B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
**********************
NGUYN HOI NAM
NGHIÊN CứU ứng dụng kỹ thuật qf-pcr
trong chẩn đoán trớc sinh một số
hội chứng lệch bội nhiễm sắc thể
LUN VN THC S Y HC
H NI - 2011
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
**********************
TS. Trần Vân Khánh – Trung tâm Nghiên cứu Gen – Protein, trường
Đại học Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên tôi trong
quá trình thực hiện luận văn.
PGS.TS. Tạ
Thành Văn –Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Gen - Protein–
Cán bộ giảng dạy bộ môn Hóa sinh trường Đại học Y Hà Nội đã cho tôi nhiều
kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài.
Tiếp theo tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
Đảng ủy, Ban giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứ
u.
Các thầy cô bộ môn Hóa sinh, trường Đại học Y Hà Nội đã cho tôi
những kiến thức quý báu trong quá trình học tập.
Các thầy cô bộ môn Y sinh học – Di truyền, trường Đại học Y Hà Nội
đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn.
Các anh chị Trung tâm Nghiên cứu Gen – Protein, trường Đại học Y Hà
Nội đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tại Trung tâm.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghi
ệp đã giành cho tôi sự ủng hộ nhiệt tình,
chia sẻ với tôi những lúc thành công cũng như khó khăn.
Cuối cùng, tôi xin ghi nhớ công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của bố mẹ .
Sự yêu thương, động viên từ những người thân trong gia đình là chỗ dựa vững
chắc giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2011
Nguyễn Hoài Nam
LỜI CAM ĐOAN
TOP Termination of pregnancy
uE
3
Unconjugated Estriol- Estriol không liên hợp
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Khái niệm và đặc điểm hội chứng trisomy 13, 18, 21 và bất thường số
lượng nhiễm sắc thể X,Y 3
1.1.1. Hội chứng Down (Trisomy 21) 3
1.1.2. Hội chứng Patau (Trisomy 13) 4
1.1.3. Hội chứng Edwards (Trisomy 18) 5
1.1.4. Hội chứng Klinefelter (XXY) 6
1.1.5. Hội chứng XYY 6
1.1.6. Hội chứng Trisomy X (Hội chứng siêu nữ) 6
1.1.7. Hội chứng Monosomy X (Hội chứng Turner) 7
1.2. Một số phương pháp sàng lọc trước sinh 8
1.2.1. Siêu âm thai: 8
1.2.2. Test sàng lọc bộ ba (triple test : AFP, βhCG,uE
3
) 10
1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH 12
1.3.1. Lấy mẫu di truyền 12
1.3.2 Chẩn đoán trước sinh bằng phương pháp di truyền tế bào 14
1.3.3. Chẩn đoán trước sinh bằng phương pháp di truyền tế bào - phân tử . 15
1.3.4. Chẩn đoán trước sinh bằng phương pháp di truyền phân tử: 16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 23
4.2.2. Độ chính xác của QF-PCR trong chẩn đoán bất thường lệch bội NST 59
4.3. Số lượng marker cần sử dụ
ng trong chẩn đoán các hội chứng lệch bội
NST và việc sử dụng các extra marker. 60
4.4. Một số ưu điểm và hạn chế của kỹ thuật QF – PCR 62
KẾT LUẬN 63
KIẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Những dấu hiệu bất thường hay gặp trên siêu âm ba tháng giữa và
các rối loạn NST tương ứng [19] 9
Bảng 1.2. Kết quả nghiên cứu chẩn đoán trước sinh bất thường NST sử dụng
QF – PCR [23] 20
Bảng 2.1: Các marker được sử dụng trong bộ kit Aneufast[12] 26
Bảng 2.2: Các marker được sử dụng trong từng lọ 28
Bảng 2.3. Thành phần phản ứng 28
