TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 30 (2004 – 2008)
TÊN ĐỀ TÀI
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
GV. Nguyễn Mai Hân Dương Thanh Giềng
Mssv: 5043962
Lớp: Luật Thương Mại – K30
Cần Thơ,
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 4
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ 4
1.1 Khái quát về thương mại điện tử và hợp đồng điện tử 4
1.1.1 Sự phát triển của thương mại điện tử 4
1.1.2 Khái niệm thương mại điện tử 5
() Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nguồn: 5
/>%E1%BB%87n_t%E1%BB%AD 6
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng điện tử 7
1.1.3.1 Khái niệm 7
1.1.3.2 Đặc điểm 8
1.2.1 Ưu điểm 9
1.2.2 Nhược điểm 13
1.3 Luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng điện tử 14
1.3.1 Luật quốc tế 14
Trang 1
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
3.2 Đề xuất và phương hướng hoàn thiện 45
Các giải pháp khác 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Từ lâu hợp đồng được biết đến như một giao dịch không thể thiếu của mỗi
thành viên trong xã hội. Trong đó, việc các bên tham gia giao kết hợp đồng để trao
đổi, mua bán là một hoạt động mang tính chất thường xuyên và phổ biến. Ngày nay,
nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì vấn đề giao kết hợp đồng càng
được coi trọng hơn. Có lẽ vì vậy mà bên cạnh việc giao kết hợp đồng truyền thống
thì có phương thức giao kết hợp đồng mới thu hút được sự quan tâm của mọi người.
Đó là phương thức giao kết hợp đồng điện tử.
Nói đến hợp đồng điện tử chất chắn không phải ai cũng hiểu rõ về nó. Với sự
phát triển của thời đại công nghệ thông tin, kỹ thuật số hiện đại, thương mại điện tử
thì việc giao kết hợp đồng điện tử được sử dụng ngày càng nhiều hơn. Đối với Việt
Nam, nếu như trước năm 2007, hoạt động thương mại điện tử chưa gây được nhiều
sự chú ý của công chúng Việt Nam, thì nay hoạt động kinh doanh qua mạng, thanh
toán trực tuyến đã trở thành quen thuộc với nhiều người tiêu dùng. Như thế cho thấy
ngày càng có nhiều người tham gia vào loại hình giao kết hợp đồng mới này thông
qua thương mại điện tử.
Với nhu cầu thực tế như vậy, thương mại điện tử có vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và đang ngày càng tỏ ra ưu thế, thu hút
sự quan tâm của Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization – WTO)
cũng như của các nước. Thương mại điện tử đã góp phần tích cực vào việc tăng
trưởng kinh tế và tạo ra nhiều cơ hội mới cho sự phát triển của đất nước ta. Hệ
thống pháp luật đang dần dần được phát triển và hoàn thiện theo kinh tế thị trường
cũng như đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Việc xây dựng khung pháp lý về thương
mại điện tử phù hợp không những góp phần tạo lập hành lang pháp lý để thúc đẩy
thiếu sót mong được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn đọc. Với những hiểu biết
của mình về hợp đồng điện tử tác giả sẽ trình bày nội dung này gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng điện tử
Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về giao kết hợp đồng điện
tử
Chương 3: Thực trạng về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử ở Việt Nam –
một số kiến nghị
Sinh viên thực hiện
Dương Thanh Giềng
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 3
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ
1.1 Khái quát về thương mại điện tử và hợp đồng điện tử
1.1.1 Sự phát triển của thương mại điện tử
Thương mại điện tử được biết đến từ lâu trên thế giới và phát triển mạnh ở
Việt Nam trong những năm gần đây. Tuy nhiên không phải ai cũng biết đến quá
trình phát triển và lợi ích mà nó đã đem lại cho nhân loại.
