Tiểu luận Quản trị tài chính tập đoàn Toyota - Pdf 19

KHOA KINH TẾ - LUẬT
TIỂU LUẬN: Quản trị tài chính của Tập Đoàn Toyota
GVHD: ThS. Huỳnh Thị Thúy Giang
Thực hiện: Nhóm Nhí Nhố
NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Môn Học: Quản Trị Tài Chính CTĐQG
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
Tp. HCM, ngày 15 tháng 3 năm 2010
LỜI MỞ ĐẦU
Từ một người thợ mộc không được học hành đến nơi đến chốn trở thành người
sáng lập ra tập đoàn ô tô lớn nhất thế giới. Đó là câu chuyện nghe có vẻ khó tin nhưng có
thực.
Nhiều “ông lớn” trong nền kinh tế thế giới đã “đột tử” trong làn sóng của cuộc
khủng hoảng tài chính 2007 -2010 vừa qua nhưng đâu đó lại tồn tại một số công ty nhờ
đó tạo được vị thế của mình. Điều này có thật.
Không chỉ có trong mình cả hai điều trên mà tập đoàn xe hơi Toyota là đại diện
cho tinh hoa công nghệ của đất nước mặt trời mọc. Chỉ trong một thời gian ngắn với
những con người đầy đam mê, sáng tạo Toyota đã biến mình từ con số 0 ở đầu những
năm 30 thế kỷ 19 trở thành tập đoàn ô tô số 1 thế giới. Đó quả là điều kì diệu.
Tiểu luận này, sẽ mang đến cho bạn cái nhìn tổng quát về chặng đường mà tập
đoàn nay đã trải qua. Bên cạnh đó xem xét hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài
chính của nó trong những năm gần đây. Liệu rằng những khó khăn Toyota đang gặp phải
quanh việc thu hồi xe trên toàn cầu có thể “hạ gục” nó hay không? Hãy tự mình đọc và
khám phá điều đó!
Nhí Nhố Group
2
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
NỘI DUNG CHÍNH
I. SƠ LƯỢC VỀ TOYOTA
Toyota Motor Corporation (Nhật: Toyota Jidosha Kabushiki-gaisha) là một công ty
đa quốc gia có trụ sở tại Nhật Bản, và nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới tính đến năm

bố chiếc xe ôtô đầu tiên, mở đường cho kỷ nguyên huy hoàng của tập đoàn Toyota sau
này.
2. Toyota qua các giai đoạn
Lịch sử của Toyota bắt đầu vào năm 1933 như là một bộ phận của Toyoda
Automatic Loom Works dành cho sản xuất ô tô dưới sự hướng dẫn của con trai của người
sáng lập, Kiichiro Toyoda. Xe đầu tiên của nó là chiếc xe chở khách A1 và G1 là vào năm
1935. Năm 1936, Toyota đã nhập thị trường xe du lịch với AA Mẫu của mình và tổ chức
một cuộc thi thiết kế logo với những tiêu chí phải dễ hiểu, gợi tả được đó là một công ty
trong nước và chứa đựng những âm tiết Nhật Bản. Trong số 27.000 mẫu biểu tượng được
gửi về, có một biểu tượng mang tên “Toyota” với hình tròn bao quanh.
