Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở việt nam - Pdf 18

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯU NGỌC TỐ TÂM
PHÁP LUẬT
KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN
TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 62.38.01.07
(MÃ SỐ CŨ: 62.38.50.01)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Vũ Thu Hạnh
PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu độc lập của cá nhân tôi. Nội dung cũng
như các số liệu trình bày trong luận án hoàn
toàn trung thực. Những kết luận khoa học của
luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
LƯU NGỌC TỐ TÂM
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 11
1.1. KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG
HÀNG HẢI 11
1.1.1. Khái niệm môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển 11
1.1.2. Hoạt động hàng hải và ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải 17

2.2.2. Các qui định pháp luật về thuyền bộ 85
2.3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
BIỂN TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CẢNG BIỂN 89
2.3.1. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển khi mở cảng biển 90
2.3.2. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển khi tàu cập cảng, rời cảng, quá cảnh.92
2.3.3 Trách nhiệm phòng chống cháy nổ và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
tại cảng biển 95
2.4. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
BIỂN TRONG MỘT SỐ HOẠT ĐỘNGGIAO THÔNG TRÊN BIỂN 98
2.4.1. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển theo đặc thù của các hoạt động giao
thông trên biển 98
2.4.2. Kiểm soát chất thải đối với các hoạt động giao thông trên biển 99
2.5. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA VÀ KHẮC PHỤC SỰ CỐ
MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 104
2.5.1. Pháp luật về phòng ngừa sự cố môi trường trong hoạt động hàng hải 104
2.5.2. Pháp luật về khắc phục sự cố môi trường trong hoạt động hàng hải 112
2.6. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÍ ĐỐI VỚI KIỂM
SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 124
2.6.1. Trách nhiệm hành chính 125
2.6.2. Trách nhiệm hình sự 131
2.6.3. Trách nhiệm dân sự 134
2.7. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC CƠ QUAN QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 138
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 145
Chương 3. NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI Ở
VIỆT NAM 146
3.1. CƠ SỞ CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 146
3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường nói

các nguồn tài nguyên biển từ các hoạt động trên biển, trong đó có hoạt động hàng hải.
Vùng biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km
2
, án ngữ trên các tuyến hàng hải và
hàng không huyết mạch giữa ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Á, Trung
Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Bờ biển Việt Nam
dài 3260km, bao bọc lãnh thổ Việt Nam ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam, tính
trung bình cứ 100 km
2
đất liền có 1km bờ biển (tỉ lệ này cao gấp 6 lần tỉ lệ trung bình
của thế giới). Biển Việt Nam rất thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn
như dầu khí, hải sản, vận tải biển, cảng biển và kết cấu hạ tầng, công nghiệp tàu biển,
du lịch biển và các ngành dịch vụ biển khác… Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành
trung ương Đảng khóa X đã đưa ra Nghị quyết về Chiến lược Biển đến năm 2020,
“phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP và 55 - 60% kim ngạch
xuất khẩu của cả nước”.