Trong nữa đầu thế kỷ XX, kỹ thuật số bắt đầu phát triển và từng bước được
hoàn thiện. Hình ảnh (kể cả chữ viết, con số, các ký hiệu khác) và âm thanh đều
được số hóa thành nhóm bit (byte) điện tử, tất cả đều với tốc độ ánh sáng. Nó có thể
được các bên sử dụng làm ký hiệu riêng khi giao kết hợp đồng với đối tác của mình.
Việc áp dụng kỹ thuật số được coi là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử nhân
loại, cuộc cách mạng “số hóa” thúc đẩy sự ra đời của nền “kinh tế số hóa” và “xã
hội thông tin” mà thương mại điện tử là một bộ phận hợp thành.
Quá trình tin học hóa bùng nổ rồi nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu sau khi
Internet ra đời. Vào năm 1889, Tòa án tối cao bang New Hampshire (Hoa kỳ) đã
phê chuẩn tính hiệu lực của chữ ký điện tử. Tuy nhiên, chỉ với những phát triển của
khoa học kỹ thuật gần đây thì chữ ký điện tử mới đi vào cuộc sống một cách rộng
(1)
.
Thương mại điện tử còn được sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau như
“thương mại trực tuyến”, “thương mại điều khiển học”, “kinh doanh điện tử”,
nhưng phổ biến vẫn là thương mại điện tử. Hiện nay khi nói đến thương mại điện tử
là người ta hình dung đến Internet và cho rằng thương mại điện tử gắn liền với
Internet. Trên thực tế có nhiều quan điểm đề cập đến vấn đề này, có nhiều định
nghĩa khác nhau về thương mại điện tử. Quan điểm đầu tiên cho rằng thương mại
điện tử bao gồm các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử
như trao đổi dữ liệu, chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín
dụng. Quan điểm thứ hai hạn chế hơn, thương mại điện tử là mua bán với khách
hàng bằng các giao dịch và trả tiền thông qua các phương tiện công cộng như
Internet. Nếu theo quan điểm đầu tiên thì hoạt động thương mại đã tồn tại và phát
triển hàng chục năm. Còn theo quan điểm sau thì thương mại điện tử chỉ mới tồn tại
không quá ba năm nhưng đạt được những kết quả rất đáng quan tâm. Thật ra chính
hoạt động thương mại qua mạng công cộng đã làm phát sinh thuật ngữ thương mại
điện tử.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm
việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh
toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm
giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến
hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số"
(2)
.
1
(
(
)
nguyện thỏa thuận các điều khoản cần thiết sau đó có hai bên cùng ký vào hợp
đồng. Chữ ký này không được thể hiện trên giấy trắng mực đen như hợp đồng
truyền thống mà nó được thể hiện thông qua sự trợ giúp của phương tiện công nghệ
kỷ thuật hiện đại.
/>%87n_t%E1%BB%AD
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 6
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng điện tử
1.1.3.1 Khái niệm
Trong cuộc sống hiện đại, hợp đồng được biết đến như một giao dịch
không thể thiếu của một thành viên trong xã hội có tổ chức. Di chuyển từ nơi này
đến nơi khác trong điều kiện không có hoặc không muốn vận chuyển cá nhân, mua
thức ăn, đồ dùng sinh hoạt hay bất kỳ một hoạt động nào nhằm phục vụ cho nhu cầu
của mình. Hầu như các hoạt động của con người điều được thực hiện trong khuôn
khổ các mối quan hệ kết ước hoặc điều gắn bó với mối quan hệ đó.
