1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương nói chung, chấn thương sọ mặt nói riêng là một vấn đề rất
thường gặp và ngày càng có xu hướng gia tăng. Chấn thương mũi xoang nằm
trong chấn thương vùng sọ mặt có vị trí quan trọng và chiếm tỉ lệ khá cao
trong chấn thương tai mũi họng. Ở nước ta theo thống kê của nhiều tác giả thì
chấn thương mũi xoang chiếm tỉ lệ từ 54,3% - 71,5% trong các chấn thương
tai mũi họng ( Phạm Khánh Hòa, Hoàng Thị Kim Thanh, Nguyễn Thị Thoa,
Trương Tam Phong, Nguyễn Tư Thế ) [10],[16],[ 22],[ 23],[24],[29t]. Theo
Muraoka ( Osaka Nhật Bản), chấn thương mũi xoang chiếm 75% trong chấn
thương tai mũi họng [ 63].
Chấn thương mũi xoang xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, thời
chiến chấn thương thường do hỏa khí, thời bình chủ yếu do tai nạn lao động,
tai nạn sinh hoạt, đặc biệt là tai nạn giao thông chiếm tỉ lệ cao. Theo Karen
Kalhoun 75% chấn thương mặt do tai nạn giao thông [33]. Ở nước ta chấn
thương mũi xoang do tai nạn giao thông chiếm từ 30,7% - 62,4%
[10],[12],[16],[24], sau đó là tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, thể thao và
các nguyên nhân khác.
Ngày nay cùng với quá trình đô thị hóa, các công trình xây dựng phát
triển, mật độ dân số ngày càng tăng, phương tiện giao thông hiện đại với tốc
độ cao, số lượng xe máy tăng vọt với người điều khiển xe không đội mũ bảo
hiểm, không làm chủ tốc độ khi tham gia giao thông, ngược lại hạ tầng cơ sở
lại chưa theo kịp tốc độ ấy làm cho tỉ lệ các nguyên nhân gây chấn thương
thay đổi và tính chất tổn thương cũng thay đổi và nặng nề hơn, phức tạp hơn.
Điều trị chấn thương mũi xoang không chỉ là mối quan tâm của riêng
thầy thuốc tai mũi họng mà cần phải có sự phối hợp đa chuyên khoa vì mối
liên quan của mũi xoang với các cơ quan lân cận và thường bị đa chấn
thương[13],[71]. Việc ưu tiên hàng đầu là phải cứu sống bệnh nhân, sau đó là
phục hồi chức năng và thẩm mỹ. Điều này không phải lúc nào cũng được thực
hiện đúng mức ở các cơ sở khám chữa bệnh trong cả nước, mà ngay cả nước
1.1. C IM GII PHU, SINH Lí CA MI XOANG V KHI
XNG MT.
1.1.1.c im gii phu v sinh lý mi xoang.
1.1.1.1.Gii phu mi: Mi gm cú h mi v thỏp mi.
- Thỏp mi ni cao nht trờn khuụn mt gm cú: + T chc phn mm: Gm da v t chc di da. Da dớnh vo xng mt
cỏch lng lo nhng li bỏm cht vo sn, nht l sn cỏnh mi. Da mi ni
vi khúe mt v gũ mỏ lng lo d t mỏu khi ng dp [14]. T chc liờn kt
di da ch tp trung nhng ni m da di ng.
+ Khung sn xng: Cú xng chớnh mi, sn tam giỏc, sn cỏnh mi.
