SKKN một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt ở trường THCS BA ĐÌNH bỉm sơn - Pdf 18

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
Ở TRƯỜNG THCS
1
Người thực hiện: Trần Thị Nga
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Ba Đình
SKKN thuộc môn: Chủ nhiệm
THANH HOÁ, NĂM 2013
2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết, mục đích của giáo dục là đào tạo những con
người phát triển toàn diện mà cụ thể là đức và tài. Đến nay chúng ta
đã có rất nhiều những thành công trong công tác giáo dục. Góp phần
vào sự thành công ấy có giáo dục của bậc THCS nói riêng và ở các
cấp học nói chung. Nói về giáo dục ở bậc THCS, bên cạnh những
đóng góp không nhỏ cho nền giáo dục nước nhà và rất nhiều học sinh
của chúng ta có đạo đức tốt, có năng lực và kết quả học tập cao nhưng
bên cạnh đó trong nhà trường vẫn còn tồn tại những học sinh có kết
quả giáo dục chưa cao, đặc biệt là về giáo dục đạo đức. Đó là những
học sinh có thái độ – biểu hiện đạo đức yếu kém mà ta hay gọi là học
sinh cá biệt.
Đối với học sinh cá biệt chúng ta bỏ ngoài ư? Mặc kệ ư? Không!
Không thể được. Nếu chúng ta có biện pháp giáo dục phù hợp với đối
tượng này thì tôi tin rằng công sức mà chúng ta bỏ ra là không hề lảng
phí. Như chúng ta đã biết, những em học sinh cá biệt là những em
thường hay có cá tính, hoặc có lí do đặc biệt. Nếu ta phát huy được cá
3

triển nhanh, mạnh về mặt tâm sinh lí, cái tốt, cái xấu các em chưa dễ
dàng phân biệt. Vì vậy sự xuống cấp về mặt đạo đức của một bộ phận
học sinh đang làm nhức nhối xã hội và nhà trường, hiện tượng đó có
nơi có lúc đang ngày một gia tăng, khiến cho các nhà giáo dục và các
cấp quản lý, phụ huynh và xã hội đang rất quan tâm, đặc biệt là
những người thầy giáo, cô giáo đang trực tiếp giảng dạy các em. Học
sinh trường THCS Ba Đỡnh cũng không tránh khỏi tình trạng đó.
3. Mục đích của đề tài.
5
- Khi nghiên đề tài: “Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở
trường THCS Ba Đình” tôi nhằm tìm ra các biện pháp giáo dục học
sinh cá biệt và vận dụng các biện pháp đó vào việc giáo dục học sinh
cá biệt ở trường THCS Ba Đình.
II. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Sau khi nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục học sinh
cá biệt ở trường THCS Ba Đình” tôi muốn được góp một phần kinh
nghiệm của mình vào việc giáo dục học sinh cá biệt ở trường THCS
Ba Đình nói riêng và ở các trường THCS nói chung. Đồng thời góp
phần vào việc kết hợp giữa “ Gia đình – nhà trường và xã hội” trong
việc giáo dục học sinh nhằm hướng con em mình trở thành con ngoan
– trò giỏi, người có ích cho xã hội.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng: Khi nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục
học sinh cá biệt ở trường THCS ”thì đối tượng nghiên cứu là học
sinh lớp 9c trường THCS Ba Đình có những biểu hiện vi phạm đạo
đức và vận dụng các biện pháp giáo dục những đối tượng học sinh
này.
6
2.Phạm vi nghiên cứu : học sinh lớp 9c trường THCS Ba Đình, Bỉm
Sơn, Thanh Hóa.