Quan hệ kết ước trong xã hội hiện đại phát triển không chỉ về số lượng
mà còn cả về chủng loại. Tốc độ đa dạng của các quan hệ hợp đồng càng lúc cũng
càng nhanh. Các loại hợp đồng này được sự quan tâm khá đặc biệt của các nhà làm
luật. Đặc biệt là trong quá trình tin học hóa hiện nay cùng với sự phát triển mạnh
của thương mại điện tử nó đã đem lại cho chúng ta một phương thức giao dịch mới,
đó là giao dịch điện tử. Những lợi thế của phương thức giao dịch này là tốc độ
nhanh, chi phí rẻ, chuyển tải thông tin đa dạng, không phụ thuộc nhiều vào khoảng
cách. Chính vì vậy, phương thức này ngày càng trở nên phổ cập, được nhiều người,
nhiều doanh nghiệp sử dụng. Sự gia tăng của giao dịch điện tử làm xuất hiện một
hình thức hợp đồng mới: hợp đồng điện tử (electronic contracts). Thông qua
phương tiện điện tử các chủ thể có thể giao kết hợp đồng mà không cần gặp mặt
nhau trực tiếp để đàm phán.
Theo điều 11 Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL
năm1996, “hợp đồng điện tử được hiểu là hợp đồng được hình thành thông qua việc
1.1.3.2 Đặc điểm
Giao kết bằng các phương tiện điện tử hợp đồng điện tử có một số đặc
điểm sau:
— Tính phi biên giới: Trong giao dịch điện tử có phạm vi quốc tế, kể cả
giao dịch điện tử dân sự và giao dịch thương mại điện tử, các bên thực hiện việc
truyền các thông tin dữ liệu thông qua một mạng mang tính toàn cầu, vì vậy không
có khái niệm biên giới nữa. Một thương nhân dù anh ta ở đâu, ở từng địa phương
khác nhau hay ở phạm vi quốc tế, dù vào thời điểm nào cũng có thể giao dịch với
đối tượng của mình mà không có một cản trở nào. Việc xác định vị trí, địa điểm, nơi
mà thương nhân này tiến hành trở nên khó khăn hơn so với hợp đồng truyền thống,
thậm chí là đôi khi không thể thực hiện được. Điều này sẽ gây ra nhiều vấn đề phức
tạp khi cần xác định địa điểm giao kết hợp đồng điện tử, đặc biệt khi chúng được
giao kết với thương nhân nước ngoài.
— Tính vô hình, phi vật chất: Môi trường điện tử là một môi trường số
hóa, môi trường ảo, vì vậy các hợp đồng điện tử mang tính vô hình, phi vật chất,
nghĩa là hợp đồng tồn tại được chứng minh được lưu trữ bởi các dữ liệu điện tử chứ
không sờ mó được giống như các dạng vật chất khác. Tính vô hình và phi vật chất
này khiến cho việc xác định bản gốc, chữ ký của hợp đồng trở nên khác xa so với
các hợp đồng bằng giấy trắng mực đen truyền thống.
— Tính hiện đại chính xác: Tính hiện đại của hợp đồng được thể hiện ở
chỗ, hợp đồng điện tử được ký kết dựa trên việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật
hiện đại, là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ. Việc sử dụng các công
nghệ đó mang độ chính xác cao cho giao dịch. Có giao dịch mà mà tất cả các bước
đều được tự động hóa (ví dụ một quy trình tự động để mua hàng trên Internet).
— Tính rủi ro: Phương thức giao kết hợp đồng điện tử có những rủi ro
nhất định. Với sự phát triển đáng kinh ngạc của thương mại điện tử, người ta cũng
đang đối mặt với những rủi ro phát sinh từ việc giao kết hợp điện tử, mà nguyên
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 8
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
Thông qua những nghiên cứu cho thấy việc giao kết hợp đồng điện tử cũng
có nhiều lợi ích, đặc biệt là cho các nhà kinh doanh. Những lợi ích này có thể thấy
được thông qua ưu điểm của hợp đồng điện tử. Ưu điểm của hợp đồng điện tử bao
gồm:
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 9
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
— Giúp các bên tiết kiệm được thời gian đàm phán, giao kết hợp đồng.