Cp xng chớnh mi khp nhau ng gia, nm trờn mu trỏn
xng hm trờn, nhụ lờn nh mt cỏi lu. Phn trờn xng chớnh mi
dy khp vi mu mi ca xng trỏn, phn thp gn b t do mng d
v [29],[30].
mạc này có hai phần khác nhau. Phần trên từ lưng cuốn giữa trở lên là
vùng khứu giác, niêm mạc ở đây nhẵn và màu hồng nhạt. Riêng niêm
mạc của cuốn trên thì không có tổ chức cương nhưng lại có vết vàng
chứa đựng tế bào khứu giác. Vết vàng này lan sang đến bên niêm mạc
vách ngăn của khe khứu giác. Vùng dưới từ cuốn giữa trở xuống gọi là
vùng hô hấp. Niêm mạc ở đây dày, màu hồng, có nhiều tuyến thanh
dịch, tuyến tiết nhầy và tế bào có lông chuyển. Các tuyến nhầy tạo ra
một màng nhầy phủ lên các tế bào lông chuyển. Niêm mạc mũi thuộc
loại niêm mạc hô hấp.
5
- Mạch máu: Gồm có hai nhánh nuôi dưỡng.
Động mạch bướm khẩu cái là nhánh trên của động mạch hàm trong
(thuộc động mạch cảnh ngoài). Tại lỗ bướm khẩu cái phân làm hai nhánh:
nhánh ngoài nuôi cuốn giữa và dưới, nhánh trong nuôi cuốn trên và vách
ngăn.
Động mạch sàng trước và động mạch sàng sau xuất phát từ động mạch
mắt ( do động mạch cảnh trong ra) tưới máu cho phần trên và trước mũi.
Động mạch sàng và bướm khẩu cái giao lưu với nhau tạo nên điểm
mạch Kiesselbach ở hai bên vách ngăn cách mũi trước 1 -1,5cm và sàn
mũi 1cm, đây là nơi hay bị chảy máu nhất là ở trẻ em.[8],[20]
- Thần kinh: có hai loại.
+ Thần kinh cảm giác (dây V), dây thần kinh tam thoa cảm giác cho hốc
mũi gồm nhánh mũi khẩu cái, nhánh chân bướm khẩu cái, nhánh khẩu cái
trước. Dây mũi trong chi phối phần trước hốc mũi.
+ Thần kinh giác quan (dây I), dây thần kinh khứu giác bắt nguồn từ các tế
bào khứu giác Schultz ở vết vàng của khe khứu giác, các dây này chui qua
mảnh sàng vào não và tập trung vào hành khứu giác đi vào trung khu khứu
giác.
1.1.1.2. Xoang hàm: là một hốc nằm trong xương hàm trên hình tháp gồm:
- Thành sau ( hay thành màng não) thường mỏng hơn thành trước,
chiều dày khoảng 1mm dễ vỡ. Thành này liên quan đến não và màng não.
- Đáy xoang gồm hai phần: phần ngoài hay đoạn ổ mắt, phần trong hay
đoạn sàng.
+ Đoạn ổ mắt lồi vào trong xoang, đoạn này thường bị chia thành ngăn nhỏ
bởi các vách ngăn xuất phát từ đáy xoang.
+ Đoạn sàng nằm thấp hơn đoạn ổ mắt. Đoạn này liên quan đến một nửa
xoang sàng, thông qua xoang sàng mà xoang trán đổ vào hốc mũi. Hình thể
của xoang sàng rất đa dạng, thường nó có dạng hình phễu. Phễu sàng đi qua
xương sàng xuống dưới và ra sau tận hết bởi 1 lỗ thông với khe giữa. Phễu
sàng đổ vào rãnh móc bọt trong 2/3 các trường hợp, còn 1/3 đổ vào đầu trong
trên của mỏm móc hay đổ vào bè móc bọt.
Về kích thước xoang trán có 3 loại:
- Xoang trán trung bình như đã mô tả.
- Xoang trán lớn: xoang phát triển lên trên, ra ngoài đến 1/3 ngoài
đường nối bờ trên 2 ổ mắt. Về phía sau những xoang này có thể phát triển sâu
trong bề dày xương của trần ổ mắt, loại này dễ vỡ trong chấn thương.
- Xoang trán nhỏ: xoang không vượt đường nối bờ trên 2 ổ mắt [17].
Nó chỉ nằm ngang tầm với góc trong trên của ổ mắt. Tỉ lệ các xoang trán nhỏ
này chiếm 12% và 31% các trường hợp ( Theo Sieur và Jacob 1901).