Với những đặc điểm đó, hoạt động hàng hải Việt Nam cũng rất thuận lợi để phát
triển nhằm các mục đích thương mại, an ninh quốc phòng, du lịch, dịch vụ, thăm dò
khai thác tài nguyên, khảo sát đo đạc biên vẽ hải đồ…, mang lại nhiều giá trị kinh tế
cho sự phát triển của đất nước. Theo quan điểm của Đảng về chiến lược Biển Việt
Nam, kinh tế hàng hải được sử dụng làm yếu tố đột phá để thúc đẩy phát triển nhanh,
bền vững kinh tế biển, góp phần bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài
phán quốc gia về biển, đảo. Định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm
2020 đưa mục tiêu phát triển kinh tế hàng hải đứng vị trí thứ hai sau khai thác chế biến
dầu khí và các loại khoáng sản; đến sau 2020 đứng vị trí thứ nhất cần ưu tiên phát
triển trong 5 ngành kinh tế biển. Có thể nói Đảng ta đã đánh giá đánh giá một cách
toàn diện về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển, của hoạt động hàng hải đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Vì vậy,
cũng chính từ các hoạt động hàng hải này, môi trường biển và các nguồn tài nguyên
biển đã và đang đứng trước các nguy cơ ô nhiễm và suy thoái. Hàng năm, biển Việt

Protecting the Marine Environment of ASEAN from Sip-generated Oil Pollution and
Japan’s Contribution to the Region, Institute of Developing Economies, Singapore,
1994); cuốn “Dầu khí trong bảo vệ môi trường biển” của Hoa Kì năm 1975 (National
Academy of Sciencies: Petroleum in the Marine Environment, Washington, DC, 1975);
cuốn “Sổ tay về ô nhiễm biển” do GARD xuất bản năm 1985 (Gold E.: Handbook
marine pollution, GARD, 1985); “Triển vọng của gas và dầu từ biển” xuất bản tại New
York/Canada năm 1983 (Mangone: The future of gas and oil from the sea, New
3
York/London, 1983); hay cuốn “Luật ô nhiễm biển của khu vực Australasian” (White
M.: Marine Pollution Laws of the Australasian Region, The Federation Press, 1994)
Tổ chức Hàng hải thế giới cũng xuất bản một số ấn phẩm như “Sổ tay Dịch vụ vận tải
biển” năm 1997 (IMO, 1997. Guidelines for Vessel Traffic Services. Resolution
A.857(20), adopted on 27 November 1997, London.); Sửa đổi hướng dẫn cho việc xác
định và chỉ định các vùng biển đặc biệt nhạy cảm (PSSSAs) năm 2005 (IMO, 2005.
Revised guidelines for the identification and disignation of particularly sensitive sea
areas (PSSAs). Resolution A.982(24), adopted on 1 December 2005, London)…
Các công trình nêu trên chủ yếu tập trung vào một số nội dung tiêu biểu là: (i)
bảo bệ môi trường biển nói chung trước các tác động tiêu cực kể cả do con người cũng
như do thiên nhiên; (ii) đánh giá những hậu quả xảy ra từ những tác động tiêu cực đó,
(iii) chỉ ra đặc thù về mặt sinh học, hóa học của từng vùng biển, (iv) nêu ra ưu thế của
các loại hình dịch vụ vận tải biển. Những công trình này đều đã đóng góp một phần
vào việc bảo vệ môi trường biển, tạo ưu thế cho hoạt động hàng hải phát triển. Tuy
nhiên, do giới hạn của từng công trình, chúng đã không đề cập tới việc kiểm soát ô
nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải cũng như phân tích hoạt động này
dưới góc độ luật học.
Ở Việt Nam, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nói chung và từ hoạt động hàng
hải nói riêng nhìn chung ít được đề cập một cách trực tiếp. Tuy nhiên, tài nguyên biển
thì lại được nghiên cứu khá cụ thể. Có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước,
cấp Bộ hoặc các đề tài nghiên cứu như là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan
chuyên môn về vấn đề này được thực hiện khá công phu. Đó là đề tài cấp Nhà nước

ballast cho tàu” do trường Đại học Hàng hải thực hiện năm 2011 với mục tiêu nghiên
cứu và xây dựng qui trình quản lí nước dằn tàu cho các tàu phù hợp với các yêu cầu
của Tổ chức Hàng hải thế giới
Nhìn chung, những đề tài trong nước nêu trên đã nghiên cứu về các hoạt động liên
quan đến tài nguyên biển, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản, như khai thác thủy sản, bảo vệ
nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng nguồn lợi thủy sản, ngư cụ trong các hoạt động thủy sản
hoặc ứng dụng công nghệ mới trong các hoạt động thủy sản. Những đề tài này không đề
cập trực tiếp đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ hoạt động hàng hải mà liên quan
đến việc bảo vệ các nguồn tài nguyên biển, làm cơ sở cho phát triển bền vững môi trường
biển. Hoặc cũng có những đề tài thực hiện về lĩnh vực hàng hải nhưng chỉ là kiểm soát ô
nhiễm môi trường biển từ những góc độ tiếp cận hẹp, đưa ra các giải pháp về khoa học kĩ
thuật chứ không mang tính pháp lí. Những đề tài này ít nhiều có liên quan và làm cơ sở
cho việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải.
