Đề tài "Hạn chế rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng công thương Hoàn Kiếm" - Pdf 19

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài
"Hạn chế rủi ro thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ tại chi
nhánh ngân hàng công thương Hoàn Kiếm"
MỤC LỤC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 1
Đề tài 1
"Hạn chế rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
tại chi nhánh ngân hàng công thương Hoàn Kiếm" 1
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 7
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế 8
1.1.3.2. Đối với ngân hàng 10
1.1.4.1. Điều kiện tiền tệ 11
1.1.4.2. Điều kiện đảm bảo hối đoái 11
1.1.4.3. Điều kiện về thời gian thanh toán 12
1.2.3.1. Thư tín dụng không thể huỷ bỏ ( Irrevocable letter of credit) 17
1.2.3.2. Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận(Confirmed
irrevocable letter of credit) 18
1.2.3.3. Thư tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi ( Irrevocable
without recouce of credit) 18
1.2.3.4. Thư tín dụng giáp lưng ( back to back letter) 18
1.2.3.5. Thư tín dụng ứng trước điều khoản đỏ ( Ađvance letter of credit,
Red clause letter of credit) 18
1.2.3.6. Thư tín dụng toàn hoàn ( Revolving letter of credit) 19
1.2.3.7. Thư tín dụng dự phòng ( Stand by letter of credit) 20
1.2.3.8. Thư tín dụng chuyển nhượng( Transferable letter of credit) 20
1.2.3.9. Thư tín dụng đối ứng(Reciprocal letter of credit) 20

TÀI LIÊU THAM KHẢO 61
LỜI NÓI ĐẦU
Sau hai mươi năm đổi mới nền kinh tế nước ta đang khởi sắc và thu
được nhiều thành tựu đáng kể. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường việt
nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Với chính sách mềm dẻo
đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Giống như
thực tế đã chứng minh không có quốc gia nào phát triển mà không có sự giao
lưu với các nước khác. Sự giao lưu buôn bán giữa các nước là một xu hướng
tất yếu của nền kinh tế. Sự phát triển của thương mại quốc tế giúp các nước
gắn kết và giúp đỡ lẫn nhau trong sự phát triển chung của thế giới. Thương
mại quốc tế ngày nay đã vượt qua không gian và thời gian tạo những luồng
dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ để đáp ứng cung cầu.
Thanh toán quốc tế là hoạt động chủ yếu của một quốc gia trong sự
phát triển của đất nước. Nó giúp quốc gia khai thác những thế mạnh của đất
nước so với các nước khác trên thế giới. Với tư cách là một nhân tố quan
trọng, không thể thiếu được cho sự phát triển của thương mại quốc tế ,công
tác thanh toán quốc tế không ngừng đổi mới và hoàn thiện với những phương
thức thanh toán an toàn và hiệu quả cao các bên tham gia. Thanh toán quốc tế
là khâu quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi. Nó là mắt xích
không thể thiếu được trong cỗ máy thương mại quốc tế. Với nhiều hình thức
thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể. Ngày nay
phương thức thanh toán thư tín dụng đang được sử dụng phổ biến trên toàn
thế giới. Trong qua trình thanh toán ngân hàng thương mại đóng vai trò là
chung gian thanh toán. Ngân hàng thương mại đóng vai trò là chất xúc tác
giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn và là chất bôi
trơn giúp cho qua trinh thanh toán quốc tế diễn ra một cách nhịp nhàng và
thông suốt.
Tại Việt Nam,cùng với hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập
khẩu đã thực sự bùng nổ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của công tác thanh
toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại. Phương thức thanh toán bằng thư