1.1.1.5. Xoang bướm: Là hốc nhỏ nằm sâu trong xương bướm, chấn thương
xoang bướm thường liên quan với chấn thương nền sọ.
1.1.1.6. Chức năng sinh lý mũi xoang:
- Chức năng hô hấp: là quan trọng nhất. Hốc mũi và xoang được phủ
bởi biểu mô đường thở có lông chuyển, có tuyến tiết và dịch nhầy bao phủ,
cùng với hệ mạch máu dưới niêm mạc phong phú, co giãn tạo nên các tổ chức
cương do vậy mũi không chỉ là đường thông khí mà có tác dụng làm ẩm, làm
ấm và giữ lại các dị vật mà không khí mang theo. Kết quả không khí vào phổi
được ẩm hơn, ấm hơn và sạch hơn.
và tầng trên của mặt.
*Về cấu trúc: Khối xương hàm trên liên kết với nhau bằng các đường khớp
và các trụ đỡ ( Buttress) vững chắc [54],[57],[77].
9
- Hệ thống trụ đứng: có 3 trụ cho mỗi bên:
+ Trụ hàm mũi hay trán mũi ( Nasomaxillary B, Nasofrontal B) đi từ hố
lê tới bờ trong cung ổ mắt.
+ Trụ hàm gò má ( Zygomaticomaxillary B) đi từ xương hàm trên qua
xương gò má tới khớp gò má trán.
+ Trụ hàm chân bướm ( Pterygomaxillary B) nối lồi củ xương hàm trên
với chân bướm khẩu cái.
- Hệ thống trụ ngang:
+ Trụ trán: Do liên kết 2 xương trán ở đường giữa.
+ Trụ khẩu cái: Do liên kết 2 xương khẩu cái ở đường giữa.
+ Trụ ổ mắt: Tạo bởi cung ổ mắt trên.
Các trụ duy trì kích thước không gian 3 chiều: trước sau, chiều rộng, chiều
cao của khuôn mặt là cơ sở phục hồi khuôn mặt và duy trì khả năng chống đỡ
để bảo vệ của xương mặt [76].
* Về tổ chức: Khối xương hàm trên xốp như tổ ong nhiều mạch máu nuôi
dưỡng nên gãy xương chảy nhiều máu, đụng dập gây bầm tím nhưng chóng
liền xương [1].
10
* Về liên quan: Khối xương hàm trên hình thành các hốc rỗng tự nhiên:
hốc mũi, hốc mắt, xoang mặt và dính với nền sọ. Liên quan mũi xoang với
các cơ quan lân cận như sau:
- Tầng trước sọ liên quan với mũi xoang qua mảnh thủng xương sàng và
thành sau xoang trán, màng não ở đây mỏng và rất dính vào xương nên khi bị
.Nột v ngang ct qua xng chớnh mi v ngnh lờn xng hm trờn. Ct
qua gúc trong, di ca mt v chy ra phớa sau theo sn mt n tn
thnh sau ca xoang hm.
. Nột v ng dc: chy t trờn xung di, t trong ra ngoi qua mt
trc ngoi ca xoang hm, tỏch ri li c xoang hm ra khi gúc trờn, ngoi
ca xoang hm v kt thỳc phn di ca li c xoang hm.
* ng v Le Fort III: hay cũn gi l ng v phõn ly s mt. L
ng v ngang bao gm 4 nột v chớnh:
. Nột v ct ngang qua khp mi trỏn hoc ct ngang qua phn cao ca
xng chớnh mi, qua mm mt trong ca xng trỏn ct qua xng l,
a
b
c
d
Hỗnh 7 : Caùc õổồỡng vồợ ngang qua tỏửng giổợa mỷt
a. ổồỡng vồợ Lefort I
b. ổồỡng vồợ Lefort II
c. ổồỡng vồợ Lefort III
d. ổồợng vồợ doỹc 12
xương giấy rồi chạy thẳng ra phía sau dọc thành trong của ổ mắt, đi qua phần
dưới của ống thị giác đến phần sau của khe bướm hàm.