Quá trình giao kết hợp đồng bao gồm nhiều bước, từ tìm hiểu đối tác, giới thiệu sản
phẩm dịch vụ, gửi đơn chào hàng, đàm phán các điều khoản hợp đồng, ký kết, sửa
đổi, lưu trữ,… Nếu tất cả những công việc đó đều diễn ra bằng với giấy trắng, mực
đen thì thời gian để thực hiện là không ngắn đối với hai bên. Các cuộc điều tra cho
thấy 80% thời gian để ký hợp đồng sẽ được tiết kiệm bằng việc sử dụng hợp đồng
điện tử. Việc sử dụng Internet sẽ giúp người tiêu dùng, giúp các bên giao kết, kể cả
các bên giao kết là doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian giao dịch. Thời gian giao
dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, bằng khoảng 0.5‰ thời
gian giao dịch qua bưu điện.
— Bằng việc giao kết hợp đồng điện tử các doanh nghiệp giảm được chi
phí giao dịch, bán hàng.
Một nhà kinh doanh chỉ cần ngồi tại doanh nghiệp (có thể là ở nhà
riêng) của mình cũng có thể giao dịch cùng lúc với nhiều khách hàng, giao kết được
nhiều hợp đồng với nhiều đối tác khác nhau và ở nhiều nơi trên thế giới. Điều
không thể có được đối với hình thức giao kết hợp đồng truyền thống. Trong thương
mại điện tử qua Internet/web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể
thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo tiếp
xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch giao hàng, giao dịch thanh toán).
Ngày nay chúng ta có thể tìm đối tác một cách dễ dàng hơn thông qua
công cụ tìm kiếm trên Internet đặc biệt là các đối tác tại các nước phát triển, nơi có
tỉ lệ phổ cập Internet rất cao. Chúng ta chỉ cần vào một trong các công cụ tìm kiếm
như www.google.com, www.yahoo.com và gõ vào vài từ khóa liên quan đến vấn đề
trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Bảng chi phí tiết kiệm được khi áp dụng thương mại điện tử
(4)
Ngành công nghiệp Chi phí tiết kiệm được (%)
Công nghiệp hàng không 11
Hóa chất 10
Than đá 2
Viễn thông 5 – 15
Thiết bị điện 29 – 39
Thức ăn 3 – 5
Sản phẩm từ gỗ 15 – 25
Vận tải hàng không 15 – 20
Y tế 5
Bảo hiểm nhân thọ 12 – 19
Cơ khí 22
Quảng cáo và truyền thông 10 – 15
Dịch vụ bảo dưỡng và sửa chửa 10
Dầu và gas 5 – 15
— Sử dụng hợp đồng điện tử sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ “số hóa” đối với
việc mua bán một số sản phẩm và dịch vụ. Các giao dịch thương mại điện tử
thường được chia làm hai nhóm:
4
(
(
)
Nguồn: http: // www.undp.org.vn/undp/docs/2005/eprmer/vn/E-commer.pdf
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 11
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
Một là, giao dịch buôn bán hàng hóa vật chất và dịch vụ thông thường.
thể gọi chung là thông tin thị trường) nhờ đó có thể xây dựng được chiến lược sản
xuất và kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực
và cả quốc tế.
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 12
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
Giao kết hợp đồng điện tử thông qua mạng (Internet/web) sẽ tạo điều
kiện cho các chủ thể, dù họ là doanh nghiệp, cơ quan chính phủ, người tiêu dùng;
dù họ ở trong nước hay ở ngoài nước vẫn có thể giao kết trực tiếp (liên lạc trực
tuyến) và liên tục mà không bị cản trở bởi khoản cách về thời gian, về địa lý… Điều
này sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể giao kết hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng thương
mại điện tử có thể hợp tác quản lý, tận dụng tối đa các cơ hội kinh doanh trong
phạm vi một nước cũng như ở khu vực hay ở môi trường kinh doanh quốc tế.
