Tìm hiểu nhịp điệu kể chuyện trong tiểu thuyết
Vũ Trọng Phụng (Tiếp cận qua lý thuyết “thời
gian giả” của G. Genette)
Nhịp điệu kể chuyện là một trong những nhân tố chủ yếu của thời
gian tự sự, còn gọi là thời gian quy ước hay thời gian giả (pseudo-time) -
theo cách gọi của Gérard Genette, nhà lý luận văn học người Pháp. Trong
tác phẩm văn học tự sự, người kể chuyện có thể kể tỉ mỉ một khoảng thời
gian nhất định và cũng có thể bỏ qua hoặc chỉ kể rất ít một giai đoạn nào đó
của câu chuyện. Điều này dẫn tới tốc độ tự sự nhanh, chậm khác nhau; có
thể gia tốc khi một khoảng thời gian tương đối dài được kể trong số trang
tương đối ngắn, giảm tốc đối với trường hợp ngược lại, còn đẳng tốc (đồng
tốc) là tự sự có tính chất đẳng thời, nghĩa là trần thuật mà không có những
biến đổi về tốc độ.
Nghiên cứu nhịp điệu kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng là
nghiên cứu khoảng thời gian ở cấp độ câu chuyện (cái được biểu đạt) được
biểu hiện như thế nào trong khoảng thời – không gian (tức là số trang văn
bản truyện hay thời gian giả) ở cấp độ truyện kể (cái biểu đạt); xem xét sự
kết hợp giữa các vận động tự sự và nhịp điệu kể chuyện trong mỗi loại tiểu
thuyết Vũ Trọng Phụng. Mặt khác, đánh giá nhịp điệu ấy có giá trị như thế
nào trong việc biểu hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm.
Về tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, giới nghiên cứu trước nay
thường phân ra thành hai kiểu loại chính là tiểu thuyết – phóng
sự (gồm Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê) và tiểu thuyết tâm lý (gồmDứt tình, Lấy
nhau vì tình, Trúng số độc đắc, Làm đĩ). Chúng tôi nhất trí với cách đặt vấn
đề phân loại này. Tuy nhiên, việc tìm hiểu thời gian tự sự sẽ cho thấy Giông
tố thuộc về kiểu loại khác, không hoàn toàn tương đồng với các tiểu
thuyết – phóng sự.
1. Nhịp điệu kể chuyện tăng dần trong các tiểu thuyết phóng sự
(Số đỏ, Vỡ đê)
Muốn khám phá nhịp điệu kể chuyện trong tổng thể chung của tác
phẩm tự sự, trước hết, cần xem xét cụ thể về các vận động tự (narrative
hiện qua các đoạn tả cảnh hoặc những lời bình luận bông lơn, hài hước,
cợt nhạo, mỉa mai của người kể chuyện. Những trang tả cảnh hồ Trúc
Bạch, cảnh hiệu may Âu hoá trong Số đỏ hay cảnh hộ đê, cảnh nước lụt,
cảnh hạn hán trong Vỡ đê đã phát huy chức năng quan trọng của ngừng
nghỉ là tạo đường viền không khí cho truyện hoặc tạo thành phông nền cho
các hoạt cảnh. Những miêu tả nhiều khi được kết hợp rất khéo với những
lời bình luận hài hước: “Thoạt đầu người ta hay nhảy xuống Hồ Tây, nhưng
vì Hồ Tây sâu lắm, những kẻ tự tử chẳng may phần nhiều không mấy ai
thoát chết cả, thành thử người ta bảo nhau nhảy xuống cái bên cạnh là hồ
Trúc Bạch nông hơn ( ). Vì những lẽ ấy, hồ Trúc Bạch chẳng bao lâu mà
trở nên một cách oanh liệt, là một sân khấu của tất cả những tấn đại thảm
kịch của những cảnh địa ngục giữa Hà Thành, là những gia đình Việt Nam,
những trở lực tai hại cho những cuộc tự do kết hôn, tự do ly hôn, tự do cải
giá, tự do tục huyền” (Số đỏ). Các ngừng nghỉ như thế đã tạo ra đường viền
và bối cảnh cho các hoạt cảnh rất sống động của truyện.