. Nét vỡ đi từ thành sau và trong của ổ mắt chạy ra ngoài theo thành
ngoài của ổ mắt và ra phía trước.
. Nét vỡ thứ 3 có thể cắt ngang qua xương gò má thành 1 hoặc 2 mảnh.
. Nét vỡ thứ 4 cắt qua gai mũi của xương trán, vách ngăn mũi phần cao
và đi theo vách ngăn đến tận cửa mũi sau.
Ngoài những nét chính còn gặp những biến dạng khác của đường vỡ:
1.2.1.1.Tai nạn giao thông: Có thể do nhiều phương tiện giao thông gây ra,
đặc biệt là người đi xe máy uống rượu bia và không đội mũ bảo hiểm.
1.2.1.2. Tai nạn lao động: Trong xây dựng ngã từ giàn giáo xuống, tay quay
đập vào mặt, ở Việt nam còn gặp tai nạn do trâu bò húc, và các tai nạn lao
động khác.
1.2.1.3. Tai nạn sinh hoạt: Gặp ở trẻ em do ngã từ trên cao xuống đập mặt
vào vật cứng, trượt cầu thang, một số tác giả lưu ý trẻ ngậm vật nhọn vào
mồm (như bút chì, thìa, đũa, que ) đâm thủng vòm khẩu cái thấu xoang hàm.
Tai nạn do đánh nhau bằng vật tày như tay, chân, thanh gỗ, gạch đá; bằng vật
nhọn như thanh sắt, dao, lưỡi lê, kiếm, kéo
1.2.1.4.Tai nạn do hỏa khí: Thường gặp trong thời chiến, thời bình gặp do
mìn, phá bom, đầu đạn lấy thuốc súng, bắn nhau. Tùy kích thước mảnh đạn
mà có vết thương chột, tàn phá mất chất.
1.2.1.5. Tai nạn thể thao: Đấm bốc, va chạm khi chơi thể thao, nhảy cầu
1.2.1.6. Tai nạn do thầy thuốc gây ra: lưu ý một số thủ thuật mũi xoang như
nạo sàng qua mũi, nội soi mũi xoang, nhét meche cầm máu mũi quá mạnh gây
thủng mảnh sàng, vở xương giấy [64].
1.2.2. Sinh lý bệnh:
Hình thái và mức độ chấn thương mũi xoang phụ thuộc vào cường độ,
tính chất, vị trí và hướng của lực tác động.
Đối với chấn thương mũi, lực tác động vào sụn ít gây tổn thương do
cấu trúc đàn hồi của khớp sụn bán di động. Tác động vào xương chính mũi
gây gãy phần thấp nhiều hơn80% ( Kazanjian và Converse)[29]. Gãy xương
chính mũi thường kèm gãy vách ngăn. Lực tác động 1 bên có thể gây tổn
thương cùng bên hoặc cả 2 bên xương chính mũi. Tác động mạnh gây gãy
phức tạp mũi sàng ổ mắt. Swearinger (1965) chứng minh rằng phức hợp mũi
sàng chịu lực tác động tối đa 35-80gram lực này tương đối nhỏ không làm tổn
thương xương khác ở mặt [29].
14
1.2.3.2. Tổn thương xoang
- Thủng thành xoang đơn thuần hoặc vỡ thành nhiều mảnh.
15
- Di lệch thành xoang từ chỗ lún, rạn nứt hoặc 2 mép rời nhau.
- Vùng da tương ứng bị bầm tím, tụ máu, rách da hoặc vết thương hở
thông với xoang, có hay không có dị vật.
- Niêm mạc rách, bong hoại tử, chảy máu.
1.2.3.3. Tổn thương phối hợp khác
- Vỡ thành trên xoang hàm gây thoát vị tổ chức hốc mắt vào xoang.
