1
Đặt vấn đề
Kết mạc che phủ toàn bộ bề mặt nhãn cầu và mặt trong mi mắt, đảm
bảo cho mi mắt không dính chặt vào nhãn cầu và trượt dễ dàng trên bề mặt
nhãn cầu mà không gây tổn thương cho giác mạc. Kết mạc tiếp xúc với nhiều
yếu tố bên ngoài như gió, bôi, khói, ánh sáng tia tử ngoại, nên dễ bị viêm
nhiễm [10].
Viêm kết mạc là viêm khu trú hoặc tỏa lan của kết mạc, tạo ra bệnh
cảnh lâm sàng phong phú và đa dạng. Nước ta thuộc vùng khí hậu nóng Èm
nhiệt đới gió mùa, nên viêm kết mạc cấp là bệnh rất thường gặp [8], [14],
[29], nhất là vào mùa hè. Viêm kết mạc cấp có nhiều nguyên nhân, chủ yếu
do vi khuẩn, virut và dị ứng, đôi khi khó xác định được nguyên nhân, do đó
đòi hỏi những xét nghiệm phức tạp, những xét nghiệm này giúp cho chẩn
đoán và có phương pháp điều trị thích hợp, để tránh những biến chứng hiếm
gặp nhưng rất nặng nề [14], điÒu trị viêm kết mạc cấp tùy thuộc vào nguyên
nhân [41].
Năm 2004, ở Tây Ban Nha, 71,8% bệnh nhân viêm kết mạc cấp đã
phân lập được vi khuẩn gây bệnh [33]. Năm 2007, ở Mỹ có đến 3% bệnh
nhân đến khám bệnh bị các bệnh về mắt, trong đó viêm kết mạc chiếm tỷ lệ
30%, bệnh gặp ở tất cả các lứa tuổi [16] [17]. Theo nghiên cứu của Edward,
năm 2008 ở Italia, những vi khuẩn thường gặp là Streptococcus pneumoniae,
Haemophilus influenzae và Staphylococcus epidermidis, chiếm tỷ lệ 86,2%
[21], [31], [38].
Ở Việt Nam, khoảng 40 năm trước đây, những vi khuẩn được coi như
“vi khuẩn đặc hiệu” gây bệnh ở mắt gồm: Moraxella gây viêm kết mạc góc,
trực khuẩn Koch-Weeks gây dịch viêm kết mạc có xuất huyết, lậu cầu là vi
2
khuẩn số một gây mù lòa, phế cầu gây viêm kết mạc cấp thành dịch, thì nay
1.1.1. Giải phẫu của kÕt mạc:
Kết mạc là một màng mỏng, trong và bóng, che phủ mặt sau mi mắt,
quặt ngược tạo ra các túi cùng kết mạc và tiếp tục che phủ phần trước của
nhãn cầu, trừ giác mạc. Kết mạc bao gồm:
1.1.1.1. Kết mạc sụn mi:
Che phủ bề mặt sụn mi, tiếp nối ở phần trước với bờ tự do mi mắt.
1.1.1.2. Kết mạc cùng đồ:
Tiếp nối từ phần sau của kết mạc mi quặt ra sau tạo túi cùng kết mạc,
gồm có túi cùng kết mạc trên, dưới, ngoài và trong.
1.1.1.3. Kết mạc nhãn cầu:
KÕt mạc nhãn cầu mỏng và trong suốt, tiếp nối từ cùng đồ đến sát rìa
giác mạc.
1.1.1.4. Nếp bán nguyệt:
Là nếp kÕt mạc nằm dọc góc trong mắt, ở phía ngoài cục lệ.
1.1.1.5. Cục lệ:
Cục lệ là một tổ chức liên kết nhỏ màu đỏ, nằm ở góc trong của khe mi,
phía trong nếp bán nguyệt.
1.1.1.6. Các tuyến của kết mạc:
4
- Tuyến tiết nhày: Gồm các tuyến Manz bao quanh vùng rìa giác mạc
và những tuyến Henle tập trung ở 1/3 trên của kết mạc sụn mi trên và dọc
theo 1/3 dưới của kết mạc sụn mi dưới.
- Tuyến tiết thanh dịch: Tuyến Krause ở túi cùng kết mạc, tuyến
Wolfring ở rìa sụn mi trên và túi cùng kết mạc.