Cái tên “Toyota” phát âm không rõ như Toyoda, nhưng có vẻ như nó thích hợp
hơn đối với tâm lý quảng cáo, hơn nữa, chữ Toyota (トヨタ) chỉ có 8 nét so với 10 nét
của Toyoda (トヨダ ), theo quan niệm truyền thống của người Nhật, con số 8 mang lại sự
may mắn và tượng trưng cho sự lớn mạnh không ngừng, trong khi đó số 10 là một số tròn
chĩnh, không còn chỗ cho sự phát triển. Thương hiệu Toyota ra đời từ đó và tháng 4/1937,
Toyota chính thức được đăng ký bản quyền thương mại. Logo này không còn được gắn
trên các xe của Toyota nữa nhưng vẫn là biểu tượng của tập đoàn này tại Nhật Bản. Logo
hiện nay Toyota đang sử dụng được giới thiệu trên toàn thế giới vào năm 1989. Có ba
ovals trong logo mới kết hợp tạo thành kí tự "T", đó là viết tắt của Toyota. Hai ovals bên
trong chồng chéo vuông góc đại diện cho mối quan hệ chặt chẽ cùng có lợi được đặt giữa
khách hàng và công ty trong khi hình bầu dục lớn bao quanh bên ngoài đại diện cho việc
mở rộng "của công nghệ toàn cầu của Toyota và tiềm năng không giới hạn cho tương lai.
Toyota Motor Co được thành lập như một công ty độc lập vào năm 1937.
4
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
Từ năm 1936 đến 1943, công ty chỉ sản xuất 1757 xe ô tô, trong đó có 1404 chiếc
sedan và 353 chiếc xe ngựa (mẫu AB). Tuy nhiên, Toyota lại thành công hơn trong lĩnh
vực sản xuất xe tải và xe bus.
Sau Thế chiến thứ 2, Toyota bận rộn với việc chế tạo xe tải, nhưng đến năm 1947,
hãng bắt đầu sản xuất mẫu SA được gọi là Toyopet, một cái tên gắn bó với Toyota trong

Thương hiệu Scion được thành lập vào đầu năm 2000 với 3 mẫu xe được phát triển
trên nền chiếc Echo cũ, với 2 loại động cơ – động cơ nhỏ cho phiên bản xA và xB và
động cơ 2.4 lít cho phiên bản thể thao tC. Scion nhanh chóng đạt được doanh số rất cao
ngay khi xuất hiện. Điều này dẫn đến việc giới thiệu rộng rãi Scion trên toàn nước Mỹ và
mặc dù được quảng cáo rất ít nhưng Scion vẫn đạt được những thành công đáng kể. Mặc
dù Scion không thu hút nhiều giới trẻ như Toyota mong đợi, nhưng nó cũng mang đến
một bộ phận khác hàng trẻ để lắp vào chỗ trống trong phân khúc thị trường do Toyota và
Lexus để lại.
May mắn nắm bắt được cơ hội từ “khủng hoảng tài chính”, vào năm 2008, hãng xe
hơi Toyota của Nhật Bản cuối cùng đã thay thế hãng xe hơi General Motors (GM) của
Mỹ và trở thành “ông anh cả” trong ngành chế tạo ô tô toàn cầu, thực hiện được giấc
mộng là thống trị thị trường xe hơi thế giới.
Tuy nhiên, viễn cảnh tươi sáng này lại không kéo dài, gần đây sự kiện thu hồi xe
do chân ga có vấn đề càng ngày càng nhiều, đã tác động nghiêm trọng tới danh dự của
Toyota, đồng thời còn làm lung lay lòng tin của thị trường toàn cầu với thương hiệu
“Made in Japan”.
Cách đây vài ngày, Toyota không ngừng tuyên bố một loạt các thông tin về thu hồi
xe, tổng số lượng xe hơi bị thu hồi tại các thị trường ở khắp nơi như Mỹ, Trung Quốc dự
kiến sẽ hơn 9 triệu chiếc, thậm chí còn lớn hơn cả lượng tiêu thụ xe hơn 7 triệu chiếc của
hãng trong năm 2009 vừa qua. Có phân tích cho rằng, uy tín danh dự của Toyota đang
đứng trước nguy cơ “sụp đổ”.
Ngày 29/01/10 Toyota lại tuyên bố, công ty sẽ chủ động thu hồi 646000 chiếc xe
hơi kiểu nhỏ gọn trên phạm vi toàn cầu, bộ phận đóng mở cửa xe của những chiếc ô tô
này quá nóng sau khi tiếp xúc chất lỏng, sẽ gây ra khói, tan chảy hay thậm chí bốc cháy.