Bảng 2.4. Chu trình nhiệt phản ứng QF-PCR 29
Bảng 2.5. Hóa chất dùng cho 1 mẫu điện di 29
Bảng 2.6. Cách đọc kết quả tỉ lệ đỉnh [12] 30
Bảng 3.1. Kết quả tách chiết DNA từ dịch ối 32
Bảng 3.2. Kết quả của kỹ thuật QF-PCR 33
Bảng 3.3. Độ chính xác của kỹ thuật QF – PCR so với kỹ thuật di truyền tế
bào 34
Bảng 3.4. Độ chính xác của từng marker trong chẩn đoán trisomy 21 35
Bảng 3.5. Độ chính xác của từng marker trong chẩn đoán trisomy 18 36
Bảng 3.6. Độ chính xác của từng marker trong chẩn đoán trisomy 13 37
Hình 3.13. Kết quả karyotyp của bệnh nhân số 27 52
Hình 4.1. Kết quả karyotyp mẫu bệnh nhân kết luận 46,XY 56
Hình 4.2. Kết quả QF-PCR của mẫu bệnh nhân karyotyp kết lu
ận 46,XY 57
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị tật bẩm sinh (DTBS) là một trong những bất thường hay gặp ở thai
nhi và trẻ sơ sinh, nhiều nghiên cứu thống kê đã xác định DTBS là một trong
những nguyên nhân chính gây nên tử vong và bệnh tật của trẻ trong những
năm đầu tiên của cuộc sống. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO)
dị tật bẩm sinh chiếm khoảng 3 - 4% tổng số trẻ được sinh ra bao gồm cả trẻ
sống và trẻ chết lúc sinh [34]. Theo nghiên cứu của Phan Thị Hoan (2001) ở
nhóm dân cư thuộc 4 tỉnh đồng bằng Sông Hồng cho thấy tỷ lệ DTBS chiếm
1,96% dân số điều tra [6]. Một số hội chứng bất thường nhiễm sắc thể (NST)
thường gặp như: hội chứng Down, hội chứng Patau, hội chứng Edwarrd và
một số hội chứng bất thường NST giới như: Klinefelter, Tuner. Đa số
trẻ sinh
ra mắc những hội chứng này đều ảnh hưởng tới khả năng sống và sự hòa nhập
cộng đồng. Hiện nay việc điều trị các bệnh di truyền còn gặp nhiều khó khăn,
vì vậy phòng và hạn chế bệnh di truyền cho trẻ sinh ra là việc cấp thiết nhằm
giảm bớt gánh nặng về kinh tế cũng như tâm lý cho gia đình và xã hội. Việc
chẩn đ
oán sớm các DTBS thời kỳ phôi thai là cần thiết để có các biện pháp xử
lý phù hợp.
Gần đây người ta phát hiện ra các trình tự lặp ngắn STR (short tandem
repeat) có tính đa hình cao ở một số locus nhất định trên NST số 13, 18, 21,
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm và đặc điểm hội chứng trisomy 13, 18, 21 và bất thường
số lượng nhiễm sắc thể X,Y
Trong thực tế lâm sàng, bất thường NST gặp ở 50% các trường hợp gây
sẩy thai, 10% các trường hợp đẻ sống. Trong đó các bất thường thường gặp và
gây ảnh hưởng tới khả năng hòa nhập cộng đồng và trí tuệ của trẻ là các hội
chứng Down, Patau, Edward, hội chứng Kilinefelter, h
ội chứng Tuner và hội
chứng trisomy X.
1.1.1 Hội chứng Down (Trisomy 21) [7][10]
Là một trong những hội chứng rối loạn NST dạng lệch bội thường gặp
nhất, tỷ lệ trung bình mắc hội chứng Down trong quần thể là 1/700 lần sinh.
Cơ chế di truyền của bệnh: 92,5% là do 3 NST 21, 4,8% là do chuyển
đoạn của NST 21 với các NST tâm đầu khác, một tỷ lệ thấp khoảng 2,7% thể
khảm. Trong những n
ăm gần đây, người ta đã biết rõ rằng 80% trường hợp
không phân ly của cặp NST 21 xảy ra ở lần phân chia thứ nhất của quá trình
giảm phân (Meiosis Ι), trong đó tỷ lệ ở mẹ chiếm 66,2% , ở cha 13,8%. Còn
20% trường hợp không phân ly của các cặp NST 21 là xảy ra ở lần phân chia
thứ hai của quá trình giản phân (Meiosis ΙΙ), trong đó tỷ lệ ở mẹ chiếm 11%,
còn ở cha chiếm 9%. Cũng có trường hợp c
hai chân. Những biến đổi của vân da tay được thấy là góc atd lớn.
