Cảnh báo về những biến chứng khi dùng
Corticoid trong điều trị vảy nến
Vảy nến là một bệnh đỏ da bong vảy, tiến triển mạn tính, là bệnh thường gặp
ở Việt Nam và trên thế giới. Tỷ lệ bệnh vảy nến chiếm khoảng 2-3% dân số
tùy theo từng khu vực, chiếm khoảng 13% bệnh nhân nội trú tại Viện Da liễu
Quốc gia (2000).
Đến nay cơ chế phát sinh và những yếu tố làm bệnh dai dẳng vẫn đang được
nghiên cứu. Nhiều tác giả cho rằng vảy nến là bệnh do rối loạn miễn dịch và có
yếu tố di truyền.
Thương tổn của bệnh vảy nến đa dạng, ngoài thương tổn da, còn có thương tổn
niêm mạc, móng và khớp xương. Hiện nay, do sử dụng thuốc không phù hợp nên
hình ảnh lâm sàng thay đổi, nhiều khi khó chẩn đoán.
Vảy nến thể thông thường không gây ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ nhưng gây
ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Bệnh vảy nến nói chung tồn
tại dai dẳng suốt đời và bùng phát từng đợt. Vì vậy, phải có chiến lược điều trị lâu
dài và phù hợp. Điều trị bệnh vảy nến gồm hai giai đoạn: Giai đoạn tấn công có
thể lựa chọn các phương pháp điều trị tại chỗ, điều trị toàn thân hoặc phối hợp cả
hai nhằm xoá sạch tổn thương. Giai đoạn duy trì kết quả đạt được, tức là áp dụng
các biện pháp nhằn kéo dài thời gian ổn định hay nói khác là hạn chế sự bùng phát
của bệnh. Phải tư vấn cho bệnh nhân hiểu rõ về bệnh vảy nến để phối hợp với thày
thuốc khi điều trị tấn công cũng như dự phòng bệnh bùng phát.
Điều trị tại chỗ chủ yếu là các phương pháp làm bạt sừng, bong vảy, khử oxy và
chống viêm như dùng: mỡ goudron; anthralin, dithranol (anaxeryl); mỡ salicylic
5%, mỡ calcipotriol (Daivonex, Daivobet); mỡ vitamin A axít; kẽm oxýt; UVB,
UVA, UVB- NB, PUVA…
Điều trị toàn thân bằng các thuốc vitamin A axit (soriatane), methotrexat,
cyclosporin A. Các thuốc này có hiệu quả nhưng cũng có nhiều tác dụng phụ như:
có thể gây quái thai, rối loạn chức năng gan, thận, giảm bạch cầu Vì vậy, phải
thận trọng khi chỉ định và phải theo dõi nghiêm ngặt trong quá trình điều trị. Một
số chất sinh học đang đựơc nghiên cứu và áp dụng điều trị bệnh vảy nến có hiệu
huyết dưới da, xuất huyết tiêu hoá, tăng huyết áp, teo cơ, rậm lông, tích nước gây
phù nề, nhiễm trùng da thậm chí gây nhiễm trùng máu. Nhiều trường hợp khó
chẩn đoán do thương tổn cơ bản của bệnh vảy nến bị biến đổi. Những thay đổi về
sinh hoá, huyết học như: giảm protit máu, giảm kali máu, tăng đường máu; suy
giảm miễn dịch, thay đổi nội tiết như suy thượng thận, ở phụ nữ gây rối loạn kinh
nguyệt, loãng xương. Nhưng năm gần đây, Viện Da liễu Quốc gia tiếp nhận ngày
càng nhiều bệnh nhân đỏ da toàn thân vảy nến và vảy nến thể mủ toàn thân vào
điều trị nội trú. Phần lớn những bệnh nhân này trước đó bị bệnh vảy nến thể thông
thường với những thương tổn da rải rác hoặc khu trú. Bệnh tiến triển nặng và xuất
hiện những biến chứng sau khi được sử dụng corticoid toàn thân (tiên K-cort, uống
prednisolon…) hoặc sử dụng thuốc nam không rõ thành phần và nguồn gốc.
Những trường hợp này khó điều trị, mất nhiều thời gian và tốn kém tiền của.
Hiện nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh vảy
nến. Nhưng thày thuốc có một chiến lược điều trị thích hợp cùng với việc tư vấn
cho bệnh nhân tuân thủ các chỉ định điều trị và có một chế độ sinh hoạt điều độ thì
có thể duy trì được sự ổn định của bệnh, hạn chế được các đợt bùng phát, cải thiện
được chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.