Báo cáo nghiên cứu khoa học: " ảnh hưởng của mùa vụ và mức năng lượng trong khẩu phần lên lợn F1 (Y x MC) và lợn Yorkshire nuôi thịt" doc - Pdf 19

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007

19

ảnh hởng của mùa vụ và mức năng lợng trong khẩu
phần lên lợn F
1
(Y x MC) và lợn Yorkshire nuôi thịt

Nguyễn Kim Đờng
(a)
,
Lê Văn Phớc
(b)Tóm tắt. Khả năng sản xuất của vật nuôi chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố ngoại
cảnh, trong đó phải kể đến ảnh hởng của nhiệt độ, độ ẩm không khí và ảnh hởng của
mức năng lợng trong khẩu phần ăn. Đối với lợn F
1
(Y x MC) và lợn Yorkshire đợc nuôi
với khẩu phần 16% protein thô và mức năng lợng 3000 Kcal ME/kg thức ăn trong mùa
lạnh có lợng vật chất khô (VCK) ăn vào cao hơn (6,6-10,0%), tăng trọng cao hơn (10,8-
12,7%), độ dày mỡ lng cao hơn (10,9-12,6%) so với mùa nóng. Mức năng lợng trong
khẩu phần có ảnh hởng đến lợng VCK ăn vào, tăng trọng, FCR, độ dày mỡ lng của

lợng trung bình tơng ứng là khoảng 20 kg và 30 kg. Tất cả đều đợc tiêm phòng
các bệnh phổ biến trớc thí nghiệm, đợc tẩy giun sán trong thời gian nuôi và lợn
đực đợc thiến, lợn cái không bị hoạn. Nhận bài ngày 19/6/2006. Sửa chữa xong 01/9/2006.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007

20
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Thu thập số liệu nhiệt độ, độ ẩm không khí khu vực nghiên cứu: Các số liệu
đợc lấy từ Trung tâm khí tợng thủy văn Trung Trung Bộ tại Đà Nẵng.
- Theo dõi nhiệt độ, độ ẩm không khí chuồng nuôi trong suốt thời gian thí
nghiệm. Mùa nóng: Tháng 6, 7 và 8, mùa lạnh: Tháng 12 năm trớc và tháng 1, 2
năm sau.
- Nghiên cứu ảnh hởng của mức năng lợng trong khẩu phần thức ăn nuôi lợn
thịt F
1
(Y x MC) và Yorkshire thuần trong hai mùa nóng và lạnh.
2.3. Phơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đợc bắt đầu trên 48 lợn lai F
1
(Y x MC) khối lợng 20 kg và 48 lợn


Thời gian thí nghiệm (ngày) 90/90 90/90 90/90 90/90

2.3.2. Phơng pháp xác định một số chỉ tiêu sản xuất của lợn
Lợng vật chất khô ăn vào trung bình hàng ngày: Lợng thức ăn cung cấp cho
từng cá thể với phơng thức cho ăn tự do và đợc theo dõi lợng thức ăn thừa hàng ngày
vào 6 giờ sáng hôm sau, cân khối lợng sau khi đã sấy khô.
- Lợng VCK ăn vào (kg/ngày) = Lợng thức ăn cho ăn trong ngày hôm trớc
(kg) - lợng thức ăn d thừa thu đợc vào sáng hôm sau (kg).
- Tăng trọng trung bình (g/ngày).
Kết thúc thí nghiệm lợn đợc cân cá thể vào thời điêm sáng sớm khi cha ăn để
tính tăng trọng và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR):
P cuối kỳ (kg) - P đầu kỳ (kg)
Tăng trọng (g/ngày) = x 1000,
Thời gian thí nghiệm (ngày) Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007

21
Tổng lợng thức ăn tiêu thụ (kg)
FCR (kg TĂ/kg tăng trọng) = .
Tổng (kg) tăng trọng
Bảng 3.1: ảnh hởng của mùa vụ và mức năng lợng đến một số chỉ tiêu

0,240

Khối lợng
cuối TN (kg)

86,41

80,12 0,719

0,001

80,85
a
84,29
ab
84,75
b

83,16
ab

1,016

0,045

0,286

Lợng VCK ăn
vo (kg/ngy)