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ thì một số các
sách, tài liệu tham khảo, chuyên khảo có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường
biển Việt Nam cũng đã được công bố. Đó là: tác phẩm Kinh tế biển và khoa học kỹ
thuật về biển của nước ta của tác giả Võ Nguyên Giáp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà
Nội, năm 1987; Các văn bản pháp quy về biển và quản lý bờ biển của Việt Nam do
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản tại Hà Nội năm 1995; Môi trường biển và
5
quản lý vùng ven bờ biển của Việt Nam của tác giả Đỗ Đức Dương, Inforterra, Hà Nội
năm 1997; Những điều cần biết về Luật Biển của tác giả Nguyễn Hồng Thao, Nhà xuất
bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 1997; Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam - luật
pháp và thực tiễn của TS. Nguyễn Hồng Thao, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội năm
2003; Cơ sở khoa học, pháp lý và tình hình thực thi các qui định của Công ước 1982
của Liên hiệp quốc về Luật biển trong lĩnh vực nghề cá Việt Nam của tác giả Nguyễn
Chu Hồi và Hồ Thu Minh năm 2003 (Báo cáo lưu trữ tại Ban Biên giới, Bộ Ngoại giao,
Hà Nội); Cẩm nang tập huấn cấp tỉnh về quản lí tổng hợp vùng biển cho Việt Nam, của
tác giả Nguyễn Chu Hồi và những người khác năm 2004 (Tài liệu của MoFi-WorldFish
Centre).…

Tóm lại, cho đến nay, chưa hề có một công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn diện ở
cấp độ Tiến sĩ về những vấn đề lí luận, thực trạng về các khía cạnh pháp lí trong kiểm
soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải để đưa ra những giải pháp cho
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong
hoạt động hàng hải ở Việt Nam. Đề tài luận án “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi
trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam” về cơ bản là đề tài mới, chưa
được nghiên cứu một cách toàn diện.
3. Mục đích, phạm vi, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
 Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lí luận và
thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam.
 Phạm vi nghiên cứu: Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển thuộc phạm vi
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học quản lí môi trường
biển, kinh tế môi trường biển, xã hội học môi trường biển… Kiểm soát ô nhiễm môi
trường biển nói chung và trong hoạt động hàng hải nói riêng thuộc đối tượng điều
chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như hệ thống pháp luật quốc tế, các điều
ước quốc tế có liên quan và hệ thống pháp luật của các quốc gia có biển nhằm điều
chỉnh các hoạt động xâm hại biển và tài nguyên biển. Dưới góc độ pháp lí, kiểm soát ô
nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải thuộc phạm vi nghiên cứu của nhiều
ngành luật như: Dân sự, Kinh tế, Hành chính, Quốc tế… Mỗi ngành luật lại nghiên
cứu vấn đề dưới các nội dung khác nhau.
Trong phạm vi luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu các qui định của pháp luật
Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm biển nhằm điều chỉnh các hoạt động hàng hải trong
phạm vi xa nhất là tính từ vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (khoảng cách 200 hải
lí tính từ Đường Cơ sở) trở vào phía biển Việt Nam, có phân tích các quy định trong
các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia với tư cách thành viên, đồng
thời có tham khảo một số qui định pháp luật của các quốc gia có các điều kiện tương
đồng với Việt Nam về vấn đề này. Tuy nhiên, luận án tập trung nghiên cứu xem xét
các vấn đề nêu trên dưới góc độ pháp luật kinh tế. Điều này có nghĩa là trên cơ sở tiếp
cận toàn diện các nội dung liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển dưới các

hải ở Việt Nam với tính chất là một bộ phận trong hệ thống pháp luật môi trường,
trong mối quan hệ tác động qua lại mật thiết với các đòi hỏi về phát triển kinh tế của
đất nước, đáp ứng các yêu cầu về an ninh chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng…
8
Thứ ba, nghiên cứu các quy định cùng loại trong pháp luật môi trường của một số
nước để rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc hoàn thiện pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam.