- Vỡ thành sau xoang trán và mảnh sàng làm rách màng não, gây chảy
dịch não tủy.
- Các trường hợp gãy Le Fort, vỡ xương gò má gây tổn thương phối
hợp làm trật khớp cắn hoặc có chấn thương sọ não.
- Tổn thương mũi sàng ổ mắt có thể tổn thương nội nhãn, sa góc trong
mắt.
1.2.4. Triệu chứng lâm sàng
1.2.4.1. Triệu chứng chấn thương mũi
- Đau : bao giờ cũng có, đặc biệt đau chói khi ấn vào vị trí tương ứng
với nơi gãy xương.
- Chảy máu mũi luôn có ra cửa mũi trước hay cửa mũi sau, ít hoặc
nhiều, đôi khi chảy máu dưới niêm mạc làm phồng vách ngăn.
- Biến dạng tháp mũi: tháp mũi sụp lõm,bè ra, lệch vẹo sang 1 bên.
- Sưng nề bầm tím sống mũi, rãnh mũi má, góc trong mắt, quanh ổ mắt.
- Tràn khí.
- Khi sờ có dấu hiệu lạo xạo chứng tỏ có sự cọ xát hai đầu xương gãy.
- Soi mũi thấy có máu đọng hoặc chảy máu từ vết rách hoặc từ trên cao
xuống khó xác định vị trí. Hốc mũi có thể hẹp do phù nề, do tụ máu, lệch
vách ngăn.
- Xquang: Phim nghiêng tia mềm có thể thấy gián đoạn xương chính
* Phẳng làm mất cân xứng khuôn mặt.
* Tụ máu quanh ổ mắt, kết mạc. Tụ máu rãnh lợi môi: đây là dấu
hiệu đặc trưng vỡ thành ngoài xoang hàm tại khớp gò má hàm[45].
* Có thể tăng cảm giác đau vùng má, nhìn đôi, cứng hàm.
* Khóe mắt ngoài, đồng tử bên tổn thương thấp hơn bên lành.
* Có thể có tiếng lạo xạo vùng má hoặc dấu hiệu bậc thang sờ thấy ở
bờ dưới ổ mắt hoặc dọc cung gò má.
* Xquang: Phim Blondeau thấy mất liên tục các khớp gò má. Có thể
mờ xoang hàm. Phim Hirtz so sánh 2 cung gò má có thể thấy vị trí gãy hoặc
biến dạng cung gò má.
- Vỡ ngang mặt kiểu Le Fort:
+ Gãy Le Fort I: Bầm tím môi trên, rãnh lợi môi. Sai khớp cắn, há miệng
hạn chế. Đau khi ấn dọc gai mũi tới lồi củ xương hàm trên. Có thể thấy có di
lệch cung răng trên.
+ Gãy Le Fort II: Mặt sưng nề. Tụ máu ổ mắt, sai khớp cắn. Có dấu hiệu
di động bất thường xương hàm trên qua tầng giữa mặt.
Hçnh 10 :
18
+ Gãy Le Fort III: Toàn bộ mặt sưng nề bầm tím. Tụ máu ổ mắt ( dấu
hiệu đeo kính râm), nhìn đôi, sai khớp cắn, tầng giữa mặt bị đẩy ra sau xuống
dưới.
Hình 11 : Axial CT Scan của một bệnh nhân
với gãy LeFort III
+ Xquang: Phim Blondeau, Hirtz, sọ nghiêng đánh giá sơ bộ các đường
gãy. CT Scan có vai trò đánh giá chi tiết tổn thương tại chỗ và các tổn thương
phối hợp.
1.2.4.3. Triệu chứng chấn thương xoang trán
Có thể gặp chấn thương kín hoặc hở ngoài dấu hiệu toàn thân như ngất,
1.2.4.4. Triu chng chn thng xoang sau
Him gp v n thun tr n xuyờn qua gúc mt, mu trỏn xng hm
trờn, tn thng xng l hoc th thut no sng qua mi lm thng mnh
sng hoc nhột bc mi quỏ mc lm v xng giy. Chn thng xoang
sng phi hp thng gp v cú nhiu tờn gi tn thng phc tp ny:
- V mi sng ( Nasoethmoidal fractures).