669,78
a

711,34
b

711,52
b

697,22
ab

10,556

0,025

0,272

FCR (kg TĂ/kg
tăng trọng)
3,39

3,46 0,033

0,214

3,84
a
3,36
b

0,724

Ghi chú: Các giá trị trong cùng hàng, tối thiểu có một chữ cái (mũ) giống nhau thì
không sai khác với mức P>0,05.
3.1. Diễn biến nhiệt độ và độ ẩm không khí khu vực nghiên cứu
Nhiệt độ và độ ẩm tơng đối của không khí có sự biến thiên ngợc chiều nhau.
Nhiệt độ trung bình tháng tăng dần từ đầu năm đạt cao nhất vào tháng 8 và giảm
dần vào cuối năm. Độ ẩm trung bình tháng giảm dần từ đầu năm, đạt thấp nhất từ
tháng 8 và tăng dần vào cuối năm. Do đó chúng tôi đã chọn 3 tháng 6,7 và 8 là 3
tháng mùa nóng, nhiệt độ trung bình là 28,5
0
C và độ ẩm là 79,2%; 3 tháng mùa lạnh
là 12, 1 và 2-nhiệt độ trung bình là 20,7
0
C và độ ẩm là 91,1%.
3.2. Nhiệt độ, độ ẩm không khí chuồng nuôi
Sự biến thiên của nhiệt độ và độ ẩm không khí trong chuồng nuôi đồng pha với
không khí ngoài chuồng nuôi, nhiệt độ có phần thấp hơn và độ ẩm cao hơn độ ẩm không
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007

22
khí ngoài trời. Điều đó là phù hợp, vì chuồng nuôi có mái che nên mát hơn và luôn bị ẩm
ớt do nớc uống rơi vãi và nớc tiểu của lợn thải ra nên độ ẩm cao hơn.
Nhìn chung, trong chuồng nuôi lợn thí nghiệm nhiệt độ trong mùa nóng quá

và độ ẩm 75%) có độ dày mỡ lng lớn hơn lợn nuôi ở điều kiện nhiệt độ biến đổi (24,8
3,6
0
C và 27,9 3
0
C), sự sai khác ở mức có ý nghĩa. Độ dày mỡ lng lợn F
1
trong
nghiên cứu này phù hợp với kết quả của nghiên cứu tơng tự của Nguyễn Kim
Đờng và Lê Đình Phùng 2000 [3], Nguyễn Văn Đức và Trần Thị Minh Hoàng
(2005) [2].
Nh vậy, nhìn chung sức sản xuất của lợn F
1
nuôi với chế độ ăn tự do trong
điều kiện mùa lạnh cao hơn trong mùa nóng.
3.3.2. ảnh hởng của mức năng lợng
Các kết quả nghiên cứu về ảnh hởng của các mức năng lợng khác nhau trong
khẩu phần đến một số chỉ tiêu sản xuất của lợn F
1
(YxMC) trên bảng 3.1. cho thấy:
- Có sự khác nhau (P<0,05) về khối lợng kết thúc của lợn, lợng VCK ăn vào
hàng ngày, tăng trọng, hệ số chuyển đổi thức ăn và độ dày mỡ lng ở lợn F
1
đợc ăn
với các mức năng lợng trong khẩu phần khác nhau.
- Về tăng trọng: Mức năng lợng 2700 thấp nhất (669,78 g/ngày), thấp hơn mức
3000 (711,34 g/ngày) và mức 3300 (711,52 g/ngày) với P<0,05. Cha thấy có sự khác
nhau (P>0,05) giữa mức 2700 (669,78 g/ngày) và 3600 (697,22 g/ngày).
- Lợn trong nghiên cứu này có tăng trọng cao (709,26-808,14 g/ngày), cao hơn so với
một số kết quả nghiên cứu trong nớc nh: Nguyễn Thiện (2002) [11] lợn lai 7/8 máu
ngoại cho tăng trọng trung bình 566-587 g/ngày. Theo Kiều Minh Lực và cs (2005) [7] đối
với lợn cái hậu bị tăng trọng là 765 g/ngày.
- FCR của lợn Yorkshire: Dao động trong khoảng 3,56-3,77. Có sự sai khác rõ rệt
(P = 0,004) giữa mùa lạnh và mùa nóng. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thiện
(2002) [11] FCR của lợn 7/8 máu ngoại là 3,27-3,63kg, Phùng Thăng Long (2003) [5]
FCR của lợn 3/4 máu ngoại là 3,63-3,82kg.
- Độ dày mỡ lng của lợn Yorkshire dao động trong khoảng 2,61-2,94cm và
mùa lạnh cao hơn mùa nóng (P = 0,001). Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình
(2004) [10] độ dày mỡ lng lợn F
1
(Pietrain x Yorkshire) là 2,766 cm (với mức năng
lợng trong khẩu phần là 3.000 Kcal/kg thức ăn). Theo Phùng Thăng Long (2003) [5]
lợn lai 3/4 máu ngoại có độ dày mỡ lng là 3,50cm.