Hoàn Kiếm đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH TOÁN
QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN
DỤNG CHỨNG TỪ
1. 1. Thanh toán quốc tế
1.1.1. Bản chất của thanh toán quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá, thương mại quốc tế ngày càng có vai trò
quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia. Chúng ta biết rằng thương
mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người. Từ
thế kỷ X, ở châu âu đã xuất hiện nhiều trung tâm buôn bán lớn nổi tiếng trên
thế giới. Còn ở châu á việc phát triển buôn bán giữa các quốc gia phát triển rất
sớm. Điển hình “con đường tơ lụa “ là một minh chứng cho sự giao lưu buôn
bán giữa hai châu lục. Tuy nhiên, việc trao đổi buôn bán giữa các quốc gia
không tránh khỏi những rủi ro như nạn cướp bóc, thiên tai nhưng rủi ro nhất
cho các thương gia là trong việc thanh toán. Vì vậy nghiệp vụ thanh toán hộ
của ngân hàng ra đời. Những ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với nhau sẽ đứng
ra thanh toán cho khách hàng của mình dựa trên các chứng từ do thương nhân
xuất trình.
Theo lý thuyết của kinh tế học vĩ mô, kinh tế thị trường là nền kinh tế
mở, có quan hệ giao dịch kinh tế với các quốc gia và với các tổ chức kinh tế,
tài chính tiền tệ quốc tế. Trong phạm vi một quốc gia có nền kinh tế mở, các
hoạt động giao dịch quốc tế được gọi là kinh tế đối ngoại, đây là lĩnh vực đặc
biệt quan trọng, bao gồm các hoạt động ngoại thương, hợp tác quốc tế về đầu
tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác về khoa học công nghệ, dịch vụ du
lịch, thu ngoại tệ
Trong xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các nước đều
không nghừng phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại quốc
tế đóng vai trò quan trọng. Ngoại thương được đánh giá là một ngành quan
trọng đối với một quốc gia, là động lực phát triển của quốc gia. Một mặt nó
tạo nguồn vốn ngoại tệ cho đất nước, mặt khác thúc đẩy sự thay đổi trong cơ

cho vay và người trả nợ, người đầu tư và người nhận đầu tư và các bên liên
quan trong quan hệ quốc tế có sự khác nhau về địa lý, về loại tiền sử dụng, về
tập quan kinh doanh vì vậy thanh toán quốc tế ra đời là đòi hỏi tất yếu để
giải quyết một phần và làm hài hoà các mối quan hệ đó.
Thanh toán quốc tế là một hình thức dịch vụ quan trọng gắn liền với
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Kể từ khi tiền tệ ra đời, hoạt động thanh toán đã trở thành bộ phận riêng
nhưng lại gắn bó hữu cơ với hoạt động buôn bán hàng hoá,dịch vụ điều khoản
thanh toán luôn luôn là điều không thể thiếu và rất quan trọng.Thực hiện
thanh toán như thế nào liên quan chặt chẽ tới quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ
của các bên trong hợp đồng.Các điều khoan thanh toán được quy định và thoả
thuận một cách thống nhất và chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cho các bên tham gia
tránh được những rủi ro, cũng như có biện pháp phòng ngừa rủi ro. Việc thực
hiện các điều khoản thanh toán có nghiêm túc hay không có ảnh hưởng tới uy
tín và độ bền vững trong quan hệ mua bán giữa các bên trong thương trường.
Do đó có thể nói hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực king doanh XNK một phần
lớn nhờ vào chất lượng khâu thanh toán, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối
ngoại phát triển.
Thanh toán quốc tế là thước đo, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả kinh doanh
Thanh toán quốc tế ảnh hưởng trức tiếp đến vòng quay vốn của các
doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh XNK, do vậy ảnh hưởng
đến doanh thu cũng như lợi nhuận của các bên tham gia. Thông qua hoạt động
thanh toán, chúng ta có thể đánh giá khả năng tài chíng ,uy tín cũng như tiềm
lực của mỗi đơn vị. Chính vì vậy xem xét tình hình thanh toán là một trong
những cơ sở đẻ tìm đối tác., bạn hàng trong quan hệ kinh doanh sao cho có lợi
cho mình nhiều nhất. Có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có được mở rộng hay
không một phần nhờ vào thanh toán quốc tếcó được thực hiện tốt hay không.
Thanh toán quốc tế hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động XNK,
phát triển sản xuất trong nước, khuyến kích nâng cao chất lượng hàng hoá,