Thứ tư, xác lập cơ sở lý luận và đề xuất những kiến nghị cụ thể về việc xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
nhằm đáp ứng được những đòi của thực tiễn cả về trước mắt cũng như lâu dài.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền.
Các phương pháp nghiên cứu: phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu, lịch sử,
chứng minh, tổng hợp, quy nạp. Trong đó, phân tích, thống kê, so sánh và chứng minh
được xác định là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án. Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của luận án để
thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
- Phương pháp thống kê được sử dụng ở cả 3 chương để tập hợp, xử lý các tài
liệu, số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng ở cả ba chương của luận án để
đối chiếu, đánh giá các qui định pháp luật khác nhau của một số quốc gia trên thế giới,
của các điều ước quốc tế về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng
hải với các qui định pháp luật của Việt Nam
- Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm tại
chương 1, các nhận định về thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật kiểm soát ô
nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam tại chương 2 và các yêu
cầu, đề xuất phương án xây dựng, hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường
biển trong hoạt động hàng hải tại chương 3 của luận án.
- Phương pháp tổng hợp, qui nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra những

có liên quan, hoàn thiện và tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan
quản lí nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động hàng hải.
Thứ năm, với mục đích tăng cường hiệu quả của các qui định của pháp luật kiểm
soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải, luận án cũng chỉ ra những giải
pháp hỗ trợ khác như tăng cường tính hiệu quả của các công cụ kinh tế, các biện pháp
khoa học kĩ thuật cũng như giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng và xã hội hóa
công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải.
Về những điểm mới của luận án: Luận án có những điểm mới đóng góp cho sự
phát triển của khoa học chuyên ngành, bao gồm:
Thứ nhất, xây dựng được hệ thống lí luận khoa học về pháp luật kiểm soát ô
nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam.
10
Thứ hai, mô tả một cách toàn diện, đầy đủ về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi
trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập, những lỗ hổng
trong hệ thống pháp luật này; phân tích nguyên nhân của sự yếu kém về năng lực thừa
hành pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường
biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam.
Thứ ba, xây dựng hệ quan điểm khoa học cũng như đưa ra những giải pháp tiến
bộ, hiện đại cho việc hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong
hoạt động hàng hải ở Việt Nam phù hợp với pháp luật quốc tế và xu hướng quản lí
tổng hợp biển, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển và phát triển bền vững tài
nguyên môi trường biển hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lí
luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải, tạo cơ
sở khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của
luận án không chỉ là tài liệu có giá trị cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học mà còn
là tài liệu cho các cơ quan hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải;

hạn. Hơn nữa, biển cả được hình dung là rộng lớn vô cùng, có thể hấp thụ và chuyển
hóa mọi loại chất thải mà con người đưa đến, nên thuật ngữ “môi trường biển” với vấn
đề bảo vệ môi trường biển chưa được đặt ra.