Việc tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng như đã
phân tích ở trên là yếu tố quan trọng làm giảm chi phí kinh doanh nói chung của
doanh nghiệp, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hơn
nữa trong môi trường điện tử, thông tin được truyền dẫn từ người khởi tạo và người
nhận hầu như là ngay lập tức. Điều đó có nghĩa là, các doanh nghiệp nhờ vào các
phương tiện điện tử, có thể tiếp cận và nắm bắt được một cách kịp thời những cơ
hội kinh doanh mới, ký kết được các hợp đồng một cách nhanh chóng.
Khẳng định lợi thế của việc giao kết hợp đồng điện tử, chúng ta không
thể phủ nhận vai trò của việc giao kết hợp đồng theo phương thức truyền thống. Hai
phương thức này cần được doanh nghiệp sử dụng đồng thời nhằm bổ sung, hỗ trợ
cho nhau một cách linh hoạt để đạt được hiệu quả cao nhất. Có những khách hàng
chưa được chuẩn bị và chưa quen với hình thức kinh doanh mới này hoặc có những
thị trường chưa có khung pháp lý tốt cho hoạt động thương mại điện tử phát triển
thì việc giao kết hợp đồng điện tử sẽ gây ra những rủi ro nhất định cho các nhà kinh
doanh. Ngược lại tại một số thị trường mà giao dịch điện tử đã được thực hiện rất
phổ biến, điển hình là thị trường Mỹ, thì các giao kết hợp đồng điện tử là cách thức
để tiếp cận thị trường này và là cách thức tiếp cận các khách hàng tại thị trường này
gia vào thương mại điện tử có cơ sở để tiến hành công việc kinh doanh một cách
thuận lợi. Đó chính là điều mà nền lập pháp của nước ta đang hướng tới.
1.3 Luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng điện tử
1.3.1 Luật quốc tế
Trên thế giới cho đến nay chưa xây dựng được đạo luật riêng thống nhất
điều chỉnh việc giao kết hợp đồng điện tử. Những quy định về hợp đồng điện tử chỉ
là một phần trong pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử hoặc pháp luật về chữ ký
điện tử. Thay vì ban hành luật điều chỉnh hợp đồng điện tử, người ta thường ban
hành các đạo luật riêng điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thương mại điện tử
hoặc giao dịch điện tử. Các nước đã ban hành các đạo luật công nhận giá trị pháp lý
của chữ ký điện tử, tạo hành lang pháp lý cho giao dịch điện tử phát triển. Điểm qua
một số nước trong khu vực và trên thế giới thì chúng ta đã có được các văn bản sau:
— Năm 1996, Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế
(viết tắc tiếng Anh là UNCITRAL) đã ban hành một đạo luật, gọi là Luật mẫu về
thương mại điện tử.
— Năm 1997 Malaysia ban hành Luật Chữ ký số;
— Năm 1998 Singapore ban hành Luật Giao dịch điện tử;
— Năm 1999 Hàn Quốc ban hành Luật Chữ ký điện tử, Luật này được
sửa đổi năm 2001;
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 14
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
— Năm 2000 hàng loạt các nước và vùng lãnh thổ ban hành Luật về giao
dịch điện tử như: Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Thái Lan, Brunei, Ấn Độ, Hồng Kông
và cũng trong năm này UNCITRAL ban hành Luật mẫu về chữ ký điện
— Năm 2001 Liên minh Châu Âu chính thức chấp nhận giá trị pháp lý
của chữ ký điện tử;
— Năm 2004 Trung Quốc thông qua Luật Chữ ký điện tử.
1.3.2 Luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam
Riêng ở Việt Nam các cơ quan chức năng của Việt Nam đang tích cực soạn
Với việc ban hành các văn bản trên, nhà nước ta công nhận giá trị pháp lý
của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài nếu chữ ký hoặc chứng thư điện
tử đó có độ tin cậy tương đương với độ tin cậy của chữ ký và chứng thư điện tử theo
quy định của pháp luật. Việc xác định mức độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng
thư điện tử nước ngoài phải căn cứ vào các tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận,
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các quy định liên quan khác.