và thưch hiện chính sách tài khoá tièn tệ
1.1.4. Các điều kiện trong thanh toán quốc tế
1.1.4.1. Điều kiện tiền tệ
Trong thanh toán quốc tế, cả hai bên đối tác cùng quan tâm đến những
vấn đề có lợi nhất cho mình. Đây là thoả thuận liên quan đến sử dụng đồng
tiền nào để tính thanh toán, để thực hiện chi trả trong thanh toán. Sự lựa chọn
đúng đắn về điều kiện tiền tệ trong thanh toán quốc tế là một trong những yếu
tố quyết định đến hiệu quả trong hoạt động kinh doanh đối ngoại.
Tiêu chí lựa chọn đồng tiền dùng thanh toán đó là : thứ nhất đồng tiền
phải có vị trí xứng đáng trên thị trường tiền tệ quốc tế ; thứ hai phải phù hợp
tương quan so sánh lực lượng trong quan hệ thương mại; thứ ba phù hợp với
tập quán sử dụng đồng tiền đó trong khu vực; phù hợp với tập quán thanh
toán trong các ngân hàng.
1.1.4.2. Điều kiện đảm bảo hối đoái
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị của các đồng tiền, dù là đồng tiền
mạnh đều có thể xảy ra sự biến động tăng, hoặc giảm, điều đó sẽ gây tổn thất
cho người mua hoặc người bán hàng hoá. Để tránh rủi ro có thể xảy ra khi tỷ
giá biến động, các bên tham gia thanh toán thường đàm phán điều kiện đảm
bảo hối đoái cho giá trị hợp đồng khi thanh toán đúng như giá trị hàng hoá đã
nhận, hoặc đã trao.
Các hình thức đảm bảo cho giá trị tiền tệ của hợp đồng như đảm bảo
bằng vàng; đảm bảo bằng ngoại hối; đảm bảo bằng “rổ” ngoại tệ; đảm bảo
bằng tiền tệ quốc tế; đảm bảo theo sự biến động của chỉ số giá cả quốc tế đối
với hàng hoá đó.
1.1.4.3. Điều kiện về thời gian thanh toán
Điều kiện về thời gian thanh toán mang tính chất bắt buộc đối với các
giao dịch thanh toán quốc tế, điều kiện quy định cụ thể thời gian bên phải trả
tiền thực hiện thanh toán cho bên nhận tiền. Việc xác định thời gian thanh
toán là mối quan tâm lớn của các bên tham gia trong giao dịch quốc tế, vì thời
gian thanh toán gắn với các biến động của thị trường tài chính kể từ ngày kí

Uỷ quyền cho một ngân hàng khác đến chiét khấu khi các chứng từ quy
định được xuất trình phù hợp với các điều khoản, điều lệ của thư tín dụng.
Như vậy phương thức tín dụng chứng từ là một cam kết thanh toán có
điều lệ của ngân hàng (ngân hàng mở L/C-issuing bank) cho người bán hàng (
người hưởng lợi –beneficiary)
Theo yêu cầu của người mua (applicant) để trả ngay hoặc đợi tới một
thời điểm xác định trong phạm vi thời hạn đã xác định và căn cứ vào các
chứng từ đã quy định phù hợp với các điều lật của L/C.
1.2.2. Các bên tham gia thanh toán
Người xin mở thư tín dụng (the applicant for the credit): là người mua,
người nhập khẩu hàng hoá, người mở thư tín dụng.
Ngân hàng mở thư tín dụng (isuing bank) là ngân hàng đại diện cho
người nhập khẩu còn gọi là ngân hàng phát hành.
Người hưởng lợi( beneficiary) là người bán,người xuất khẩu hay bất cứ
người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
Ngân hàng thông báo(advíing bank) là ngân hàng được ngân hàng phát
hành yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu vvề việc mở thư ín dụng.
Ngoài ra còn có thể cho một số ngân hàng khác tham gia vào phương
thức thanh toán này như :
Ngân hàng xác nhận (confirming bank) là ngân hàng nhận trách nhiệm
thanh toán cuối cùng nếu ngân hàng phát hành không thể thanh toán chứng từ
phù hợp với điều khoản của L/C. Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân
hàng thông báo L/C hay là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu.
Ngân hàng được chỉ định (nominated bank) là ngân hàng được ngân
hàng phát hành chỉ định để thực hiện việc thương lượng, chiết khấu hay thanh
toán L/C. Lúc đó ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng chiết khấu (negotiating
bank) hoặc ngân hàng thanh toán (paying bank).
Ngân hàng hoàn trả (reimbursing bank) là một ngân hàng được ngân
hàng mở L/C hoặc ngân hàng xác nhận chỉ định thay mình trả tiền.
Ngân hàng chiết khấu(negotiating bank) là ngân hàng mở L/C cho phép