1.1.1.7. Các mạch máu, thần kinh và bạch huyết của kết mạc:
* Các động mạch của kết mạc:
Các động mạch mi rải ra ở mặt trước sụn mi, tạo thành một cung động
mạch ngoại vi lượn theo bờ trên sụn, rồi xuống mặt sau sụn mi; từ cung động
mạch trong các nhánh quặt ngược uốn theo bờ tù do đến mặt sau sụn mi, tạo
- Lớp đệm bạch nang: Ở dưới biểu mô, có 2 loại tế bào: những tế bào
lympho tập trung thành từng đám ở khoảng trên sụn và những tổ chức bào
nằm rải rác. Lớp đệm bạch nang chứa nhiều mạch máu và tổ chức bạch huyết.
- Lớp tổ chức xơ: Ở sâu nhất, có nhiều sợi liên kết đàn hồi và cùng bình
diện với bề mặt sụn mi, nên kết mạc sụn mi không có tổ chức xơ [2].
1.2. Những khái niệm cơ bản của viêm kết mạc: [1], [13], [8], [14], [9], [11],
[12], [28], [27], [31].
1.2.1. Cơ chế phòng vệ của kết mạc:
Bình thường hốc mắt ngăn chặn những chấn thương mắt; lông mi bắt
giữ những dị vật nhỏ, mi mắt chớp theo cơ chế phản xạ; nước mắt làm trôi đi
những chất lạ, trung hòa các chất độc, làm loãng các dị nguyên. Lactoferrin,
6
lysozym, beta-lysin và IgA chế tiết tương tác với nhau để điều chỉnh tạp
khuẩn của kết mạc và giảm sự kết dính của vi khuẩn.
Kết mạc - cấu tạo bởi biểu mô lát tầng, các tế bào Langerhans và đôi
khi có bạch cầu - bảo vệ nhãn cầu tốt hơn bất kỳ một bề mặt nhân tạo nào.
Kết mạc duy trì sự hằng định nội môi của giác mạc nhờ vai trò ổn định lớp
nước mắt và tiết ra một số chất có trong nước mắt [14].
Cơ chế bảo vệ của kết mạc còn dựa vào hệ thống miễn dịch, những
lympho bào B, T, NK và K trong hệ mạch bạch huyết của kết mạc hoạt động
trong hệ thống miễn dịch thể dịch và tế bào. Bạch huyết đi đến những hạch
trước tai và dưới hàm, rồi những lympho bào mới sản sinh và những bạch cầu
khác quay trở lại qua hệ thống động mạch cảnh ngoài và động mạch mắt để
đến nhãn cầu [13].
1.2.2. Các cơ chế của viêm kết mạc:
Chấn thương, nhiễm trùng và dị ứng của mắt kích thích các phản ứng
viêm. Nhiều bệnh của kết mạc có sự tham gia của miễn dịch thể dịch và miễn
dịch tế bào, những cơ chế sinh miễn dịch bao gồm phản ứng thông qua IgE, tự
miễn dịch, phức hợp miễn dịch và quá mẫn chậm.
trắng hoặc xanh để nhận xét độ sâu, phân bố, hình thể, tính chất di động và
màu sắc của mạch máu giãn [8].
1.2.3.2. Phù kết mạc:
Xuất hiện khi có viêm nhiễm nặng ở kết mạc hoặc đôi khi là biểu hiện
gián tiếp của viêm nhiễm trong hốc mắt hoặc nội nhãn. Phù kết mạc là do tích
tụ dịch rỉ viêm chứa fibrin và protein, thấm qua các mao mạch có lỗ của kết
mạc, gây sưng lên và có màu trong suốt của kết mạc nhãn cầu và kết mạc
8
cùng đồ - nơi mô dưới niêm mạc lỏng lẻo và đàn hồi, kÕt mạc phù nặng có
thể lộ ra qua khe mi làm mi nhắm không kín.
9
1.2.3.3. Tiết tố kết mạc:
Dịch rỉ từ những mạch máu giãn, cương tụ thấm ra ngoài qua biểu mô
kết mạc và còn do các tế bào tiết nhày của kết mạc hoạt động mạnh khi bị
viêm tiết ra, trộn lẫn với nước mắt tạo thành tiết tố kết mạc.