1.4 So sánh hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống
Hợp đồng truyền thống là những hợp đồng được ký kết theo phương thức
truyền thống như các bên trực tiếp gặp gỡ, đàm phán và giao kết hợp đồng trực tiếp
bằng lời nói, văn bản thậm chí bằng hành vi cụ thể hoặc giao kết hợp đồng thông
qua trao đổi thư từ, tài liệu giao dịch bằng đường bưu điện. Còn hợp đồng điện tử là
hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử.
Về mặt pháp lý thì hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống đều là hợp
đồng. Vì vậy chúng cũng có điểm giống và khác nhau.
1.4.1 Sự giống nhau giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống
Thương mại điện tử không làm thay đổi thương mại truyền thống. Thương
mại điện tử là một hình thức kinh doanh mới, kinh doanh qua phương tiện, một cách
thức mới trên cơ sở áp dụng các công nghệ hiện đại. Vì vậy hợp đồng điện tử và
hợp đồng truyền thống có nhiều điềm giống nhau cơ bản như:
— Chúng đều là hợp đồng mà hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau như
điều 388 của Bộ luật dân sự 2005
(5)
đã khẳng định. Dù là hợp đồng nào đi nữa thì
đều quan trọng là hợp đồng nếu các bên giao kết đạt được sự thoả thuận, sự thỏa
thuận rõ ràng cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Sự thống nhất ý chí giữa
các bên đối với nhau là đều quan trọng làm nên hợp đồng, dù là hợp đồng truyền
thống hay hợp đồng điện tử.
— Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử hay hợp đồng truyền
thống chúng đều dựa trên cơ sở pháp lý nhất định và tuân thủ những quy định liên
đồng truyền thống cũng có nhiều điểm khác nhau. Được giao kết qua việc sử dụng
các phương tiện điện tử hiện đại, với tính chất phi biên giới, hợp đồng điện tử có rất
nhiều điểm khác biệt so với hợp đồng truyền thống. Nhiều quy định được áp dụng
cho hợp đồng truyền thống không còn phù hợp với hợp đồng điện tử (như quy định
về hình thức viết, về chữ ký tay…). Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện các hợp
đồng điện tử mẫu. Những hợp đồng điện tử mẫu này khẳng định một lần nữa là, về
mặt nội dung cũng như về mặt pháp lý, hợp đồng điện cũ có những điểm khác biệt
so với hợp đồng thông thường. Những điểm khác biệt đó là:
— Về các chủ thể tham gia vào giao kết hợp đồng điện tử. Trong Giao
dịch điện tử, ngoài các chủ thể tham gia giao kết như đối với thương mại truyền
thống (người bán, người mua …) đã xuất hiện các bên thứ ba có liên quan chặt chẽ
đến hợp đồng điện tử. Đó là nhà cung cấp các dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực
chữ ký điện tử. Những bên thứ ba này có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ thông tin giữa
các bên tham gia giao kết dịch thương mại điện tử, hợp đồng thương mại điện tử.
Họ cũng có vai trò trong việc xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch
thương mại điện tử
— Các bên khi tiến hành giao dịch để đi đến hợp đồng không phải trực
tiếp gặp nhau và không đòi hỏi phải biết nhau trước. Trong khi việc ký hợp đồng
truyền thống các bên phải trực tiếp gặp nhau rồi mới đi đến ký hợp đồng. Các thông
6
(
(
)
Điều 389. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự
Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1. Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 17
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
— Khác nhau về nội dung:
Địa chỉ pháp lý: Ngoài địa chỉ pháp lý thông thường (địa chỉ bưu điện)
hợp đồng điện tử còn có địa chỉ e-mail, địa chỉ web, địa chỉ xác định ngày giờ giao
kết hợp đồng điện tử, gửi fax… Những địa chỉ này có ý nghĩa rất lớn để xác định
tính hiện hữu, sự tồn tại thật sự của các bên giao kết hợp đồng với tư cách là chủ thể
của hợp đồng điện tử.