- V mi hm ( Nasomaxillary fractures).
- V mi sng mt ( Nasoorbitoethmoidal fractures)[60].
Cú th gp cỏc du hiu sau:
- T mỏu mi mt, xut huyt ni nhón. Tn thng dõy thn kinh th gõy
mự hoc tn thng h thng l t gõy chy nc mt sng.
Hỗnh 12 : Vồợ thaỡnh trổồùc xoang traùn vaỡ bồỡ trón họỳc mừt
Hỗnh 13 : Vồợ thaỡnh trổồùc xoang traùn, bồỡ trón họỳc mừt vaỡ mỷt trổồùc xoang saỡng
20
- Cú th chy dch nóo ty qua mi [54],[56],[66].
- Vựng mi sng di lch, tht lừm ra sau.
- Sa gúc mt, khong cỏch 2 mt rng ra, ln hn 1/2 khong cỏch 2 ng
t do t gõn gúc mt trong [53].
- CT Scan: Cú ý ngha trong cỏc trng hp ny. Biu hin chc chn ca
b
c
d
Hỗnh 14 : Vồợ khọỳi muợi saỡng ọứ mừt 21
- Viêm não màng não: Thường do rách màng não do chấn thương sàng
trán, viêm màng não sau CT mũi xoang hay tái phát do dò dịch não tủy qua
mũi. Aïp xe não có thể gặp muộn sau nhiều năm [32].
- Nhiễm trùng khác: Viêm quanh mi mắt, viêm tấy nội nhãn hoặc viêm tắc
tĩnh mạch hang [36].
1.2.5.2. Di chứng thẩm mỹ
- Mũi: Biến dạng tháp mũi, sẹo hẹp hốc mũi, vẹo vách ngăn.
- Mắt: Bị thụt lõm, lồi mắt, biến dạng góc mắt, hai mắt xa nhau hoặc sa
thấp hơn bình thường, mất nhãn cầu.
- Mặt: Mất cân xứng, má phẳng, cung gò má lồi, lõm, sẹo co kéo mặt.
1.2.5.3. Chảy dịch não tủy qua mũi
Hậu quả của vỡ thành sau xoang trán và mảnh sàng, thường ngừng chảy
sau 2 tuần [68], nếu không ngừng chảy phải can thiệp phẫu thuật. Lúc đầu
chảy DNT khó nhận biết vì lẫn máu. DNT lẫn máu sẽ tạo nên quầng thấm
quanh giọt máu được nhỏ ở trên vải trắng hoặc giấy thấm. Xét nghiệm có
glucoza [4,6,36] hoặc có B Tranferin [36] trong dịch mũi chứng tỏ dịch mũi
có chứa DNT.
1.2.5.4. Các biến chứng khác
- Mất khứu do vỡ mảnh sàng, tổn thương dây thần kinh khứu giác.
- Rối loạn cảm giác da do tổn thương dây thần kinh dưới ổ mắt gây dị cảm,
giảm cảm giác, tê bì vùng má.
- Tụ máu vách ngăn.
- Rối loạn khớp cắn: trật khớp cắn, khít hàm.
máu trong xoang, sự rạn vỡ của cung Zygoma.
Phim Blondeau cho thấy những tổn thương của tháp mũi: ngành lên xương
hàm trên, xương chính mũi, máu tụ trong xoang trán, sự gián đoạn hay liên
tục của gờ ổ mắt, đặc biệt nó có thể cho thấy các đường vỡ kinh điển: đường
vỡ của Le Fort, các đường vỡ qua xoang hàm và hiện tượng tụ máu trong
xoang.
Phim sọ nghiêng cho thấy những tổn thương xương chính mũi, ngành lên
xương hàm trên và vùng tiền đình mũi, những tổn thương gãy vỡ của cung
răng hàm trên.