1.2.3.4. Nhó gai:
Nhiều nguyên nhân viêm kết mạc gây ra đáp ứng tạo nhú gai, Ýt có
tính đặc hiệu, là những chỗ nổi lên của kết mạc sụn mi và kết mạc nhãn cầu
vùng rìa (ở dưới là tổ chức xơ: sụn mi, củng mạc), đó là khối tổ chức liên kết
tăng sinh do viêm xung quanh giới hạn bằng những khe liên bào, ở giữa các
vách bám của kết mạc vào sụn mi và dễ thấy nhất trên kết mạc sụn. Từ các
mạch máu bị giãn sinh ra các mao mạch có dạng nan hoa, ở giữa có trục mạch
máu xung quanh là phù nề và thâm nhiễm nhiều tế bào viêm mạn tính nh-
lympho bào, tương bào và bạch cầu ái toan. Nhó gai là yếu tố quan trọng
nhưng không đặc hiệu, thường gặp trong viêm kết mạc do vi khuẩn, do dị
ứng, phản ứng với kính tiếp xúc, viêm bờ mi [3], [13], [10].
1.2.3.5. Hét:
Hét là phản ứng bệnh lý trong một số loại viêm kết mạc, do sự quá sản
Trong giai đoạn đầu, triệu chứng chủ quan thường không đặc hiệu [3],
gồm những dấu hiệu kinh điển của viêm cấp tính: đau, nóng đỏ và sưng nề.
Tiến triển và xuất hiện những triệu chứng tiếp theo giúp cho chẩn đoán lâm
sàng [13], [9].
11
+ Mắt đỏ.
+ Mắt không đau, hoặc đơn thuần cay mắt, cảm giác cộm rát như có dị
vật, cát trong mắt.
+ Ngứa mắt là biểu hiện thường xuyên của viêm kết mạc dị ứng nhưng
cũng có thể gặp trong viêm bờ mi.
+ Tiết tố kết mạc từ nhẹ đến nặng, đặc điểm khác nhau tùy theo nguyên
nhân gây viêm:
- Tiết tố nhiều, loãng dạng nước chứa thanh dịch, nhày trong và
thường hơi dính, đặc trưng cho viêm kết mạc dị ứng hoặc do virut cấp.
- Tiết tố dạng mủ có màu vàng (thường do tụ cầu), màu như mủ vàng
bẩn (thường do lậu), hoặc trắng vàng; lúc đầu dạng loãng giống như viêm kết
mạc do virut, sau chuyển sang mủ nhày bám khô, tái tạo rất nhanh sau khi lau
sạch, có thể dính mi vào buổi sáng, bệnh nhân khó mở mắt. Tiết tố dạng mủ
vàng bẩn đặc trưng cho viêm kết mạc do vi khuẩn [8].
+ Đôi khi chãi khi có ánh sáng và chảy nước mắt kín đáo mà không có
tổn thương giác mạc kèm theo.
+ Thị lực không giảm: có cảm giác vướng mắt do tiết tố, sự khó chịu
này sẽ mất đi khi chớp mắt [13].
1.2.4.2. Những dấu hiệu thực thể:
+ Kết mạc cương tụ đỏ ở ngoại vi và trên diện rộng,
+ Nhó gai: Nhó gai đúc nhập tạo nhú khổng lồ khi viêm kéo dài, gặp
trong viêm kết mạc mùa xuân, viêm kết mạc dị ứng, viêm kết mạc do vi
khuẩn, viêm bờ mi, hoặc có phản ứng với kính tiếp xúc.
+ Xuất huyết dưới kết mạc: thường do trực khuẩn Weeks.
- Nếu do dị ứng cấp: tỷ lệ bạch cầu ưa acid tăng.
13
1.2.4.4. Một số hình thái viêm kết mạc cấp:
a. Viêm kết mạc cấp do vi khuẩn [1], [3], [5], [8], [11], [27].
NÕu bệnh do vi khuẩn có độc tính cao thì có thể trở nên nghiêm trọng
và ảnh hưởng đến thị lực, thường gặp ở tất cả các lứa tuổi và có thể thành dịch
[1]. Vi khuÈn thường gặp là liên cầu, tụ cầu, phế cầu, lậu cầu, H. influenzae,
trực khuẩn Weeks, Moraxella
+ Viêm kết mạc cấp do phế cầu:
Thường ở trẻ em có kèm viêm thể dịch đường hô hấp trên. Hai mi sưng
nề, xuất huyết chấm nhỏ ở kết mạc, tạo màng giả ở kết mạc sụn mi và cùng đồ
dưới, màu trắng xám, dễ bóc.
Lấy tiết tố kết mạc làm xét nghiệm xác định vi khuẩn gây bệnh trước
khi điều trị, bóc màng kết mạc hàng ngày, lau sạch tiết tố bằng nước muối
sinh lý và tra thuốc kháng sinh 10 đến 15 lần/ ngày.