Các quy định về quyền truy cập, cải chính thông tin điện tử như việc
hủy một đề nghị giao kết hợp đồng trên mạng…
Các quy định về chữ ký điện tử hay một cách thức khác như mật khẩu,
mã số… nhằm xác định các thông tin có giá trị về chủ thể giao kết hợp đồng. Việc
thanh toán trong các hợp đồng điện tử cũng thường được thực hiện thông qua
phương tiện điện tử.
Tóm lại, trong hợp đồng thương mại điện tử thì bản chất của các vụ giao
dịch không thay đổi. Hợp đồng thương mại điện tử chỉ biến đổi cách thức ký kết,
giao kết, trao đổi, bảo quản và xử lý thông tin chứ nó không hề thay đổi cơ bản của
hợp đồng truyền thống đối với các bên tham gia giao dịch mua bán.
Việc mã hóa, số hóa nội dung các thông tin, chứng từ và tài liệu giao
dịch làm cho thương mại điện tử dù hoạt động trong hay ngoài nước thì nó chỉ khác
biệt về chứng từ bằng giấy tờ. Đối với thương mại truyền thống để đi đến được ký
kết hợp đồng phải tốn một lượng thời gian khá dài và rất nhiều giấy tờ.
Cả hợp đồng điện tử lẫn hợp đồng truyền thống đều có những mặt thuận
lợi và hạn chế nhưng so về lợi ích kinh tế thì hợp đồng điện tử có nhiều ưu thế hơn.
Dẩu sau đi nữa thì hợp đồng điện tử phát triển hoàn toàn dựa vào hợp đồng truyền
thống. Thông qua hợp đồng truyền thống đã đặt nền tảng cho sự phát triển của hợp
đồng điện tử.
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 19
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
CHƯƠNG 2
qua thông điệp dữ liệu”.
Có một điểm quan trọng cần bàn là, theo quy định tại điều1 Luật giao dịch
điện tử 2005, những trường hợp loại trừ không áp dụng luật này bao gồm: Việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các bất động sản khác,
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 20
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
văn bản về thừa kế, giấy đăng ký kết hôn, quyết định ly hôn, giấy khai sinh, giấy
khai tử, hối phiếu và các giấy tờ có giá khác. Đây là những trường hợp ngoại lệ điển
hình đòi hỏi mức độ chắc chắn cao mà một số đạo luật nước ta có quy định riêng.
Chẳng hạn như tại điều 450 của Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hợp đồng mua bán
nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác”.
Như vậy, đối với những hợp đồng mua bán nhà cửa, bất động sản, hối phiếu,
lệnh phiếu…mà giao kết bằng phương tiện điện tử thì sẽ không có giá trị pháp lý.
Trong lĩnh vực thương mại, Nghị định số 57/2006/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật
giao dịch điện tử về thương mại điện tử cũng có quy định loại trừ việc sử dụng hợp
đồng điện tử tại khoản 3 điều 1 “các quy định của Nghị định này không áp dụng đối
với việc sử dụng chứng từ điện tử là hối phiếu, lệnh phiếu, vận đơn, hoá đơn gửi
hàng, phiếu xuất nhập kho hay bất cứ chứng từ có thể chuyển nhượng nào cho phép
bên nắm giữ chứng từ hoặc bên thụ hưởng được quyền nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc
được trả một khoản tiền nào đó”.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng giao dịch trong lĩnh vực bị loại trừ nêu trên bao
gồm nhiều hành vi khác nhau và kết quả cuối cùng của giao dịch. Việc không hoặc
chưa thừa nhận giá trị pháp lý của các văn bản này chỉ áp dụng đối với văn bản cuối
cùng của giao dịch (các bản hợp đồng giấy trắng mực đen), những hành vi tiến hành
trước khi có văn bản đó điều được chấp nhận.