Nếu như đại gia Phố Wall của Mỹ - Lehman Brothers với lịch sử 150 năm đã bị
phá sản tháng 9/2008, đồng thời cũng khiến cuộc khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn chỉ
trong một đêm diễn biến thành khủng hoảng tài chính toàn cầu. Danh dự của ngành tài
6
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
chính Mỹ bị sụp đổ hoàn toànThì hiện nay, nguy cơ mà Toyota đang đối mặt chỉ mới vừa

Năm 1947, hãng bắt đầu sản xuất mẫu SA được gọi là Toyopet. Toyopet không
phải là một chiếc xe mạnh mẽ khi động cơ chỉ có 27 mã lực và tốc độ tối đa đạt 88 km/h,
nhưng nó có giá thành rẻ và đặc biệt thích hợp với những con đường bị bom đạn tàn phá
trong chiến tranh. Trong 5 năm đã có 215 chiếc SA Toyopet được sản xuất. Mẫu SD, một
phiên bản cho xe taxi, có lẽ đạt được nhiều thành công hơn khi có 194 chiếc được sản
xuất trong 2 năm. Mẫu SF Toyopet là chiếc ô tô thật sự phổ biến đầu tiên của Toyota với
động cơ được cải tiến và có thêm phiên bản cho xe taxi. Mẫu RH với động cơ 48 mã lực
được ra đời ngay sau đó. Đến năm 1955, Toyota đã sản xuất được 8400 xe mỗi năm và
con số này tăng lên 600.000 xe trong năm 1965.
8
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
Toyopet SA
Ngoài những mẫu xe này, Toyota còn bắt đầu sản xuất một mẫu xe tải cho dân
thường với tên gọi Land Cruiser. Những chiếc Land Cruiser đầu tiên có thiết kế giống
chiếc Jeep và được sản xuất dựa chủ yếu vào chiếc xe chở vũ khí 0,5 tấn của Dodge và
chiếc Bantam (phiên bản trước của chiếc Jeep). Chúng sử dụng động cơ lớn hơn chiếc
Jeep và có kích cỡ cũng như thông số giống một chiếc xe chở vũ khí của Dodge.
Land Cruiser 1975
Năm 1955, Toyota bắt đầu sản xuất Crown, sử dụng động cơ 4 xylanh dung tích
1.5 lít và hộp số 3 cấp; sau đó là chiếc Corona với động cơ dung tích 1.0 lít. Năm 1955,
chỉ có 700 xe được sản xuất mỗi tháng, nhưng con số này nhanh chóng tăng lên 11.750 xe
năm 1958 và 50.000 xe năm 1964.
Năm 1964 Toyota cho ra dòng Toyota Corona PT20. Chiếc xe 6 chỗ này được
trang bị động cơ 70 mã lực và có thể đạt vận tốc tối đa 144 km/h và có nội thất rất thoải
mái. Một năm sau, chiếc Corona xuất hiện với giá dưới $2000. Doanh số bán ra đạt 6400
chiếc trong năm 1965 và tăng lên 71.000 năm 1968 và gần như tăng gấp đối mỗi năm khi
đạt 300.000 chiếc vào năm 1971.Năm 1967, Corona có giá bán rất cạnh tranh là $1760
với sự hài hòa về hiệu suất, tiện nghi và mức độ tiết kiệm nhiên liệu.
9
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota

Toyota Corolla
b) Thị phần:
Toyota, đã vượt qua Ford từ năm 2003 để giành vị trí nhà sản xuất lớn thứ 2 thế
giới, sẽ tiếp tục mở thêm các nhà máy tại Nga, Thái Lan và Trung Quốc để đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng.
Theo khảo sát của Consumer Reports, năm 2008 vừa qua, Toyota, Honda và Ford
là ba nhà sản xuất ô tô được người tiêu dùng Mỹ yêu thích nhất.