+ Viêm kết mạc cấp do lậu cầu:
Bệnh tiến triển tối cấp rất nặng, tiết tố mủ vàng bẩn và màng kết mạc,
sưng hạch trước tai, kết mạc phù lé ra qua khe mi. Có thể loét giác mạc,
thủng giác mạc và viêm nội nhãn. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng
và xét nghiệm (soi trực tiếp tiết tố bằng nhuộm gram, thấy song cầu gram (-)
hình hạt cà phê, trong và ngoài tế bào). Điều trị dựa vào triệu chứng lâm sàng
và kết quả xét nghiệm [27].
Cã 3 hình thái lâm sàng: Sơ sinh, trẻ em và người lớn.
- Viêm kết mạc cấp do lậu cầu ở trẻ sơ sinh:
Tỷ lệ 10% ở trẻ tiếp xúc với đường sinh dục của người mẹ bị nhiễm lậu
[27] và chiếm 1% tổng số các viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh [13], xuất hiện vào
ngày thứ 2 - 3, tiến triển tối cấp qua 3 giai đoạn:
14
Phản ứng hột ở mi dưới, cùng đồ dưới và kết mạc nhãn cầu, không tạo
màng, Ýt tiết tố mủ nhày và có hạch trước tai.
- Viêm kết mạc do Chlamydia ở trẻ sơ sinh:
Bệnh ở hai mắt, nhiều tiết tố mủ nhày, không có hột nhưng có nhú gai
chạm nhẹ cũng gây chảy máu, có màng kết mạc sụn mi. Cần phân biệt với viêm
kết mạc do lậu cầu (lấy tiết tố nhuộm gram hoặc giemsa) [11].
+ Viêm kết mạc cấp do bạch hầu:
Bệnh do trực khuẩn Lefflera tạo ngoại độc tố gây ra, lây qua đường hô hấp
và đặc trưng bởi sự tạo màng ở đường vào của vi khuẩn, ủ bệnh 2 – 10 ngày,
thường ở trẻ em từ 2 – 10 tuổi. Bệnh có 3 hình thái lâm sàng:
- Hình thái bạch hầu: Nặng nhất, mi phù cứng, cương tụ (đặc biệt mi trên),
khó mở mắt, Ýt tiết tố nhày. Sau 1 - 3 ngày mi mềm hơn và nhiều tiết tố hơn,
màng kết mạc màu xám bẩn bám chặt vào kết mạc sụn mi, cùng đồ và kết mạc
nhãn cầu, bóc màng rất khó, gây chảy máu và để lại sẹo ở kết mạc.
- Hình thái tơ huyết: Thường gặp hơn và nhẹ hơn, màng chỉ ở kết mạc mi,
mềm hơn, màu xám bẩn, dễ bóc hơn và chảy máu Ýt, sẹo sau khi bóc Ýt hơn,
tiên lượng tốt.
- Hình thái thể dịch: Nhẹ nhất, có cương tụ và phù kết mạc, không tạo
màng kết mạc, không có tổn thương giác mạc [8].
+ Viêm kết mạc cấp do trực khuẩn Koch – Weeks:
16
Ủ bệnh trong 2 ngày, khởi phát đột ngột, mi mắt sưng nề, tiết tố viêm dính
chặt lông mi, kết mạc cương tụ, phù, có những xuất huyết li ti, có hạch trước tai,
Ên đau. Bệnh rất dễ lây, có thể thành dịch [10].
b. Viêm kết mạc do virut: [3], [8].
Các virut gây bệnh ở mắt thường là Adenovirus, Herpes virus,
Coxsakievirus.
+ Viêm kết mạc hột cấp thành dịch do adenovirut:
Viêm kết mạc do Adenovirus có thể có xu hướng tự khỏi [5]. Bệnh lây
gặp ở phụ nữ theo chu kỳ kinh nguyệt và hay tái phát do virut luôn có ở trong cơ
thể. Điều trị thuốc kháng virut toàn thân và tại chỗ trong 3 tuần để phòng viêm
giác mạc, kết hợp tăng cường sức đề kháng cơ thể.
+ Viêm kết mạc cấp do các virut khác:
Như enterovirus, coxsackie virus, bệnh tiến triển nhanh, không kéo dài
và có thể khỏi sau một tuần, bệnh hiếm gặp, lây lan mạnh, có phản ứng hạch,
xuất huyết dưới kết mạc và viêm biểu mô giác mạc dạng chấm. Không có thuốc
điều trị đặc hiệu, cần giữ vệ sinh, cách ly tốt, chống bội nhiễm.
c. Viêm kết mạc dị ứng cấp tính: [5], [8].