lượng, ngân hàng thanh toán.
Ngân hàng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng của mình ở
nước người nhập khẩu thông báo về việc mở thư tín dụng và thư tín dụng đến
người xuất khẩu. Ngân hàng xem xét toàn bộ nội dung của đơn xin mở L/C,
đồng thời có thể tư vấn cho khách hàng để lựa chọn L/C phù hợp, tránh được
những sai sót, sơ hở, yêu cầu ký quỹ khi mở L/C, tính toán thu phí mở L/C
theo quy định hiện hành. Tiếp đó ngân hàng chuyển bản chính L/C cho ngân
hàng đại lý ở nước người xuất khẩu hoặc ngân hàng được chỉ định trong L/C.
Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho
người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng và khi
nhận được bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngyay cho người xuất khẩu sau
khi đã kiểm tra tính chân thực của thư tín dụng. Thông thường ngân hàng
thông báo L/C là chi nhánh hoặc đại lý cho ngân hàng mở L/C ở nước người
xuất khẩu. Tuy nhiên cá biệt là ngân hàng thông báo L/C là một ngân hàng
khác được chỉ định trong L/C. Ngân hàng thông báo thu phí thông báo.
Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng,
nếu có điều khoản nào đó trong thư tín dụng chưa thoả mãn thì tiến hàng đè
nghị ngân hàng mở thư tín dụng và nhà xuất khẩu sửa đổi, bổ sung thư tín
dụng cho phù hợp hợp đồng. Việc ký phát hối phiếu và hoàn tất chứng từ
thanh toán phải lưu ý các vấn đề sau: Một là thời hạn xuất trình chứng từ; Hai
là thời hạn của L/C; Ba là chủng loại và số lượng của mỗi loại chứng từ.
Sau khi giao hàng người suất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán
theo yêu cầu của thư tín dụng, xuất trình thông qua ngân hàng thông báo hoặc
một ngân hàng nào đó được chỉ định trong thư tín dụng để yêu cầu thương
lượng, chiết khấu hay gửi chứng từ cho ngân hàng mở thư tín dụng.
Ngân hàng này sẽ kiểm tra chứng từ, làm thủ tục đòi tiền theo chỉ thị
của thư tín dụng và chứng từ cho ngân hàng mở thư tín dụng.
Ngân hàng mở thư tín dụng và kiểm tra bộ chứng từ và trong vòng 7
ngày kể từ ngày nhận chứng từ phải thông báo cho ngân hàng thông báo về
việc chấp hành thanh toán hay không. Nừu chứng từ phù hợp với thư tín dụng

+ Tín dụng thư chuyển nhựơng ( Transferable Đocumen Credit)
+ Tín dụng thư giáp lưng( Back -to- Back Đocument Credit)
Ba là phân theo phương thức thanh toán bao gồm:
+ Tín dụng trả ngay( Sight Credit)
+ Tín dụng trả chậm ( Deferred / Usance Credit)
Thực ra, trong giao dịch thỉnh thoảng ta vẫn gặp loại tín dụng này
mặc dù cách gọi có vẻ mới lạ. Đây là loại tín dụng chứng từ được yêu cầu
xuất trình trực tiếp để thanh toán tại nhân hàng phát hành. Do vậy thời hạn
hiệu lực kết thúc tại ngân hàng phát hành. Sau đay là một số loại tín dụng thư
thường gặp :
1.2.3.1. Thư tín dụng không thể huỷ bỏ ( Irrevocable letter of credit)
Là loại tín dụng thư sau khi mở thì ngân hàng mở L/C không được sửa
đổi bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời gian hiêu lực của nó, trừ khi có sụư thoả
thuận của tất cả các bên tham gia giao dịch. Một L/C không ghi
IRREVOCABLE thì vẫn được coi là không huỷ bỏ được. Thư tín dụng không
thể huỷ bỏ được áp dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.
1.2.3.2. Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận(Confirmed irrevocable
letter of credit)
Là loại tín dụng thư không thể huỷ bỏ, được một ngân hàng khác đảm
bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C. Nếu người hưởng lợi không
tin tưởng vào khả năng tài chính của ngân hàng mở L/C thì có quyền yêu cầu
ngân hàng khác đứng ra xác nhận, đảm bảo khả năng thanh toán của ngân
hàng mở L/C.
1.2.3.3. Thư tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi ( Irrevocable
without recouce of credit)
Là loại thư tín dụng mà sau khi nhà suátt khẩu đã được trả tiền thì ngân
hàng mở L/C không có quyền đòi lại trong bất cứ trường hợp nào. Khi dùng
loại L/C này người suất khẩu phải khi lên hối phiếu miễn truy đòi người kí
phát và trong L/C cũng phải ghi như vậy. L/C miễn truy đòi được sử dụng
rộng rãi trong thanh toán quốc tế.