11
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
Toyota vinh dự đứng vị trí đầu bảng trong 3 năm liên tiếp, kết quả của cuộc khảo
sát ý kiến hơn 1.700 người tại Mỹ hồi đầu tháng 12/2008. Tập đoàn Honda đứng vị trí thứ
2 nhờ vào các mẫu xe chất lượng cao và thân thiện với môi trường.
Ford, Cadillac và Merdedes-Benz là những nhãn hiệu nằm trong top 5. Mercedes
được bình chọn là nhãn hiệu xe có thiết kế đẹp, còn Cadillac được yêu thích nhờ áp dụng
công nghệ tiên tiến và cả hai nhãn hiệu này cũng nằm trong danh sách xe chất lượng tốt.
Tuy nhiên, Mercedes và Cadillac lại đứng ở những vị trí cuối bảng về độ tin cậy.
Tuy nhiên sau vụ thu hồi xe thị phần của Toyota giảm mạnh:
SOURCE: Motorintelligence.com | Tobey/The Washington Post - February 3, 2010
4. Đối thủ cạnh tranh của Toyota
Đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Toyota là GM và Ford.
GM đã giữ ngôi vị nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới trong suốt 77 năm, kể từ khi
“phế truất” Ford vào năm 1931, hai năm trước khi Toyota bắt đầu con đường chinh phục
nước Mỹ.
Năm 2006: GM vượt xa Toyota tại Trung Quốc, thị trường lớn thứ 3 thế giới sau
Nhật và Mỹ. Năm 2005, GM chiếm 11% thị phần xe hơi Trung Quốc, trong khi Toyota
chỉ có 3,5%. Tại đây, GM đã có 5 nhà máy liên doanh lắp ráp gần như toàn bộ các mẫu xe
của GM bán tại Trung Quốc và dự tính sẽ đầu tư thêm 3 tỷ USD trong giai đoạn 2004-
2007 để mở rộng sản xuất.
Tuy nhiên: Quý 1/2007, Toyota đã tạm thời “dẫn trước” General Motors (GM) để
trở thành hãng xe hơi lớn nhất thế giới, với doanh số năm 2008 cao hơn GM khoảng

xuất Bắc Mỹ, hoặc tema.
13
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
Một đại lý của Toyota tại Fremont, California.
Toyota Canada Inc đã được sản xuất tại Canada kể từ năm 1983 với một nhà máy
bánh xe nhôm ở Delta, British Columbia mà hiện đang sử dụng một lực lượng lao động
khoảng 260. Nhà máy lắp ráp xe đầu tiên của nó, tại Cambridge, Ontario từ năm 1988,
hiện nay sản xuất Corolla xe nhỏ gọn, xe crossover Matrix và Lexus RX 350 SUV sang
trọng, với một lực lượng lao động của 4.300 người lao động. Thứ hai hoạt động tại
Woodstock lắp ráp của nó, Ontario đã bắt đầu sản xuất RAV4 vào cuối năm 2008.Trong
năm 2006, công ty con của Toyota Hino Motor đã mở một nhà máy xe tải nhiệm vụ nặng
nề, cũng tại Woodstock, 45 người sử dụng lao động và sản xuất 2000 xe tải hàng năm.
Toyota có một sự hiện diện lớn tại Hoa Kỳ với năm nhà máy lắp ráp chính ở
Huntsville, Alabama; Georgetown, Kentucky; Princeton, Indiana; San Antonio, Texas;
Buffalo, West Virginia. Toyota đã có một hoạt động liên doanh với General Motors tại
New United Motor Manufacturing Inc (Nummi), tại Fremont, California, được bắt đầu
vào năm 1984 và kết thúc vào năm 2009.Nó vẫn còn có một liên doanh với Subaru (SIA),
tại Lafayette, Indiana, bắt đầu vào năm 2006. Sản xuất trên một nhà máy sản xuất mới tại
Tupelo, Mississippi đã được dự kiến hoàn thành vào năm 2010 nhưng hiện tại đang bị giữ
vô hạn. Bắc Mỹ là một thị trường ô tô lớn cho Toyota. Trong các nhà máy lắp ráp, các
Camry và Tundra được sản xuất.