Là bệnh thường gặp, dị nguyên thường là ngoại sinh, có các thể bệnh:
+ Viêm kết mạc mẫn cảm cấp tính (kiểu dị ứng nhanh):
18
Thường gặp do thuốc, tá dược, bệnh nhân có cảm giác đau rát bỏng mắt,
sợ ánh sáng, chảy nước mắt. Mi mắt phù, kết mạc cương tụ, chảy nhiều dịch,
phát triển nhú to trên kết mạc sụn mi, có thể viêm giác mạc chấm. Điều trị bằng
kháng histamin, chống bội nhiễm, kháng viêm có steroid.
+ Viêm kết mạc và viêm da tiếp xúc:
Thường do dị nguyên ngoại sinh như: hóa chất, mỹ phẩm, phấn hoa, thức
ăn, tiến triển kiểu dị ứng chậm, thường ở lần thứ hai tiếp xúc với dị nguyên,
cảm giác rát bỏng, đau chói sợ ánh sáng, kết mạc mi và kết mạc nhãn cầu cương
tụ, phù nề, nhú viêm phì đại, nhiều tiết tố mủ nhày (nếu xét nghiệm có nhiều tế
bào ái toan và tế bào biểu mô).
1.2.4.5. Sự có mặt các vi sinh vật ở kết mạc bình thường: [13].
Tạp khuẩn ở kết mạc bình thường cũng tương tự như tạp khuẩn ở da, có
thể thấy cả vi khuẩn ở dạ dày- ruột, hoặc các vi khuẩn lây truyền theo đường
không khí.
Bảng 1.1: Các loại vi sinh vật gặp ở kết mạc:
Các vi sinh vật
Mức độ gặp
Haemophilus influenzae
Streptococcus pneumoniae
Staphylococcus aureus
Moraxella lacunata
Neisseria gonorrhoeae
Streptococcus pyogenes
Pseudomonas aeruginosa
Các vi khuẩn khác hiếm gặp hơn.
+ Có 3 loại vi khuẩn thường gặp nhất là: Staphylococcus aureus
(thường gặp ở người lớn) và Streptococcus pneumoniae, Haemophilus
influenzae (hai loại này thường gặp ở trẻ em).
- Tụ cầu (Staphylococcus):
Là vi khuẩn thường gặp nhất, gồm có tụ cầu vàng (S. aureus) và tụ cầu
da (S. epidermidis) ký sinh trên da và niêm mạc, là cầu khuẩn Gram (+),
đường kính 1àm, xếp từng đám như chùm nho, không di động, không sinh
nha bào. Ngoại độc tố của tụ cầu gồm exotoxin gây hoại tử tổ chức,
leucoeidin phá hủy bạch cầu, exfoliativetoxin làm khô bong vảy da. Các
20
enzym của tụ cầu có catalase phá hủy nước oxy già thành nước và oxy,
coagulase gây đông huyết tương người và động vật. Tụ cầu gây ra nhiễm
khuẩn ngoài da, nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, Ở mắt tụ cầu gây ra các ổ
áp xe, loét gần rìa, viêm kết mạc, có thể lan vào nhu mô giác mạc và viêm
toàn nhãn [1].
- Phế cầu (Streptococcus pneumoniae):
Phế cầu được phân lập bởi L. Pasteur năm 1880, có dạng ngọn nến, xếp
thành đôi, đường kính 0,5 - 1,25àm, gram (+), không di động và không sinh
nha bào, mọc dễ dàng trong môi trường có nhiều chất dinh dưỡng, ở nhiệt độ
37
o
- Chlamydia:
Có dạng hình cầu không di động, ký sinh bắt buộc trong tế bào nên
không nuôi cấy được, chóng nhân lên trong tế bào của súc vật thí nghiệm
(chuột nhắt trắng, bào thai gà, ). Chlamydia gồm phức hợp Glucid, Lipid,
Protid, đồng thời cả hai loại acid nucleic (DNA và RNA) và có những thành
phần giống vách vi khuẩn, không có khả năng tạo ATP bằng oxy hóa nên lệ
thuộc vào tế bào túc chủ, chúng rất yếu nên dễ bị tiêu diệt bởi sức nóng, tia cực
tím và thuốc sát khuẩn. Chlamydia các type D, E, F, G, H, I, J và K gây bệnh
viêm đường sinh dục, viêm kết mạc cấp ở trẻ em (type D-K); các type A, B,
Ba và C gây bệnh mắt hét [1]. Xét nghiệm tế bào học kết mạc thì có tương
bào, đại thực bào và thể vùi nội bào tương [13].
b. Virut: [1].