hành. Ngân hàng thông bó chỉ thực hiện các thủ tục theo điều khoản của thư
tín dụng mà không cam kết hoặc chịu trách nhiệm về số tiền đó. Việc ứng
trước được ngân hàng phát hành uỷ quyền cho ngân hàng thông báo thực
hiện. Sau đó ngân hàng phát hành sẽ trích tài khoản của người mở chuyển cho
ngân hàng thông báo.
1.2.3.6. Thư tín dụng toàn hoàn ( Revolving letter of credit)
Thư tín dụng tuần hoàn là loại L/C không thể huỷ bỏ, sau khi sử dụng
xong đã hết hiệu lực thì nó tự động có giá trị như cũ cứ như thế cho đến khi
tổng giá trị hợp đồng được thực hiện.
Thư tín dụng toàn hoàn cần ghi ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng, số lần
toàn hoàn và giá trị tối thiểu của mỗi lần đó.
1.2.3.7. Thư tín dụng dự phòng ( Stand by letter of credit)
Là loại L/C quy định việc hoàn lại số tiền của thư tín dụng trong
trường hợp nhà xuất khẩu không thực hiện đúng các quy định như trong thư
tín dụng đó.
Người mở L/C dự phòng là nhà xuất khẩu, ngân hàng phục vụ nhà xuất
khẩu là ngân hàng phát hành L/C dự phòng. L/C dự phòng được sử dụng như
một phương thức bảo đảm hợp đồng.
1.2.3.8. Thư tín dụng chuyển nhượng( Transferable letter of credit)
Là loại L/C không được huỷ bỏ và quy định quyền được chuyển
nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo
lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
Thư tín dụng chuyển nhượng phải ghi chú” chuyển nhượng” và chỉ
được phép chuyển nhượng một lần. Người được chuyển nhượng có thể ở
trong nước hay nước ngoài. Chi phí chuyển nhượng do người ra lệnh chuyển
nhượng chịu. Việc chuyển nhượng L/C không có nghĩa là hợp đồng mua bán
cũng được chuyển nhượng.
1.2.3.9. Thư tín dụng đối ứng(Reciprocal letter of credit)
Trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, hai bên phải ký với nhau
một hợp đồng mua bán có tổng giá trị hàng hoá trao đổi với nhan bàng nhau.