Sau những năm 1960, với sự quan tâm nhiều hơn của cộng đồng thế giới đến bảo
vệ môi trường, thuật ngữ môi trường biển cũng đã dần xuất hiện. Thời kỳ này, thuật
ngữ môi trường biển chưa được sử dụng một cách độc lập mà mới chỉ được đề cập
cùng với những vấn đề liên quan đến bảo tồn tài nguyên biển và kiểm soát ô nhiễm
biển. Phải đến Công ước Luật Biển UNCLOS 1982, bản công ước được cộng đồng
quốc tế coi là Tuyên ngôn về Biển, “môi trường biển” mới được đề cập một cách chính
thức, nhưng cũng chỉ tồn tại dưới dạng liệt kê một số yếu tố tự nhiên của môi trường
biển mà chưa xây dựng được một khái niệm hoàn chỉnh. Cụ thể là Điều 1, khoản 4
Công ước Luật Biển 1982 có quy định “môi trường biển” bao gồm “các cửa sông”,
“hệ động vật biển và hệ thực vật biển”, “chất lượng nước biển” và “giá trị mĩ cảm
của biển”. Rõ ràng định nghĩa trên chưa đạt được mức khái quát về môi trường biển
và vẫn còn ít nhiều phiến diện, vì môi trường biển không chỉ bao gồm những yếu tố
nêu trên mà còn gồm các thành tố khác tạo nên môi trường biển như lòng đất dưới đáy
biển, không khí, nước biển, các tài nguyên phi sinh vật biển…
12
Cùng với nhu cầu bảo vệ biển ngày càng tăng và sự quan tâm nhiều hơn của con
người đến môi trường biển, thuật ngữ môi trường biển đã được sử dụng một cách
chính thức trong Chương trình hành động 21 (Agenda 21). Đây là một văn kiện được
đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường họp tại Rio De Janeiro
năm 1992, là chương trình hành động vì sự phát triển bền vững. Tại Chương 17 của
Agenda 21 định nghĩa “Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các biển
và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy
trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững”.
Đây được coi là định nghĩa chính thức về môi trường biển. Thành công của định nghĩa
này là chỉ ra được giá trị cơ bản của môi trường biển, đó là “duy trì cuộc sống toàn
cầu” và là “tài sản hữu ích”. Định nghĩa đã nhấn mạnh đến mục tiêu phát triển bền
vững, một hướng đi phù hợp với quan điểm bảo vệ môi trường toàn cầu hiện đại. Đồng

biển. Những phân tích này cho thấy môi trường biển được tạo thành bởi các thành phần
môi trường và có mối liên hệ mật thiết qua lại lẫn nhau mà không thể tách rời chúng.
Thứ ba, môi trường biển có chứa nhiều loại tài nguyên. Tài nguyên thuộc môi
trường biển được gọi là tài nguyên biển, được hình thành và phân bố trong khối nước
biển và đại dương, trên bề mặt đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển. Tài nguyên
biển bao gồm tài nguyên sinh vật biển, gồm các dạng sống của thế giới hữu sinh như
tôm cá , và tài nguyên phi sinh vật biển, gồm các dạng vật chất của thế giới vô sinh
như quặng kim loại, đất đá Tài nguyên biển cũng có thể được chia ra thành tài
nguyên biển có thể tái tạo và tài nguyên biển không thể tái tạo, trong đó tài nguyên
biển có thể tái tạo là loại tài nguyên có thể được phục hồi sau một khoảng thời gian
trong điều kiện phù hợp, còn tài nguyên biển không thể tái tạo là các dạng tài nguyên
vô sinh, không thể phục hồi thành phần và khối lượng ban đầu sau khi bị khai thác.
Thứ tư, môi trường biển có nhiều giá trị kinh tế, khoa học và môi sinh. Môi
trường biển được các nhà khoa học đánh giá là cội nguồn của sự sống trên trái đất.
Điều này được thể hiện qua sự đa dạng của sinh học, với 18 vạn loài động vật và 2 vạn
loài thực vật đã được phát hiện, trong đó có 400 loài cá và hơn 100 loài hải sản có giá
trị kinh tế cao [42; tr.14]. Môi trường biển mang lại sự sống cho toàn bộ hệ sinh thái
dưới nước, cho tài nguyên sinh vật biển. Trên thế giới, con người đã khai thác tổng giá
trị kinh tế từ các nguồn tài nguyên biển ước tính khoảng 7000 tỷ USD mỗi năm [45;
tr.09]. Các nhà khoa học dự đoán rằng vào các thế kỉ tới, biển và đại dương sẽ là nơi
dự trữ cuối cùng của loài người về thực phẩm, năng lượng và nhiên liệu. Đồng thời,
biển cũng là nơi diễn ra các hoạt động thương mại du lịch, giao thông vận tải thuỷ, nơi
có thể khai thác giá trị kinh tế to lớn. Khoảng 60% dân số thế giới hiện đang sống tại
các vùng ven biển, và tỉ lệ này có thể tăng lên khoảng 75% vào năm 2020 [66].