+ Adenovirus:
22
Đặc điểm sinh học chung: chứa ADN sợi kép, capsid đối xứng khối có
252 capsomers, kích thước 70-90nm. Phát hiện virut bằng phản ứng kết hợp
bổ thể (thường được dùng để chẩn đoán, kỹ thuật đơn giản, rẻ tiền), xác định
typ bằng phản ứng trung hòa.
+ Herpesvirus:
Đặc điểm chung: chứa ADN sợi kép, capsid đối xứng khối, có vỏ bao
ngoài cấu tạo bởi lipid, nhậy cảm với ether, kích thước từ 150-160nm. Xác
định bằng kỹ thuật miền dịch huỳnh quang.
+ Enterovirus:
Đối xứng hình khối đa diện đều, chứa ADN một sợi, kích thước 20 -
30nm, capsid có 32 capsomer, đề kháng với ether, bất hoạt bởi formol và chất oxy
hóa mạnh. typ 6, 9 gây viêm kết mạc, typ 70 gây viêm kết mạc xuất huyết. Có thể
phân lập virut trên tế bào thận khỉ, tế bào màng ối, phản ứng huyết thanh học Ýt được
sử dụng.
+ Coxsackievirus:
+ Viêm màng bồ đào: Đau nhức mắt, phản ứng thể mi (+), cương tụ rìa,
nhãn áp tăng do tế bào viêm gây bít hoặc dính ở góc tiền phòng hoặc dính
mống mắt vào mặt trước thể thủy tinh; nhãn áp có thể hạ do teo thể mi. Giác
mạc đục, phù, có nếp gấp màng descemet, tủa viêm mặt sau giác mạc màu
trắng xám. Đục thủy dịch (thể tyndall), có thể có mủ tiền phòng, đồng tử co
nhỏ, lười hoặc mất phản xạ, thị lực giảm.
24
+ Glôcôm: Đau đầu, giảm thị lực, phù giác mạc, lắng đọng sắc tố mống
mắt sau giác mạc. Tiền phòng nông, đồng tử giãn, nhãn áp tăng [8].
+ Viêm loét giác mạc: Cương tụ rìa, thị lực giảm, tổn thương giác mạc,
giác mạc bắt màu xanh dương khi nhuộm bằng fluorescein.
1.2.4.8. Các yếu tố nguy cơ của viêm kết mạc:
- Tiếp xúc với người bị viêm kết mạc.
- Ở người sử dụng kính tiếp xúc (thường do pseudomonas).
- Ở nơi tụ tập đông người, nơi cắm trại, trường học dễ bị dịch viêm kết
mạc (thường do Streptococcus).
- Hoặc do lây truyền qua đường quan hệ tình dục (thường do
Gonorrhoeae, Chlamydia) [31] .
1.2.4.9. Biến chứng:
+ Viêm giác mạc: Nhuộm giác mạc không bắt màu fluorescein.
+ Loét giác mạc: Nhuộm giác mạc bắt màu fluorescein, có thể thủng giác
mạc, thường gặp viêm kết mạc do lậu cầu.
1.2.5. Phân loại viêm kết mạc:
+ Phân loại lâm sàng viêm kết mạc theo thời gian khởi phát, mức độ và
loại vi khuẩn [13]:
Bảng 1.2: Phân loại viêm kết mạc:
Khởi phát
cập. Năm 1802 dịch viêm kết mạc phát triển trong quân đội ở nước Anh và
năm 1840 ở nước Bỉ [13]. Khi nghiên cứu về vi khuẩn gây bệnh viêm kết
mạc, Soudakoff (1954), Nicholas (1966), Ploshinskaya (1974) đều thấy rằng,
tụ cầu (Staphylococcus) là vi khuẩn đứng hàng đầu trong bệnh lý viêm kết
mạc [4]. Ở Mĩ, năm 2007 theo Patel PB, ở trẻ em (từ 1 tuổi đến 18 tuổi) bị
viêm kết mạc, có tới 78% nuôi cấy có vi khuẩn gây bệnh, trong đó H.
Influenzae 82%, S. Pneumoniae 16%, S. Aureus 2,2% và các tác giả đã kết
luận rằng: viêm kết mạc ở trẻ em thường do vi khuẩn và thường gặp nhất là