1.2.4.3. Đối với ngân hàng
Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng tăng thu nhập, nâng cao
trình độ nghiệp vụ của các cán bộ ngân hàng.
Thông qua nghiệp vụ của ngân hàng sẽ góp phần giúp đỡ các khách
hàng xuất nhập khẩu của mình đồng thời thúc đẩy quá trình thanh toán quốc
tế được phát triển. Tuy nhiên trong phương thức thanh toán L/C, ngân hàng
chỉ có thể không chế về mặt hình thức chứng từ, mà không thể kiểm soát
được tính chất pháp lý hay tính chân thực của các loại chứng từ đó. Hơn nưa
việc thanh toán diễn ra tương đối phức tạp bởi sự tham gia của nhiều bên, quá
trình thanh toán tỷ mỉ và máy móc.
Tóm lại phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đảm bảo được
quyền lợi của người bán, mua trong quá trình hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu và nâng cao vai trò của ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế.
1.3. Rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ
1.3.1. Rủi ro trong hoạt động thanh toán quôc tế theo phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ
Có rất nhiều quan niệm về rủi ro như : rủi ro là những bất trắc gây ra
mất mắt, thiệt hại ; rủi ro là những bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện
một biến cố không mong đợi Hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất
với nhau “Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn, sự hiểu biết, dự tính
của chủ thể và đem lại những hậu quả xấu” rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào
trong cuộc sống chúng ta và chứng ta không thể lường trước hậu quả mà nó
mang lại. Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng rủi ro thường đem lại nhữnh hậu
quả khôn lường.
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn cũng đã chứng minh rủi ro
trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh trong ngân hàng là rất nhiều, nó sảy ra
dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau do nhưng nguyên nhân sau:
+ Thứ nhất do tiền là nguyên liệu chính tạo ra các sản phẩm của ngân
hàng, một yhứ nguyên liêu độc tôn không thể thay thế. Nguyên liệu này chịu

ro hệ thống.
Trong thanh toán quốc tế, do phạm vi rộng lớn và bao gồm nhiều đối
tượng tham gia nên rủi ro có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức. Thông
thường khi rủi ro xảy ra thì người chịu thiệt hại lớn nhất lại chính là những
người xuất nhập khẩu do tính chất đặc thù của loại hình này. Ngân hang
thương mại với vai trò của mình là trung gian cung các dịch vụ thanh toán cho
khách hàng, thu được một khoản phí mà không phải chịu hậu quả mà rủi ro
gây ra. Nhưng trên thực tế lại không phải như vậy, hoạt động thanh toán quốc
tế tuy chỉ đóng góp rất nhỏ trong phân thu nhập của ngân hàng. Nhưng khi
gặp phải những rủi ro thì hầu như hậu quả đó phía nhà xuất khẩu hay nhập
khẩu đều đổi lỗi cho ngân hàng làm mất uy tín của ngân hàng. Trong môi
trường cạng tranh như hiện nay tất cả những điều đó đều làm ảnh hưởng tới
hoạt động của ngân hàng trong tương lai.
Trong thanh toán quốc tế, tín dụng chứn từ là phương thức có tính ưu
việt nhất. Tuy nhiên trách nhiệm của ngân hàng là rất lớn và rỉu ro dễ xảy ra.
Tín dụng chứng từ được hiểu là một phương thức thanh toán quốc tế, mặt
khác có thể coi đây là một loại tín dụng ngắn hạn của các ngân hàng thương
mại. Vì vậy rủi ro là yếu tố tiềm ẩn nhưng cũng có thể bộc phát bất cứ lúc nào
trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Như vây muốn quản lý được rủi ro
thì người ta phải phân laọi rủi ro, tìm ra nguyên nhân và biểu hiện của rủi ro
từ đó đưa ra biên pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro.
1.3.2. Các loại rủi ro chủ yếu trong thanh toán tín dụng chứng từ
1.3.2.1. Rủi ro bất khả kháng ( hay còn gọi là rủi ro khách quan)
Rủi ro bất khả kháng nguyên nhân gây ra là các sự kiện về thiên tai,
nổi loạn, bạo động, chiến tranh Trong những nguyên nhân trên chúng đều
gây ra hậu quả là các điều kiện về địa điểm, thời gian giao hàng hoặc hàng
đến nơi nhưng giảm chất lượng và nghiêm trọng hơn nó có thể làm cho nhà
nhập khẩu bị phá sản. Điều này dẫn tới khách hàng không có khả năng thanh
toán cho ngân hàng. Đây là một rủi ro mà cả ngân hàng và khách hàng khỏ
tránh khỏi.

Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành là việc không thu được
hoặc thu không đầy đủ từ nhà nhập khẩu số tiền có giá trị bằng giá trị số tiền

Trích đoạn Tổng quan về Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Công thương Hoàn Mục tiêu và nhiệm vụ kinh doanh trong thời gian tới Các dấu hiệu nhận biết rủi ro thanh toán thư tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status