một tuổi lớn hơn, bắt đầu nhìn đời bằng những tò mò, có nhiều hứa
8
hẹn, thậm chí là rất thích thể hiện mình là người lớn…Nhưng nhìn lại
thì các em vẫn còn là lứa tuổi thơ dại, dễ bị cám dỗ, sa ngã.
Học sinh THCS tuy là lứa tuổi phát triển nhanh, mạnh nhưng lại
không đồng đều về mặt cơ thể. Tầm vóc của các em lớn lên trông
thấy, trung bình mỗi năm cao lên được từ 5 đến 6cm. Trọng lượng cơ
thể mỗi năm tăng từ 2,5 đến 6kg. ở lứa tuổi này các em thường không
mập béo mà cao gầy, thiếu cân đối. Các em có vẻ lóng ngóng vụng về,
không khéo khi làm việc, thiếu thận trọng, hay làm đổ vỡ….Điều đó
gây cho các em một tâm lí khó chịu. Các em ý thức được sự lóng
ngóng vụng về của mình và cố gắng che dấu nó bằng một điệu bộ
không tự nhiên, cầu kì, tỏ ra vẻ mạnh bạo, can đảm để người khác
không chú ý đến vẻ bề ngoài của mình. Vì vậy chỉ một một sự mỉa
mai, chế giễu nhẹ nhàng về hình thể, tư thế đi đứng của các em thì có
thể gây cho các em những phản ứng mạnh mẽ.
Hệ thần kinh của các em còn chưa có khả năng chịu đựng những
kích thích
mạnh, đơn điệu, kéo dài…Do tác động của những kích thích như thế
thường xuyên sẽ gây cho các em tình trạng ức chế, hay xảy ra tình
trạng bi kịch, bị kích động mạnh. Vì vậy, sự phong phú của các ấn
9
tượng, sự chấn động thần kinh mạnh hoặc sự chờ đợi kéo dài vì những
biến cố gây xúc động đều có thể tác động mạnh đến tuổi vị thành niên,
có thể làm cho một số em bị ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ đãng, tản mạn,…
số khác lại làm những hành vi xấu, không đúng với bản chất của các
em.
Sự thay đổi về thể chất và tinh thần chưa ổn định ấy của lứa tuổi
vị thành niên làm cho các em có đặc điểm nhân cách khác với các em
khi ở lứa tuổi trước đó. Nhận thức của người vị thành niên cho thấy

11
đến những hành vi xấu ( đánh bài, đánh “chát”, chơi bi ăn tiền, tụ tập
chơi điện tử và nhiều thứ khác…)
Hoặc có nhiều gia đình kinh doanh làm ăn bất chính để kiếm
tiền như buôn bán văn hoá phẩm đồi trụy, mua bán ma túy, tổ chức
đánh bạc, chứa gái mại dâm…
….cũng là môi trường gây độc cho trẻ.
Còn một lí do mà ta không thể bỏ qua, đó là nhiều trẻ em sinh ra
trong gia đình quá nghèo túng, nên chúng mặc cảm về bản thân gia
đình mình, chúng cảm thấy thua kém bạn bè, thiếu thốn. Thế rồi
chúng lơ là, bỏ bê việc học tập, thường xuyên vi phạm những nội qui,
qui định của trường, lớp. Thậm chí có em vì không có tiền thoả mãn
nhu cầu cá nhân, sở thích, những cuộc vui chơi…chúng sinh ra trộm
cắp, lừa dối.
Một số em do cha mẹ đánh cãi nhau, bất hòa, ly hôn nên em ở
với mẹ thí thiếu bố, em ở với bố thì thiếu mẹ. Thậm trí có nhiều gia
đình bố mẹ bị đi cải tạo nêm con cái không được nuôi dạy cẩn thận.
Trên đây là những nguyên nhân từ phía gia đình dẫn đến tình
trạng học sinh cá biệt. Các bậc cha mẹ cần lưa tâm chú ý để giáo dục
con cái mình. Cha mẹ phải là tấm gương đầu tiên cho con cái noi theo.
12
Thứ ba: Nguyên nhân từ nhà trường
Nhà trường là môi trường giáo dục học sinh theo hệ thống và có
phương pháp nhất. Nhưng có thể nói, hiện nay trong nhà trường còn
tồn tại một kỉ luật học đường chưa thật nghiêm.
Ta thấy rõ, thầy cô giáo và nhà trường ngoài các biện pháp nhắc
nhở, cảnh báo, đuổi học không được phép răn đe học sinh hư, học sinh
chậm tiến bằng hình phạt khác. Vì lẽ đó cũng hình thành ở học sinh
tâm lí “nhờn” với thầy cô giáo, hỗn với người trên tuổi.
Bên cạnh đó, việc giảng dạy các môn đạo đức (dạy làm người ),