Giao kết hợp đồng là thuật ngữ được Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 sử
dụng để chỉ việc ký kết hợp đồng. Vì vậy giao kết hợp đồng điện tử là quá trình
đàm phán, thương thảo, tạo lập và ký kết hợp đồng thông qua việc trao đổi dữ liệu
— Nguyên tắc tự thỏa thuận về loại công nghệ được sử dụng: Khi tiến
hành giao kết một hợp đồng, các bên được quyền tự do thỏa thuận sử dụng hoặc
không sử dụng phương tiện điện tử cho giao dịch của mình.
— Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thoả
thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo
mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó Khi đã thống nhất sử dung phương tiện
điện tử trong giao kết, thực hiện hợp đồng thì các bên cũng được tự do thỏa thuận
về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện đảm bảo tính toàn vẹn, bảo mật có
liên quan đến hợp đồng điện tử.
— Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy
định của Luật này và pháp luật về hợp đồng, Luật giao dịch điện tử 2005 điều chỉnh
tất cả các giao dịch được tiến hàng bằng phương tiện điện tử (trong hoạt động của
cơ quan nhà nước, trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh thương mại và các lĩnh vực
khác). Tuy nhiên, luật chỉ điều chỉnh về hình thức điện tử của các giao dịch này, còn
những vấn đề về nội dung của từng loại giao dịch vẫn do pháp luât chuyên nghành
điều chỉnh. Vì vậy, khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, ngoài việc phải tuân
thủ các nguyên tắc đặc trưng trong Luật giao dịch điện tử thì các bên cũng phải tuân
thủ các nguyên tắc của luật chuyên ngành.
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 22
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
Ngoài ra khi giao kết hợp đồng điện tử thì các bên cũng phải tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản tại điều 35
(7)
Luật giao dịch điện tử cùng với các nguyên tắc sau:
— Đảm bảo sự bình đẳng và an toàn trong giao dịch điện tử;
— Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân,
lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng.
Đối với cơ quan nhà nước, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc nêu trên
còn phải tuân thủ các nguyên tắc được Luật giao dịch điện tử quy định về giao dịch
2. Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật này và pháp
luật về hợp đồng.
3. Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thoả thuận về yêu cầu kỹ thuật,
chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó.
GVHD: Nguyễn Mai Hân SVTH: Dương Thanh Giềng
Trang 23
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
thì các bên liên quan vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc, các quy định của Bộ luật dân
sự năm 2005.
Theo tôi việc giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử cần quy
định sử dụng chữ ký điện tử để ký thông điệp dữ liệu trong quá trình giao dịch
nhưng không cần thiết phải chứng thực và chỉ chứng thực khi cần thiết cho hoạt
động cung cấp chứng cứ giải quyết tranh chấp trong tố tụng thương mại.
Thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng: Một thông báo bằng chứng từ điện tử
về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề
nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ trong thông báo đó trách nhiệm
của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận. Trong trường hợp thông
qua các hệ thống thông tin, một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và bên được
đề nghị có thể tiếp cận được đề nghị đó thì trong khoảng thời gian hợp lý bên đưa ra
đề nghị phải cung cấp cho bên được đề nghị chứng từ điện tử hoặc các chứng từ liên
quan khác chứa những nội dung của hợp đồng. Các chứng từ này phải thỏa mãn
điều kiện lưu trữ và sử dụng được.
2.1.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng
Sự phát triển của công nghệ truyền thông hàng ngày hàng giờ tác động
mạnh mẽ đến hoạt động thương mại trên toàn thế giới. Nhờ có những phương tiện
như Fax, Internet, Telex mà trong rất nhiều trường hợp các bên không cần gặp nhau
nhưng cũng có thể ký được hợp đồng một cách nhanh chóng. Đặc biệt là hiện nay
nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đã soạn thảo và thông qua Luật giao dịch điện
tử.
Hợp đồng là kết quả của sự thống nhất ý chí của các bên mà chính xác là