- CT Scan: Hai tư thế thường sử dụng trong chấn thương xoang là coronal
và axial. CT Scan có vai trò đánh giá chính xác tổn thương tại chỗ và tổn
thương phối hợp giúp phẫu thuật viên đề xuất phương án tiếp cận tổn thương
để điều trị hiệu quả hơn [34], [68],[81].
23
1.2.7. Điều trị
Trước hết cần đánh giá các tình huống nguy hiểm liên quan đến tính mạng:
tắc đường thở, chấn thương sọ não, tổn thương mạch máu lớn từ đó điều trị
cấp cứu tiếp theo điều trị chuyên khoa.
- Xét nghiệm bổ sung:
+ Soi đáy mắt: kiểm tra hiện tượng phù nề của gai mắt, đo thị lực, thị
trường.
+ Xét nghiệm dịch mũi khi nghi ngờ là chảy dịch não tủy.
1.2.7.1. Điều trị ban đầu
- Chống ngạt thở: Hút đờm dãi, máu đọng ở miệng để khai thông đường
thở. Nếu tụt lưỡi thì kéo ra trước khâu cố định vào cằm hoặc dùng kim dài
xuyên luồn qua má vào gốc lưỡi cố định. Mở khí quản nếu cần, lưu ý bệnh
nhân hôn mê dễ ngạt thở.
- Chống chảy máu: Không kiểm soát tình trạng chảy máu có thể tử vong
do chấn thương vùng mặt [26,77] do đó phải băng ép, nhét bấc mũi. Những
dùng ống polyethylene gấp hình đèn xếp đặt trong lòng xoang và kéo dài đoạn
cuối dẫn lưu qua mũi ( xoang trán). Có thể dùng nẹp vít hoặc chỉ thép cố định
thành xoang. Lưu ý khi vỡ thành sau xoang trán phải bộc lộ để kiểm tra màng
não, nếu rách phải khâu lại. Thành trên xoang hàm vỡ mất chất phải ghép
xương bằng vật liệu tự thân hay nhân tạo thay thế rồi chèn bấc hoặc dùng
bóng cao su bơm hơi đặt vào xoang để cố định.
- Bảo đảm dẫn lưu xoang:
25
+ Đối với niêm mạc: Đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn lưu xoang
nhờ tác dụng của lông chuyển vì vậy phải bảo tồn tối đa niêm mạc, chỉ lấy bỏ
niêm mạc bong tróc, chấn thương đến muộn nhiễm trùng làm cho niêm mạc
thoái hóa sùi hoặc polype.
+Làm lỗ thông xoang: Để đảm bảo dẫn lưu và lấy máu đọng. Đối với
xoang trán việc tạo ống mũi trán bằng cách đặt ống silastic trong hai tháng có
hiệu quả rất tốt. Dẫn lưu sang xoang trán đối diện bằng cách phá bỏ vách liên
xoang nếu như bên đối diện hệ thống dẫn lưu còn tốt.
+ Đối với xoang sàng: Một số trường hợp cần thiết nạo sàng qua mũi
hoặc sàng hàm để lấy bỏ vách ngăn xoang tránh máu đọng.
1.2.7.3. Điều trị phối hợp khác
- Phối hợp điều trị các chấn thương khác: Nắn chỉnh xương gò má, chỉnh
hình khớp cắn, điều trị tổn thương mắt.
- Kháng sinh dự phòng trước và sau phẫu thuật là cần thiết.
- Chống viêm, chống phù nề, giảm đau vừa có tác dụng giảm đau tại chỗ
vừa có tác dụng dẫn lưu mũi xoang tạo điều kiện để chỉnh hình mũi xoang tốt
hơn.
- SAT là bắt buộc với vết thương bẩn, đặc biệt là vết thương hở đề phòng
uốn ván.
1.3. VÀI NÉT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU.
1.3.1. Ở nƣớc ngoài