Từ những phân tích trên, theo quan điểm của chúng tôi, môi trường biển nên
được định nghĩa “là một thể thống nhất, bao gồm các biển, đại dương, các vùng ven
biển, cửa sông, được giới hạn bởi toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả
những gì chứa trong đó như các loại tài nguyên sinh vật biển và tài nguyên phi sinh
14
vật biển, được tạo nên bởi các thành phần môi trường và sự tương tác giữa chúng, có

hại và nguy cơ ô nhiễm môi trường biển là câu hỏi cần phải được trả lời trước khi đưa
ra một quyết định có chấp nhận ô nhiễm đó hay không [67; tr.88]
Từ góc độ pháp luật quốc tế, thuật ngữ ô nhiễm môi trường biển được đề cập
chính thức tại Công ước Luật Biển 1982, mặc dù trước đó đã có nhiều văn bản pháp lí
15
về biển như Công ước Giơnevơ về biển cả 1958, Công ước về đánh cá và bảo tồn các
tài nguyên sinh vật của biển cả 1966 Theo khoản 4 Điều 1 Công ước Luật biển 1982,
“Ô nhiễm môi trường biển (Pullution du milieu marin) là việc con người trực tiếp hoặc
gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa
sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn
lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con
người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc
sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương
diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển”.
Định nghĩa này có hai (02) điểm khác biệt so với định nghĩa của GESAMP. Một
là, định nghĩa ô nhiễm môi trường biển của GESAMP chỉ nhắc tới những tác hại đã và
đang xảy ra đối với hệ sinh thái biển, trong khi Công ước Luật Biển 1982 đề cập đến
cả những tác hại còn tiềm ẩn trong tương lai, thông qua cụm từ “khi việc đó có thể gây
ra những tác hại ”. Hai là, ngoài những tổn hại cụ thể được liệt kê trong cả hai định
nghĩa, như nguồn lợi sinh vật, sức khỏe con người, việc đánh bắt hải sản Công ước
Luật Biển 1982 còn đề cập đến "các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác". Đây
được xem là bước phát triển không chỉ từ phương diện học thuật mà còn là bước phát
triển về quan điểm lập pháp. Nó cho phép hiểu là pháp luật sẽ bảo vệ ngày một nhiều
hơn, rộng hơn các đối tượng phải chịu tổn thất từ ô nhiễm môi trường biển.
Tiếp theo hai định nghĩa nêu trên, thuật ngữ ô nhiễm môi trường biển còn được
giải nghĩa trong Tuyên bố Putrajaya về hợp tác khu vực cho sự phát triển bền vững các
biển Đông Á (một nội dung trong Chiến lược phát triển bền vững các biển Đông Á
2003, triển khai ở cấp khu vực các yêu cầu của Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát
triển bền vững đối với các đại dương và các vùng ven biển, trong khuôn khổ chương
trình hợp tác khu vực các biển Đông Á, gọi tắt là PEMSEA do Tổ chức Hàng hải quốc

biển chỉ nảy sinh sau khi chất lượng môi trường biển bị biến đổi. Những ảnh hưởng
xấu từ ô nhiễm môi trường biển gây nên hoàn toàn có thể được phân chia và sắp xếp
thành các nhóm theo thứ tự các yếu tố chịu sự tác động từ ô nhiễm môi trường biển.