Toyota tiếp thị, bán hàng và phân phối tại Mỹ được thực hiện thông qua một công
ty con riêng biệt, Toyota Motor Sales, USA, Inc Toyota sử dụng một số khẩu hiệu trong
quảng cáo truyền hình Mỹ của mình như . It's time to move forward, Smart way to keep
moving forward, or Moving forward. Nó đã bắt đầu sản xuất xe tải lớn hơn, như Tundra
mới,đi sau khi thị trường xe tải lớn tại Hoa Kỳ.Toyota cũng sản xuất xe hybrid tại Mỹ
như Prius, Camry Hybrid, Highlander Hybrid… Toyota đã bán xe hybrid tại nước này
14
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
hơn bất kỳ nhà sản xuất khác. Toyota là một tập đoàn và cổ phiếu của công ty được giao

Other Non-Current Liabilities 9,398.05 9,088.00 6,513.00
Accounts Payable 19,946.23 22,086.00 18,772.00
Total Non-Current Liabilities 85,162.87 86,317.00 76,151.00
Total Liabilities 192,374.51 205,498.00 176,031.00
Stockholder's Equity
Preferred Stock Equity 0.00 0.00 0.00
Common Stock Equity 101,865.01 118,470.00 100,465.00
Total Equity 101,865.01 118,470.00 100,465.00
15
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
Shares Outstanding Common Class Only 1,567.94 1,574.64 1,598.97
Total Liabilities & Stock Equity 294,239.52 323,968.00 276,496.00
Bảng cân đối kế toán cho biết thực trang tài chính của Toyota cho đến năm 2009,
bao gồm các nguồn vốn và các loại tài sàn của công ty.
+ Tài sản (assets):phản ánh toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của
công ty cho đến thời điểm lập báo cáo.Các khoản mục trong bảng cân đối kế toán được
sắp xếp theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần.
Về mặt kinh tế: số liệu bên phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài
sản đang tồn tại dưới hình thức vật chất cụ thể:tài sản lưu động, tài sản cố định.
Về mặt pháp lý: số liệu bên phần tài sản thể hiện số tài sản đang thuộc quyền quản
lý và sử dụng của công ty.
+ Nguồn vốn (Total Liabilities & Stock Equity):nguồn hình thành các loại tài
sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo.
Về mặt kinh tế: căn cứ vào các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn có thể đánh giá khái
quát khả năng, mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp và thời hạn tài trợ của các
nguồn vốn.
Về mặt pháp lý: số liệu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của
doanh nghiệp đối với chủ sở hữu, đối với ngân hàng, đối với khách hàng vả đối với các
đối tượng khác.
2. Báo cáo thu nhập - Income statement

Extraordinary Items - - -
Effect Of Accounting Changes - - -
Other Items - - -
Net Income (4,448,000) 17,146,000 13,927,000
Preferred Stock And Other Adjustments - - -
Net Income Applicable To Common
Shares
($4,448,000) $17,146,000 $13,927,000
17
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
Doanh thu thuần (Total Revenue): 208,995
Tổng chi phí (Total Expenses) = Giá vốn (Cost of Revenue) + CP hoạt động =
213,688
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) = ∑ Revenue - ∑ Expenses = -4,693
Lợi nhuận trước thuế (EBT) = EBIT - Interest Expense = -5,170
Thu nhập chịu thuế = EBT +∑ Other Income/Expenses Net = -5,170 + (-535) =
-5,705
Đây là khoảng thời gian công ty làm ăn thua lỗ tuy nhiên theo luật nước ngoài
công ty vẫn phải tính thuế thu nhập ở dạng khấu trừ do đó:
Thuế thu nhập được hoàn lại = 575
Lợi ích từ cổ đông thiểu số (Minority Interest) = 247
Ngoài ra còn có những phần khác nhưng không đề cập đến như Equity in Earnings,
After Tax Other Income/Expense,…
Và lợi nhuận thuần của công ty (Net income)= - 4,448
3. Phân tích các tỷ số tài chính
a) Tỷ số thanh toán (Liquidity Ratios):
+ Tỷ số thanh toán hiện hành(Rc): thước đo khả năng thanh toán của công ty.