14
ngược”. Điều đó cũng giống như cảnh gia đình lộn xộn, đổ vỡ, trẻ bị
bỏ rơi, thiếu sự quan tâm chăm sóc, thiếu tình thương, dần dần thoát
li khỏi ảnh hưởng giáo dục cần thiết.
Tóm lại việc nghiên cứu phát hiện đúng nguyên nhân khó giáo
dục ở học sinh là vô cùng quan trọng đối với tất cả các giáo viên và cả
các bậc cha mẹ. Nó cũng giống như việc chuẩn đoán bệnh của thầy
thuốc trước khi bắt tay vào chữa trị
Thứ tư: Nguyên nhân từ phía xã hội
Việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường đã gây ra
những biến đổi xã hội rất lớn, có ảnh hưởng không nhỏ đối với lứa
tuổi học sinh. Những mặt trái từ phía xã hội như buôn lậu, nghiện hút,
cờ bạc, đề đóm, mại dâm….và các hành vi phạm pháp khác của người
lớn đã ảnh hưởng tiêu cực đến các em.
Do sự quản lí không chặt chẽ của các nhà chức trách, do lợi
nhuận kinh tế của các nhà kinh doanh, buôn bán không cần để ý đến
đã ảnh hưởng đến ai. Ra đường ta thấy đầy rẫy những quán “chát”,
“Game”, quán bi-a và nhiều loại quán khác đã rất thu hút trẻ như một
“ma lực”. Bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu câu chuyện không lành mạnh
đã tiêm vào đầu trẻ như một liều thuốc rất không bổ.
15
Mặt khác do trẻ em a dua theo bạn bạn bè, bị bạn bè rủ rê lôi
kéo vào những hoạt động xấu gây tác hại cho gia đình, nhà trường và
xã hội
Hoặc cũng có thể do hoàn cảnh sống đã tác động đến trẻ. ở đâu
có tệ nạn xã hội xảy ra nhiều thì ở đó tập trung nhiều trẻ em phạm
pháp
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản, dẫn đến tình trạng học
sinh cá biệt – khó giáo dục. Chúng ta và tất cả những người làm công
tác giáo dục cần tìm ra nguyên nhân cụ thể đối với từng học sinh cá

Tốt (%) Khỏ (%) Trung Bỡnh
(%)
Yếu (%) Kộm (%)
20 20 40 20 0
17
2.2 Tình hình nhà trường
Như trên chúng ta đã biết, việc thay đổi cách sống, cách sinh hoạt
của cộng đồng tất sẽ dẫn đến sự thay đổi của trẻ em ( trẻ thường lấy
người lớn làm gương, các gương xấu dễ bị tiếp thu hơn). Học sinh
THCS Ba Đỡnh cũng nằm trong tình trạng chung của học sinh THCS
trên địa bàn của thị xã. Trong những năm qua, do có sự đi lại thuận
lợi, cơ sở vật chất trường lớp được khang trang hơn, chất lượng và
thành tích của nhà trường được nâng lên ( trong đề tài này tôi chưa nói
đến thành tích của học sinh và nhà trường) nên có một số học sinh ở
khác phường xin về học . Trong số các em chuyển về trường học có
nhiều em chăm ngoan học giỏi, song vẫn có một số em thuộc dạng
học sinh cá biệt. Những học sinh này kết hợp với số học sinh hư trong
trường làm tăng thêm số lượng học sinh cá biệt, một số học sinh lớp
9C là điển hình.
Mặt khác, phần lớn phụ huynh học sinh còn hạn chế về kiến thức,
kinh nghiệm giáo dục con em, sự quan tâm, quản lý con cái còn chưa
đúng mức. Nhiều gia đình chưa thực sự phối hợp với nhà trường trong
18
việc giáo dục con cái - phó mặc cho nhà trường. Nhiều phụ huynh nhà
trường cần găp thì không đến, có phụ huynh đến thì thái độ lại khó
chịu. Nhiều học sinh bố mẹ không quản lý được như để cho con em đi
chơi lêu lổng, nói dối ( ban đêm không học vẫn tụ tập để đi chơi ngoài
đường từ đó nảy sinh nhiều vấn đề về đạo đức).
Hiện nay nhà trường có 16 lớp học, mỗi khối có 4 lớp nhìn chung
các em đều chăm ngoan, học giỏi , song rải ở các lớp vẫn có những