Cụ thể là hậu quả đối với thành phần cơ bản của môi trường sống là đất, nước, không
khí; hậu quả đối với tài nguyên sinh vật biển, đa dạng sinh học ở biển; hậu quả đối với
tính mạng, sức khoẻ và tài sản, lợi ích của con người; và các hậu quả khác
Thứ ba, các định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển nêu trên mới chỉ ra được khu
vực tiến hành các hoạt động gây ô nhiễm là ở biển và cửa sông. Tuy nhiên, trên thực tế có
rất nhiều khu vực mà ở đó tiến hành các hoạt động của con người có thể gây ô nhiễm môi
trường biển, như hoạt động từ đất liền, trên không trung hay dưới đáy biển
Như vậy, từ những phân tích trên có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn về ô
nhiễm môi trường biển như sau: Ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi thành phần
môi trường biển, có nguyên nhân từ những biến đổi bất thường của tự nhiên hoặc/và
từ việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu và/hoặc năng lượng vào
môi trường biển, bao gồm từ các cửa sông, đất liền, trên không trung, đáy biển, từ đó
gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như suy giảm chức năng và tính hữu ích của
17
môi trường biển, gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật
biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển,
kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm
biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị
mĩ cảm của biển”.
Giá trị khoa học của định nghĩa này là cho phép mở rộng phạm vi nghiên cứu về
chủ thể, khách thể và đối tượng của hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển mà
luận án sẽ đề cập ở phần sau.
1.1.2. Hoạt động hàng hải và ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động hàng hải và những tác động tiêu cực của nó
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, hàng hải là vận tải đường biển [50; tr.777], còn vận
tải là dùng phương tiện để chuyên chở người hoặc vật đi đường dài [50; tr.1802]. Từ
điển Tiếng Anh Oxford định nghĩa “hàng hải là có liên quan tới tàu thủy hoặc các

thăm dò và khai thác tài nguyên như khoáng sản, dầu khí, nguồn lợi thủy sản; khảo sát,
đo đạc, biên vẽ hải đồ; các hoạt động tuần tra kiểm soát trên biển nhằm đảm bảo an
ninh, an toàn và bảo vệ môi trường như các mục đích an ninh quốc phòng, chống buôn
lậu trên biển, phòng chống tội phạm trên biển. Các hoạt động có liên quan đến hoạt
động hàng hải diễn ra trên đất liền bao gồm: các hoạt động tại cảng biển, các hoạt
động quản lí, theo dõi, cung cấp thông tin về tàu, hoạt động công nghiệp hàng hải, giải
quyết các tranh chấp hàng hải, bảo hiểm hàng hải… Các dịch vụ đi kèm hoạt động
hàng hải bao gồm dịch vụ logistic, dịch vụ vận tải đa phương thức, dịch vụ lai dắt tàu
biển, dịch vụ môi giới hàng hải…
Thứ ba, tiếp cận theo cách này, có nhiều nhóm quan hệ phát sinh từ hoạt động
hàng hải, đó là nhóm quan hệ của nhà nước, của các cơ quan công quyền của nhà nước
với các cá nhân, pháp nhân và cả các cơ quan công quyền khác của nhà nước; nhóm
quan hệ phát sinh giữa các quốc gia liên quan đến tàu và các phương tiện hoạt động
trên các vùng biển; nhóm quan hệ giữa các bên, bao gồm cả cá nhân và pháp nhân
tham gia hoạt động vận tải bằng đường biển.