Rc (2009) = = = 1.79
Rc (2008) = = 1.94
Rc (2007) = = 2

thu hồi được nợ. Điều này cũng có thể dễ dàng hiểu do đặc điểm của việc mua bán hàng
19
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
hóa có giá trị lớn, thường được bán theo dạng trả góp,tín dụng dẫn đến việc tồn tại khoản
phải thu lớn và lâu thu hồi nên vòng quay nhỏ.Điều này không đáng lo ngại vì là tính chất
chung của thị trường ô tô.
+ Vòng quay hàng tồn kho = = = 0.013 lần
Số vòng quay quá thấp do đặc điểm ngành hàng ô tô cần có một lượng hàng tồn
kho lớn để duy trì hoạt động.
+ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định (2009) = = = 2.79
Tỷ số trên cho thấy 1$ tài sản cố định đã tạo ra được 2.79$ doanh thu
Năm 2008 = 3.36
Năm 2009 = 2.96
So với hai năm trước thì năm 2009 sử dụng tài sản cố định chưa hiệu quả bằng.
Như vậy công ty cần xem xét lại để tìm cách khai thác hiệu quả hơn những gì đang có.
+ Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản = = = 0.71 lần
Tại công ty Toyota đến tháng 3/2009: 1$ tài sản đã tạo ra được 0.71$ doanh
thu.Chỉ số này thấp do hậu quả của khủng hoảng. Công ty chưa hoạt động hết công suất
và cần phải mở rộng hoạt động.
+ Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần = = =2.05 lần
Kết quả trên cho thấy hiệu suất sử dụng vốn cổ phần của công ty lớn hơn tổng tài
sản của công ty vì công ty đã sử dụng đòn bẩy tài chính từ việc tài trợ bằng vốn vay.
c) Tỷ số đòn bẩy tài chính (Financial leverage ratio):
Đánh giá mức độ mà một công ty tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng
vốn vay.
20
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
+ Tỷ số nợ trên tài sản= = = 65.38%
Ngành công nghiệp sản xuất ô tô đòi hỏi phải có vốn lớn nên nếu chỉ sử dụng vốn
chủ sở hữu thì không đủ. Do đó vốn vay nợ của Toyota lớn là điều tất yếu.

Trong tình hình suy thoái chung các con số được công bố ở trên không đem lại một
kết quả tiêu cực, mà cho thấy Toyota vẫn còn rất nhiều năng lực kinh doanh như số nợ dài
hạn so với 2008 và 2007 tăng, lượng tiền mặt và tài sản có tính thanh khoản cao được giữ
ở mức cao hơn các năm trước trên 50%.
Nhìn chung những con số trên đây chỉ cho biết khái quát về tình hình công ty cho
đến những tháng đầu năm 2009. Rõ ràng có những điều lo ngại từ những kết quả do
những gì để lại sau khủng hoảng tài chính, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều điều khả quan
hơn trong giai đoạn tiếp theo. Khó khăn mà công ty gặp phải chỉ là những trở ngại tạm
thời mà thôi.