Hoạt cảnh là những giai đoạn sinh động của hành động, xảy ra đồng
thời với những thời khắc sôi nổi nhất của câu chuyện. Trong các tiểu thuyết
trên, hoạt cảnh chủ yếu là đối thoại và chiếm tỉ lệ tương đối lớn so với các
vận động tự sự khác. Trong Số đỏ, hoạt cảnh đối thoại xuất hiện với mật độ
khá dày đặc. Những cuộc đấu khẩu, cãi cọ nảy lửa, xuất hiện nhiều tạo nên
tính kịch cho hành động với những thời khắc sinh động nhất của câu
chuyện. Có thể kể ra những cuộc cãi cọ giữa cụ lang Tì và cụ lang Phế,
giữa vợ chồng cụ cố Hồng, giữa ông phán mọc sừng và Xuân Tóc đỏ với
các tình địch Đó là những hành động đóng kịch với những màn hề kịch
cười chảy nước mắt. Các hoạt cảnh trong Vỡ đê cũng chủ yếu là những đối
thoại phản ánh xung đột căng thẳng đang gia tăng giữa những người bị áp
bức, đè nén với những kẻ đại diện cho giai cấp thống trị gian tham như bọn
quan lại, lý dịch và cả những tên thực dân xảo quyệt. Theo Genette, trong
hoạt cảnh, thời gian của truyện (thời gian giả) và thời gian của câu chuyện
tương ứng với nhau (đồng tốc). Do vậy, việc sử dụng các hoạt cảnh cũng là
thời gian thực tế (năm, tháng, ngày ) tương ứng của câu chuyện được kể
thì sẽ thấy được sự biến đổi của nhịp điệu kể chuyện.
Trong Số đỏ, ba chương đầu có thời gian sự kiện là 1 ngày được
thuật lại trong 28 trang (0,035 ngày/trang). Tác giả vừa xây dựng những
hoạt cảnh đối thoại giàu kịch tính vừa đan xen kể lại quá khứ của Xuân Tóc
đỏ, bà Phó Đoan, Văn Minh, cụ cố Hồng trong khoảng thời gian chỉ có
một ngày. Một ngày ấy đã xảy biết bao nhiêu chuyện và đến hôm sau thì
thằng Xuân Tóc đỏ từ thân phận kẻ ma cà bông, đầu đường xó chợ bỗng
chốc leo lên địa vị có thể “tham dự vào cải cách xã hội”! Bốn chương tiếp
theo có thời gian là 2 tuần với 43 trang (0,33 ngày/trang); Mới chỉ có 14
ngày mà thanh thế của thằng Xuân đã “mỗi ngày một to tướng mãi ra Nó
chờ số phận lôi nó lên cao chót vót”! Mười hai chương tiếp sau thuật lại sự
kiện diễn ra trong 13 tuần với 111 trang (0,9 ngày/trang), các sự kiện không
được đặt vào những điểm thời gian cụ thể như ở các chương trước và sau
đó. Người đọc không thể xác định được các sự kiện như xảy ra vào lúc
nào, thời điểm nào. Dấu hiệu thời gian rất mờ nhạt, tác giả chỉ cho biết
chúng xảy ra vào “hai giờ chiều hôm ấy” (chương VIII), “buổi sáng hôm ấy”
(chương XII), “buổi chiều hôm ấy” (chương XIV), “tối hôm ấy” (chương XV
và chương VIII). Đây là biểu hiện của các tỉnh lược giả định nhằm đẩy câu
chuyện tiến triển nhanh hơn với những bước thăng tiến như diều gặp gió
của Xuân từ “giáo sư quần vợt” rồi “nhà thơ” đến “cây hi vọng của Đông
Dương”. Hai chương cuối có khoảng thời gian là 5 tuần với 27 trang (1,2
ngày/trang) có sự tăng tốc rất nhanh qua việc tỉnh lược hơn 3 tuần (khoảng
gần 1/5 thời gian của câu chuyện) và khép lại khi Xuân Tóc đỏ lên ngôi,
lăng nhục, thoá mạ quần chúng mà vẫn được cả xã hội thượng lưu tâng
bốc, phỉnh nịnh, bợ đỡ.