3.4.2. ảnh hởng của mức năng lợng
- Lợng VCK ăn vào: Giảm dần từ mức năng lợng thấp nhất đến mức năng lợng
cao nhất (2,93kg TĂ/ngày ở mức 2700 xuống 2,58kg TĂ/ngày ở mức 3600). Có sự khác
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007

24
nhau rõ rệt giữa các mức năng lợng (P=0,001). Lợng VCK ăn vào/ngày thấp ở các
mức năng lợng 3.300 và 3.600 Kcal ME/kg thức ăn (2,71 và 2,58 kg)

0,364

30,75 30,79 30,17 30,46 0,272

0,345

0,761

Khối lợng
cuối TN (kg)

103,15

94,50

0,838

0,001

96,69 98,58 100,82

99,20 1,185

0,119

0,044

Lợng VCK
ăn vo
(kg/ngy)

0,001

732,72
a

753,25
a

785,06
b

763,78
a

13,277

0,059

0,028

FCR (kg
TĂ/kg tăng
trọng)
3,56

3,77

0,045

0,004

0,643

Ghi chú: Các giá trị trong cùng hàng tối thiểu có một chữ cái (mũ) giống nhau thì
không sai khác với mức P>0,05.
Kcal/kg TĂ cho lợn Yorkshire nuôi thịt từ 30 đến 100 kg khối lợng.
- FCR: Giảm dần từ mức năng lợng 2700 (4,00kg) xuống mức 3600 (3,41kg), có sự
khác nhau rất có ý nghĩa của FCR giữa các mức năng lợng trong khẩu phần (P=0,001).
- Không có sự khác nhau về dày mỡ lng của lợn đợc ăn các khẩu phần có mức
năng lợng từ 2700 đến 3600 Kcal/kg TĂ (P=0,057).

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007

25

IV. KếT LUậN V Đề NGHị

4.1. Kết luận
- Mùa nóng (tháng 6, 7, 8) khu vực nghiên cứu có nhiệt độ trung bình cao
(28,7
0
C), độ ẩm trung bình là 79,2%. Mùa lạnh (tháng 12, 1, 2) có nhiệt độ trung
bình thấp (20,7
0
C) và độ ẩm trung bình cao (91,1%).

nghiệp và PTNT, số 12, 2002, trang 1091-1092.
[2] Nguyễn Văn Đức và Trần Thị Minh Hoàng, Xác định tỷ lệ nạc của lợn lai F
1
(LW
x MC) và F
1
(LR x MC) dựa vào độ dày mỡ lng và khối lợng hơi, Tạp chí Chăn
nuôi số 9 [79], 2005, trang 7-9.
[3] Nguyễn Kim Đờng và Lê Đình Phùng, ảnh hởng của các mức protein trong
khẩu phần đến khả năng sản xuất và chất lợng thịt xẻ của lợn lai F
1
(ĐB x MC)
nuôi thịt, Kết quả nghiên cứu KHCN nông lâm nghiệp 1998-1999, NXB Nông
nghiệp, Hà Nội, 2000, trang 273-278.
[4] Trần Quang Hân, Khả năng sản xuất của lợn nuôi trong nông hộ ở huyện C Jut,
C M'gar và Tp Buôn Ma Thuột, tỉnh Đak Lak. Tạp chí Chăn nuôi, số 1 [71],
2005, trang 8-10.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007

26
[5] Phùng Thăng Long, ảnh hởng của các mức protein khác nhau trong khẩu phần
đến khả năng sản xuất và phẩm chất thịt xẻ của lợn lai (MC x Y) x Yorkshire.
Tạp chý Nông nghiệp và PTNT, số 6, 2003, trang 714-715.
[6] Nguyễn Thị Lộc, Nghiên cứu hoàn thiện quy trình ủ chua sắn và sử dụng DL-

(Y x MC) and Yorkshire pigs raise with 16% of crude protein and
3000 Kcal ME/kg of feed in cold season there are dry matter feed intake (6,6-10%),
live weigh gain (10,8-12,7%), back fat thickness (10,9-12,6%) higher than that of hot
season. Energy level in the ration effects on dry matter feed intake, live weigh gain,
FCR and back fat thickness of F
1
pigs (P<0,05). Energy level in the ration effects on
dry matter feed intake and FCR of Yorkshire pigs (P<0,05). Fattening F
1
(YxMC)
pigs 20-90kg of live weigh raise with 16% of crude protein could use 3.300 Kcal
ME/kg of feed in the cold season and 3.000 Kcal ME/kg of feed in the hot season.
Fattening Yorkshire pigs 20-90kg of live weigh raise with 16% of crude protein could
use the same energy level (3.300 Kcal ME/kg of feed) in two (cold and hot) seasons.

(a)
khoa nông lâm ng, trờng đại học Vinh
(b)
Khoa chăn nuôi - thú y, trờng đại học nông lâm, đại học huế


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status