III. KHÁCH HÀNG VÀ NHÀ CUNG CẤP
1. Phương pháp sản xuất TPS (Toyota Production System)
Có nhận định cho rằng việc coi Toyota là “giàu sáng tạo” là điều “bất thường”. Bởi
xe của nhà sản xuất này chỉ khiến khách hàng “thích” chứ chưa đạt tới độ “yêu”. Thậm
22
Tiểu luận QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Đề tài: Quản trị tài chính của Tập đoàn Toyota
chí chúng bị chỉ trích là sao chép và ít cá tính. Thế nhưng ở Toyota, sáng tạo lại tập trung
vào quá trình sản xuất hơn là sản phẩm. Họ quan tâm đến sự vận hành của nhà máy hơn là
tìm cách làm đẹp showroom. Vì vậy, rất khó để nhận ra những gì Toyota đã làm được.
Nhưng hiệu quả của chúng có thể là vô song.
Nguyên lý thành công của Toyota bắt nguồn từ phương pháp sản xuất Toyota,
mang tên TPS hay còn gọi là hệ thống sản xuất tinh gọn (Lean manufacturing), được khai
sinh vài năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản
bị kiệt quệ, họ phải đối diện với những điều kiện kinh doanh rất khác biệt so với các công
ty lớn của Mỹ, châu Âu. Do vậy họ phải tìm cho mình hướng đi riêng và Toyota cũng
vậy. Phương thức Toyota bao gồm các nguyên lý nền tảng của văn hóa Toyota, những
nguyên lý này cho phép TPS hoạt động rất hiệu quả, có thể tóm lược các nguyên lý đó
như sau:
+ Nguyên lý 1: Ra các quyết định quản lý dựa trên một triết lý dài hạn, dù phải hy
sinh những mục tiêu tài chính ngắn hạn.
+ Nguyên lý 2: Tạo ra một chuỗi quy trình liên tục làm bộc lộ sai sót.

TPS tại nơi sản xuất của mình mà không
ghi thành tài liệu. Cho đến khi nhu cầu về
việc huấn luyện hệ thống TPS cho các đối
tác cung ứng được đặt ra. Đến lúc đó Fuji
Cho, hoc trò của Taiichi Ohno đã xây dựng
một ngôi nhà để biểu diễn hệ thống sản
xuất Toyota.
Hình đồ ngôi nhà TPS đã trở thành một trong những biểu tượng dễ nhận biết nhất trong
giới sản xuất hiện đại, thể hiện sự vững chắc bằng hệ thống có kết cấu chặt chẽ liên kết
với nhau. Bắt kỳ sự khiếm khuyết nào cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng ngôi nhà. Bắt
đầu từ phần nền tảng bằng triết lý kinh doanh dài hạn, quản lý trực quan, chuẩn hóa qui
trình và cân bằng sản xuất. Hai trụ cột vững chắc là Just-in-Time (Vừa đúng lúc – JIT)
nghĩa là sản xuất vừa lúc cần đến, không sản xuất thừa; và Jidoka (Tự kiểm lỗi): không
bao giờ để cho phế phẩm có thể đi qua giai đoạn tiếp theo, giai đoạn sau được coi là
khách hàng của giai đoạn trước và phải được đáp ứng đúng yêu cầu. Phần nội thất và
trung tâm căn nhà là con người và tập thể, cải tiến liên tục và tích cực giảm lãng phí, duy
trì năng suất toàn diện (TPM). Mái nhà là tập hợp các yếu tố Chất lượng, Chi phí, Thời
gian giao hàng, An toàn, Tinh thần lao động.
Trong số những nguyên tắc nêu trên có những nguyên tắc nền tảng trong sản xuất
làm nên thành công của Toyota:
JUST IN TIME: là phương pháp quản lý công đoạn sản xuất thực thi bằng các
bảng truyền đạt thông tin, các phiếu liên lạc giữa các công đoạn. Trong dây chuyền sản
xuất không có chi tiết thiếu hay thừa, toàn xưởng sản xuất không có sản phẩm tồn kho,
cũng như không có nguyên vật liệu tồn kho. Phương pháp này tạo ra một quy trình sản
xuất khép kín cao độ, nhanh, khoa học. Các công ty vệ tinh phải làm việc đúng với quy
25

Trích đoạn Toyota và nhà cung cấp Toyota và khách hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status