Theo nghĩa hẹp, “hoạt động hàng hải” chỉ đơn thuần là hoạt động liên quan đến
việc sử dụng tàu biển, có liên quan đến việc di chuyển bằng đường biển. Với cách tiếp
cận này, hoạt động hàng hải được thực hiện trên các phương tiện vận tải biển, liên
quan trực tiếp đến việc sử dụng các loại tàu khác nhau như: tàu hàng rời, tàu kết hợp,
tàu container, tàu chở khí gas, tàu chở hàng tổng hợp, tàu Ro/Ro, tàu chở quặng, tàu
khách, tàu chở hóa chất, tàu chở dầu, phương tiện chìm nổi trên biển như tàu ngầm
chiến đấu, bông-tông… Hơn nữa, với đặc thù của hoạt động hàng hải là có phạm vi
rộng, vượt cả ra ngoài biên giới quốc gia (trên biển) nên tàu biển không chỉ hoạt động
trong vùng biển của một quốc gia mà còn hoạt động tại vùng biển hoặc cảng biển của
các quốc gia khác. Và vì vậy, hoạt động hàng hải theo nghĩa hẹp không đặt ra và giải
quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch của tàu biển, màu cờ của tàu biển mà tập
19
trung vào những hoạt động cụ thể của con tàu. Nói cách khác là hoạt động hàng hải
xem xét đến tất cả các vấn đề có liên quan đến hoạt động của mỗi con tàu, từ khi tàu
chuẩn bị xuất bến tại cảng, di chuyển trên biển, gặp tai nạn (nếu có) đến khi hoàn

ngữ “hoạt động hàng hải” theo nghĩa hẹp, tiếp cận hoạt động hàng hải dưới góc độ đơn
giản nhất, đó là việc sử dụng con tàu và các phương tiện vận tải biển, các phương tiện
20
chìm và nổi trên biển (sau đây gọi chung là tàu biển) vì bất kì mục đích gì trong phạm
vi biên giới biển của Việt Nam. Theo nghĩa này, hoạt động hàng hải bao gồm những
nội dung chính sau đây:
Một là, hoạt động hàng hải liên quan đến tàu biển trong suốt hải trình, bao gồm
các hoạt động từ khi tàu xuất bến cho tới khi cập cảng cuối cùng, kết thúc hải trình.
Hai là, hoạt động hàng hải thực hiện với nhiều mục đích khác nhau như kinh tế,
chính trị, an ninh quốc phòng, đảm bảo an toàn hàng hải, phòng chống tội phạm trên
biển hay bảo vệ môi trường… Cho dù với mục đích gì thì chúng cũng có chung bản
chất pháp lí là các mối quan hệ về tàu biển và việc sử dụng tàu biển.
Ba là, hoạt động hàng hải diễn ra trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Theo qui
định của pháp luật Việt Nam, đường biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam là ranh
giới phía ngoài của lãnh hải, có chiều rộng tối đa là mười hai (12) hải lí tính từ đường
cơ sở. Trong phạm vi biên giới biển của mình, Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn và
đầy đủ đối với mọi hoạt động của tàu thuyền trong nước cũng như nước ngoài. Vì vậy,
mọi hoạt động của tàu thuyền diễn ra trong phạm vi ranh giới phía ngoài của lãnh hải
trở vào đều thuộc giới hạn của thuật ngữ “hoạt động hàng hải” nêu trên.
Được thực hiện với các mục đích khác nhau, hoạt động hàng hải mang lại nhiều
giá trị to lớn cho sự phát triển của đất nước. Trong tiến trình giao lưu quan hệ kinh tế
quốc tế toàn cầu hiện nay, việc vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển ngày
càng trở nên phổ biến và chiếm tỉ trọng lớn so với các loại phương tiện khác. Sự gia
tăng nhu cầu của xã hội đối với hoạt động hàng hải đã kéo theo sự gia tăng nhu cầu
phát triển các hoạt động và ngành nghề khác có liên quan đến hoạt động hàng hải, như
dịch vụ hàng hải, công nghiệp sản xuất phương tiện vận chuyển, tàu thuyền, đội ngũ
thuyền viên cho tới các vấn đề thuộc về an toàn và an ninh hàng hải Không thể phủ
nhận được những giá trị to lớn về mặt kinh tế, chính trị, ngoại giao mà các hoạt động
nêu trên mang lại cho quốc gia có biển như Việt Nam, song, như là tính hai mặt của
một vấn đề, hoạt động hàng hải nói riêng, hoạt động có liên quan đến hàng hải nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status