Tình hình cũng tương tự trong Vỡ đê. Mười ba chương đầu có thời
gian sự kiện là 7 ngày được thuật lại trong 113 trang (0,06 ngày/trang) với
cảnh hộ đê, vỡ đê và cuộc sống tan tác của người dân nghèo trong cảnh đê
vỡ nước lụt cho đến khi Phú bị bắt giam cái tội cầm đầu biểu tình rồi may
sự dồn nén, tích tụ mâu thuẫn truyện.
Ở phần giữa của truyện, khi các tỉnh lược, các lược thuật xuất hiện và
gia tăng cùng với các hoạt cảnh đã dần làm đảo ngược độ chênh giữa thời
gian của câu chuyện và thời gian kể chuyện so với phần đầu. Thời gian giả
bị co dần lại, thời gian sự kiện bị gấp khúc và chùng xuống, kéo theo sự gia
tốc trong trần thuật.
Nhịp điệu sẽ bị đẩy lên cao nhất khi các tỉnh lược rõ ràng, tỉnh lược
mơ hồ và lược thuật mở rộng phạm vi thời gian, đồng thời các hoạt cảnh
giảm xuống (hoặc không xuất hiện) tạo ra một sự gia tốc cực đại. Đây là tốc
độ ở phần cuối của các tiểu thuyết - phóng sự.
Nhịp điệu kể chuyện nhanh dần, dồn dập, khẩn trương đã phản ánh
rõ nét cấu trúc và tính chất của các sự kiện trong các tiểu thuyết - phóng
sự. Các sự kiện dần được tích đầy, dồn nén, giãn nở đến căng thẳng và bật
tung vào điểm chót. Đó là nhịp điệu của sự căng bức, phản ánh những mâu
thuẫn sục sôi trong cuộc sống xã hội. Điều này thể hiện cách nhìn cuộc
sống của Vũ Trọng Phụng trong sự xung đột căng thẳng đầy kịch tính với
những mâu thuẫn chồng chéo, đan xen, giẫm đạp lên nhau tạo thành
những cơn lốc của cuộc đời. Đây là mô hình về thế giới thực tại đã bị “dốc
ngược”, bị “lộn trái”, “bóc trần và vạch trần” không thương tiếc.
2. Nhịp điệu theo cấu trúc “làn sóng” trong các tiểu thuyết tâm lý
(Dứt tình, Lấy nhau vì tình, Làm đĩ, Trúng số độc đắc)
Nếu như ở các tiểu thuyết phóng sự, Vũ Trọng Phụng thiên về các
tỉnh lược mơ hồ thì ở các tiểu thuyết tâm lý ông hay dùng những tỉnh lược
rõ ràng để tạo ấn tượng rõ nét về sự chảy trôi nhanh chóng của thời gian:
Những tỉnh lược “một năm sau” (Dứt tình), “hai tháng đã qua” (Lấy nhau vì
tình), “hai tuần sau” (Trúng số độc đắc) với những thay đổi lớn lao đã tạo
nên cảm giác về sự bất ngờ, chóng vánh. Nhân vật và người kể chuyện
nhiều lần phải thốt lên “cuộc đời như một giấc mộng”. Các sự kiện tại các
chương IX, X, XI trong Dứt tình; những việc xảy ra từ lúc Huyền vào đời, lấy
chồng rồi trụy lạc trong Làm đĩ là những tỉnh lược giả định đáng chú ý.
tưởng tượng, hồi ức, kỉ niệm của nhân vật cũng góp phần tạo ra độ căng
của thời gian sự kiện.
Lược thuật trong tiểu thuyết tâm lý chủ yếu được thực hiện qua
những hồi tưởng của nhân vật về một quãng đời vừa qua của mình: những
trang nhật ký của Huỳnh Đức ghi lại những ngày đầu của cuộc hôn nhân
không thuận, những hồi tượng của Tiết Hằng về quá khứ với Việt Anh (Dứt
tình), hồi tưởng của Phúc về quãng thời gian 8 tháng sống nhạt nhẽo, vô vị
(Trúng số độc đắc), hồi thuật của Tân về chuyện tình yêu ngang trái (Lấy
nhau vì tình).
