiện và nỗ lực lấy sản phẩm/dòch vụ điều chỉnh hay thay thế.
Mặc dầu thời gian là nỗ lực phi tiền bạc và biến động giữa các cá nhân, các
tác giả nhận đònh thời gian như một chi phí mà người tiêu dùng phải trả cho
sản phẩm/dòch vụ. Do đó, các tác giả nhận đònh tốn thời gian (time loss) như
1 rủi ro tăng thêm với sản phẩm/dòch vụ. [6]
Sau khi mua sản phẩm/dòch vụ qua Internet, người tiêu thụ có thể tìm thấy 1
sản phẩm/dòch vụ chất lượng bằng hoặc cao hơn với mức giá thấp hơn. Do
đó, các tác giả nhận đònh 1 loại rủi ro khác, mất cơ hội (opportunity loss), là

mãn những vấn đề sau: sự chứng thực (authentication), sự cấp phép
(authorization), sự sẵn sàng (availability), sự tin cẩn (confidentiality), toàn
vẹn dữ liệu (data integrity), không khước từ (nonrepudiation), và các dòch vụ
ứng dụng có khả năng chọn (selective application services). [6]
Swaminathan et al. (1999) khẳng đònh rằng người tiêu dùng đánh giá những
người bán hàng trực tuyến trước khi họ thực hiện giao dòch trực tuyến và do
đó các đặc tính của người bán hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xúc
tiến giao dòch. [6]
Rose et al. (1999) nhận dạng các trở ngại kỹ thuật và chi phí liên quan của
chúng và những giới hạn đặc thù đối với TMĐT B2C, bao gồm trì hoãn
download, giới hạn của giao diện (limitations of the interface), các vấn đề
dò tìm (search problems), đo lường thành công ứng dụng Web không thích
hợp, an toàn yếu, và thiếu các tiêu chuẩn Internet. Do đó, họ phát biểu rằng
nếu người ta thực hiện những giao dòch kinh doanh với các thương gia không
thành thật hoặc nếu những thông tin nhạy được lưu trong những cơ sở dữ
liệu không an toàn, sự đe dọa an toàn tồn tại ngay cả khi dữ liệu được bảo
vệ hoàn hảo trong giao dòch. [6]
Do đó, các tác giả đònh nghóa nhận thức rủi ro trong phạm vi giao dòch trực
tuyến (PRT) như 1 rủi ro giao dòch khả dó mà người tiêu dùng có thể đối đầu
khi bộc lộ những phương tiện điện tử của việc thực hiện thương mại. Bốn
loại PRT được nhận đònh như sau: sự bí mật (privacy), sự an toàn-chứng thực
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương II:Cơ sở lý thuyết Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử

15
(security- authentication), không khước từ (nonrepudiation), và nhận thức rủi
ro toàn bộ về giao dòch trực tuyến (overall perceived risk on online

Nhận thức

rủi ro trong

phạm vi giao dòch (PRT)
Nhận thức

rủi ro với

sản phẩm/dòch vụ (PRP)
Theo TAM
Hình II. 2. Mô hình e-CAM
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương II:Cơ sở lý thuyết Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử

16

Hình II. 3. Kết quả kiểm tra e-CAM tại Mỹ Hình II. 4. Kết quả kiểm tra e-CAM tại Hàn Quốc

Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương II:Cơ sở lý thuyết Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử

III.1.4 Các điều kiện thuận tiện (Facilitating Conditions)
Các điều kiện thuận tiện được đònh nghóa là mức độ mà một cá nhân tin
rằng cơ sở hạ tầng tổ chức và kỹ thuật tồn tại để hỗ trợ việc sử dụng hệ
thống. Đònh nghóa này lấy từ các khái niệm nổi bật với 3 kiến trúc khác
nhau: Nhận Thức Kiểm Soát Hành Vi (lấy từ mô hình TPB, DTPB, C-TAM-
TPB), Các Điều Kiện Thuận Tiện (lấy từ mô hình MPCU), và Sự Tương
Thích (lấy từ mô hình IDT). [19]
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương II:Cơ sở lý thuyết Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử

18
III.2. Mô hình UTAUT
Viswanath Venkatesh, Michael G. Moris, Gordon B. Davis, và Fred D.
Davis đã thiết lập mô hình UTAUT (Unified Theory of Acceptance and Use
of Technology). Mô hình này là sự kết hợp một số thành phần của 8 lý
thuyết/mô hình trước đó với mục tiêu thiết lập một quan điểm chung nhất
phục vụ cho việc nghiên cứu sự chấp thuận của người sử dụng về hệ thống
thông tin mới [19]. Tám mô hình/lý thuyết thành phần đã được xem xét là:
- TRA (Theory of Reasoned Action)
- TAM (Technology Acceptance Model)
- MM (Motivation Model)
- TPB (Theory of Planned Behavior)
- C-TAM-TPB (a model combining TAM and TPB)
- MPCU (Model of PC Utilization)
- IDT (Innovation Diffusion Theory)
- SCT (Social Cognitive Theory)
Mô hình UTAUT là một mô hình kết hợp từ các lý thuyết đã được biết đến

tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử

19
PHẦN B. LẬP MÔ HÌNH PHƯƠNG TRÌNH CẤU TRÚC (SEM –
STRUCTURAL EQUATION MODELLING)
I. GIỚI THIỆU
Phần này tóm tắt ngắn gọn và không thiên về đặc tính kỹ thuật của
các vấn đề căn bản có liên quan trong SEM, bao gồm các vấn đề
ước lượng, thích hợp mô hình, và các giả thiết thống kê.
SEM (Structural Equation Modelling) là một kỹ thuật mô hình thống
kê rất tổng quát, được sử dụng rộng rãi trong khoa học nghiên cứu
hành vi. Nó có thể được xem là sự kết hợp của phân tích nhân tố và
hồi quy hay phân tích đường dẫn. Sự quan tâm trong SEM thường là
vào các kiến trúc lý thuyết, được trình bày bởi các nhân tố ngầm.
Các quan hệ giữa các kiến trúc lý thuyết được trình bày bởi các hệ
số hồi quy hay hệ số đường dẫn giữa các nhân tố. SEM ám chỉ 1 cấu
trúc của các hiệp tương quan (covariances) giữa các biến được quan
sát, các quan hệ này cho ra một tên khác là mô hình hóa cấu trúc
hiệp tương quan (covariance structure modeling). Tuy nhiên, mô hình
có thể được mở rộng thêm bao gồm trung bình của các biến quan sát
được hoặc các nhân tố trong mô hình, làm cho tên mô hình hóa cấu
trúc hiệp tương quan ít chính xác. Nhiều nhà nghiên cứu chỉ đơn giản
nghó mô hình loại này là “các mô hình Lisrel,” điều này cũng ít chính
xác. LISREL là chữ viết tắt của Linear Structural RELations (các
quan hệ cấu trúc tuyến tính), và tên này được Jưreskog sử dụng cho
một trong những chương trình SEM đầu tiên thông dụng nhất. Các
mô hình phương trình cấu trúc ngày nay không nhất thiết phải tuyến
tính, và khả năng mở rộng của SEM xa hơn phương trình Lisrel ban
đầu. Ví dụ, Browne (1993) thảo luận khả năng làm thích hợp các
đường cong phi tuyến.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status