phẩm chất và bổn phận đạo đức của công dân ) và kiến thức pháp luật
để các em biết và giác ngộ, sửa chữa dần dần những việc làm, hành vi
20
không phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Vì vậy, trong trường học,
cần có giáo viên dạy pháp luật nói riêng và dạy giáo dục công dân nói
chung có trình độ và chuyên môn vững vàng để truyền đạt đến học
sinh một cách có hiệu quả. Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm và các giáo
viên bộ môn cần có sự quan tâm chú ý đến học sinh lớp mình, đặc biệt
là học sinh cá biệt. Giáo viên chủ nhiệm là người chịu trách nhiệm
trước nhà trường, trước cha mẹ học sinh về sự phát triển nhân cách
của từng học sinh theo mục tiêu giáo dục.
Do đó, đối với học sinh cá biệt, bản thân tôi đưa ra một số biện
pháp sau đây:
Thứ nhất: Biện pháp xây dựng lại niềm tin
Bình thường, trẻ em vốn có niềm tin vào “thế giới” người lớn,
hồn nhiên và yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em cũng như những
người xung quanh.
Vì những lí do xã hội và hoàn cảnh phức tạp của cá nhân mà
niềm tin của các em bị phai nhạt và đổ vỡ, thậm chí các em có những
tình cảm ngược lại: oán giận xã hội, căm ghét gia đình và những
người xung quanh, mặc cảm về chính bản thân, về thân phận bất hạnh
21
của mình. Vì vậy, nhà giáo dục như chúng tôi nên thực hiện theo các
yêu cầu sau:
Từ những phút đầu tiên tiếp xúc với trẻ, phải tạo cơ hội để các
em có cái nhìn đúng đắn ( không bị khúc xạ, xuyên tạc, làm méo mó
đi ) về thế giới khách quan, về các mối quan hệ giữa người với người.
Từng bước, từng bước khôi phục lại, nâng dần lên, hiểu đúng các quy
tắc xã hội và những tiêu chuẩn đạo đức nhân cách, những tiêu chuẩn
hành vi, gợi lên lòng tin của các emg với mọi người, với cuc sống

1.1 Trừng phạt.
23
Trừng phạt phải được đối tượng nhận thức tiếp thu như là hình thức
đặc biệt của yêu cầu chung đối với hành vi sai trái của các em. Trong
nội dung trừng phạt đồng thời nên có các nội dung:
- Phê phán, chỉ trích việc làm sai trái
- Lời chỉ dẫn sửa chữa hoặc qui tụ hành vi để khắc phục sai phạm
đó.
- Cảnh báo, răn đe sự việc tái diễn để phòng ngừa về sau
- Trừng phạt được áp dụng để sửa trị những lỗi lầm của trẻ sai
phạm ở mức độ nặng nề ( như chúng đã xúc phạm thô bạo bạn bè, mọi
người, luôn luôn bộc lộ tính
hung tợn, tính chấp nhặt trả thù khiến cho trẻ khác sợ hãi) .
Nhưng trừng phạt phải chặt chẽ, thích đáng, tránh tạo cơ hội để trẻ
bộc lộ sự ranh mãnh đối phó theo kiểu đạo đức giả. Khi trừng phạt
phải vạch rõ lý do chính đáng đảm bảo cho việc trừng phạt đạt hiệu
quả mong đợi của mọi người, làm cho đối tượng chuyển biến thái độ
hành vi. Thực hiện việc trừng phạt phải được dư luận của nhóm đồng
tình ủng hộ.
Phải nhạy bén linh hoạt thay đổi hình thức phạt khi cần thiết và
cũng không nên trừng phạt một cách máy móc hình thức. Tối kị việc
24
trừng phạt hàng loạt trẻ với một hình thức sáo mòn nào đó. Khi bản
thân trẻ đã hiểu rõ tính nết và cung cách giáo dục của nhà giáo dục mà
người đó lại không chịu cải tiến hình phạt, rễ dẫn đến thái độ khinh
nhờn của trẻ, vì chúng cho rằng như vậy là tắc trách, là không khách
quan. Vì vậy đối với mỗi đối tượng, phải sâu sát với chúng và cá biệt
hoá cả cách thức trách phạt thì hiệu quả mới tốt. Ví dụ: có trẻ phải
cương quyết, có trẻ phải dùng áp lực, dư luận tập thể; có trẻ phải tâm
tình thuyết phục, thậm chí mời gia đình giáo dục. Việc thực hiện thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status