Nhịp điệu kể chuyện trong các tiểu thuyết tâm lý không xuôi theo
chiều nhanh dần như trong tiểu thuyết – phóng sự mà rất đa dạng, nương
theo số phận và diễn biến tâm lý của nhân vật và ứng với những khoảng
thời gian nhất định của câu chuyện.
Sự phân bố hai loại thời gian trong Lấy nhau vì tình tương đối rõ
ràng. Phần I (6 chương): 5 ngày/58 trang; phần II (6 chương): 5 ngày/54
trang; phần III (6 chương): 7 ngày/54 trang. Nhịp điệu kể chuyện của tác
phẩm là từ chậm rãi chuyển sang nhanh dần rồi lại chậm dần. Nhịp điệu
này phản ánh sự gấp khúc trong đồ thị tâm lý của Liêm: ban đầu là những
tình cảm yêu đương say đắm, êm đềm rồi những nghi ngờ xuất hiện và
nhanh chóng chuyển thành những cơn ghen tuông dữ dội khiến người vợ
mới cưới không chịu nổi phải nhảy xuống hồ Tây tự vẫn. Cuối cùng là
những “vỡ lẽ”, “sám hối” muộn màng của nhân vật.
Trúng số độc đắc vận động theo nhịp điệu: cực nhanh (32 tuần/11
trang) - rất chậm (98 trang/ 3 ngày) – nhanh dần (31 trang/ 2 tuần) – nhanh
hơn (96 trang/ 8 tuần) - chậm dần (31 trang/ 2,5 tháng). Nhịp điệu này phản
ánh rất rõ diễn biến của câu chuyện. Truyện lướt nhanh khi lược thuật 8
tháng nhàn cư, vô vị của nhân vật Phúc. Sau đó giảm tốc rất chậm với một
chuỗi hoạt cảnh phức hợp kết hợp với các ngừng nghỉ để đi vào thuật lại
những ngày đen tối của Phúc trước khi trúng số mà tác giả gọi là “những
hành hạ cuối cùng”. Nhịp điệu truyện tăng dần với các sự kiện kể từ khi
sau đó Huyền kể lại câu chuyện về đời mình trong 3 đêm và cuối cùng
là Đoạn kết kể sự việc trong một buổi sáng của ngày thứ 3. Như vậy thời
gian sự kiện của truyện thứ nhất là 3 ngày. Tuy nhiên, truyện thứ hai (nằm
trong truyện thứ nhất) mới chính là cuốn tiểu thuyết về đời Huyền, gồm 4
phần.
Phần I có tiêu đề là Tuổi dậy thì, kể chuyện từ lúc Huyền 7 tuổi đến
năm 16 tuổi (đỗ bằng sơ học) - tức là 10 năm – trong 29 trang. Đến phần
II (Ra đời); phần III (Lấy chồng); phần IV(Trụy lạc) người đọc không thể xác
định được những sự kiện, biến cố xảy ra vào những thời điểm nào sau năm
Huyền 16 tuổi. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể xác định được khung thời gian
của các sự kiện chính là: Phần II: Từ khi Huyền gặp Lưu cho đến khi anh
này tự tử chỉ khoảng mấy tháng chiếm 30 trang. Phần III: Hai tháng đầu kể
từ khi lấy chồng được thuật trong 21 trang; cuộc tình duyên vụng trộm với
Tân được nói rõ là “kéo dài mãi ra hàng tháng” được kể trong 26
trang. Phần IV: Huyền bị chồng phát hiện ngoại tình phải sống cuộc đời
nhẫn nhục xó bếp trong “ba bốn tháng” được kể trong 20 trang. Phần còn
lại, Huyền thất vọng, chán chường, bỏ nhà ra đi tìm Tân không gặp rồi lao
vào con đường làm đĩ tác giả không nói rõ thời gian là bao lâu và được kể
trong 12 trang.
Có thể nói, phần I có sự gia tốc bởi các tỉnh lược để lướt nhanh qua
thời thơ ấu. Các phần tiếp theo, tốc độ kể chuyện vừa trung hoà (với các
tỉnh lược giả định) vừa giảm tốc xấp xỉ 20 lần so với phần I theo chiều
hướng biến đổi nhanh, chậm luân phiên. Ký ức của ngày hôm qua trở thành
một cuốn phim quay chậm với những sự kiện đau lòng xảy ra với một cô
gái đang tuổi trăng tròn.
Như vậy, so với tiểu thuyết – phóng sự, các tiểu thuyết tâm lý có nhịp
điệu kể chuyện rất linh hoạt, lúc căng, lúc chùng, khi nhanh, khi chậm luân
phiên xen kẽ theo kiểu làn sóng. Nhịp điệu này đã phát huy tác dụng trong
việc phản ánh diễn biến tâm lý của các nhân vật. Đó là sự ghen tuông vò xé
trong Dứt tình, Lấy nhau vì tình; tâm lý ích kỷ, hẹp hòi trong Trúng số độc
thấy đúng, Lòng càng ngán ngẩm cho sự đời. Chao ôi! Ông đồ Uẩn! Một
người xưa kia như thế mà bây giờ như thế! Hay là tại ông đồ chưa phải hẳn
người đã thấm nhuần đạo nho? Hay tại đạo nho chỉ kết quả nên hạng
người như thế? Hay bởi lẽ mặc lòng được tiếng nhà nho, ông đồ Uẩn cũng
vẫn vô học như thường? Phải đâu, ừ phải đâu mới là một thày đồ có một
dúm chữ ê a dạy lũ trẻ ranh mà đã là có học! Vả chăng cái số thầy đồ vô
học mà tự phụ vẫn nhan nhản trong xã hội Nếu đúng thế Long đã nhầm,
đã nhầm một cách khốn khổ, đã sung sướng một cách vô nghĩa lý, khi
chàng hỏi được Mịch mà chàng tự đắc là sẽ được làm rể một bậc thượng
lưu học thức, một người thanh bần nhưng có một tâm hồn vững chãi, có
một căn bản tinh thần - một nơi dòng dõi thế gia”. Đây là kiểu miêu tả khá
đặc biệt mà theo Genette, thường xuất hiện trong tiểu thuyết của Proust và
Flaubert.
Nhịp điệu của Giông tố một mặt tuân theo kiểu nhịp điệu “làn sóng”
của các tiểu thuyết – tâm lý (từ rất chậm (100 trang/ 20 ngày) đến nhanh
dần (50 trang/ 20 ngày), rất nhanh (43 trang/ 90 ngày) rồi chậm dần (108
trang/ 90 ngày) và bất ngờ cực nhanh ở những trang cuối (13 trang/ 9
tháng). Song, nhịp điệu này lại bao hàm nhịp điệu nhanh dần như đã thấy ở
các tiểu thuyết có tính chất phóng sự của Vũ Trọng Phụng. Từ chương I
cho đến chương XX là cơn giông tố diễn ra trên diện rộng, từ Tiểu Vạn lý
trường thành của nghị Hách đến làng Quỳnh Thôn của thị Mịch. Quá trình
này diễn ra trong 6 tháng cho đến khi Hải Vân xuất hiện. Những đám mây u
ám xuất hiện từ cuộc cưỡng bức giữa đường của nghị Hách rồi chuyển
thành giông bão với biết bao tai hoạ ập xuống đầu những người dân vô tội
mà chính nghị Hách cũng trở thành một nạn nhân. Cơn giông có vẻ tạm
lắng xuống khi nghị Hách bằng lòng cưới cô thôn nữ thị Mịch làm vợ hờ và
Long trở thành hôn phu của Tuyết.
Sự xuất hiện của nhân vật Hải Vân đã châm ngòi cho một trận giông
tố thứ hai, diễn ra trong phạm vi không gian gia đình nghị Hách. Độ dài thời
gian của các sự kiện trong cơn giông tố thứ hai này là 12 tháng. Trong đó