Ngoài ra, các DTBS ở tim chiếm 80% các trường hợp, ở hệ thống bài
tiết trên 60%, ở hệ thống cơ quan sinh sản 75%.
Do có quá nhiều dị tật nặng nề, nên những tr
ẻ Trisomy 13 không sống được
lâu, 90% bệnh nhân bị chết trong vòng 1 tuổi, trong đó 40% là chết chu sinh.
5
1.1.3. Hội chứng Edwards (Trisomy 18) [7]
Lần đầu tiên được một nhóm các nhà di truyền học người Anh đứng
đầu là Edwards mô tả đầy đủ năm 1960. Đây là hội chứng do rối loạn NST
đứng thứ 2 sau hội chứng Down.
Trẻ Trisomy 18 được sinh ra thường thiếu cân (trọng lượng trung bình
khoảng 2kg), trong khi thai lại thường bị già tháng. Các biểu hiện lâm sàng ở
hội chứng này cũng đa dạng như ở hội chứng Patau.
Các tổn thương cấu tạo của mặt và hệ thống cơ xương là ổn định, ở các
trường hợp kinh điển, sọ não có dạng kéo dài nghiêng dần từ xương trán tới
vùng thóp, hàm dưới và lỗ mi
ệng bé, các khe mắt hẹp và ngắn. Vành tai bị
biến dạng và trong phần lớn các trường hợp có tai mọc thấp. Các tật ở chi trên
là sự xếp lộn xộn của xương bàn, bất thường khớp giữa ngón Ι, bất thường ở
bàn chân cũng có tới 80% các trường hợp. Khe hở môi được gặp ở 50% các
trường hợp, nhưng khác với hội chứng Patau ở chỗ thường chỉ khe hở môi ở
một phía.
Để góp phần chẩn đoán hội chứng Edwards, các đặc tính vân da có ý
nghĩa đáng kể, vì ngoài những bất thường thấy ở các nếp lòng bàn tay, tỷ lệ
vân cung ở các đầu ngón tay rất đặc trưng: có tới 95% bệnh nhân có tần số
vân cung từ 5% trở lên, trong khi tần số bình thường là 2,5%. Các trường hợp
bất thường ở tim và mạch máu lớn chiếm tới 90,8% các trường hợp. Thường
lớn
nhanh, dậy thì muộn hơn trẻ bình thường khoảng 6 tháng. Răng lớn, gốc mũi
nhô cao và không cân xứng, tai thấp. Mặc dù người cao nhưng có xu hướng
kém phát triển cơ ngực, cơ vai và cơ thắt lưng. Có trường hợp sinh dục kém
phát triển, tinh hoàn nhỏ, tinh hoàn lạc chỗ và lỗ đái lệch thấp. Hầu hết có trí
tuệ bình thường, một số chậm phát triển trí tuệ.
1.1.6. Hội chứng Trisomy X (Hội ch
ứng siêu nữ)[7]
Đặc điểm chung:
Hội chứng Trisomy X được gặp trong dân cư với tần số chung là
khoảng 1,3: 1000 lần sinh con gái. Những biểu hiện bên ngoài rất khó phân
7
biệt người bệnh với những người bình thường do không có những biến đổi rõ
ràng về hình thái cũng như trí tuệ và thể lực. Tuy nhiên, ở những người bệnh
cũng có một số bất thường về chức năng sinh sản ở phụ nữ như vô kinh thứ
phát, rối loạn kinh nguyệt, mãn kinh sớm, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt
cao. Những phụ nữ Trisomy X vẫn có kh
ả năng sinh đẻ bình thường song
nguy cơ các bất thường các NST ở con cái cao hơn những người khác.
1.1.7. Hội chứng Monosomy X (Hội chứng Turner),[33][7]
Đặc điểm chung:
Hầu hết các trường hợp thai mắc hôi chứng Turner bị sảy thai tự nhiên,
chỉ có một số ít sống đến khi sinh. Tần số gặp ở 1/5000 trẻ sơ sinh gái.
Người bệnh có kiểu hình là nữ giới thường đi khám vì các triệu chứng
như lùn, vô kinh nguyên phát, các biểu hiện của bệnh ở các giai đoạn khác nhau:
Ở trẻ sơ sinh: có thể nhận biết được qua các biểu hiện: trọng lượng khi
sinh thấp, phù bạch huyết ở mu bàn tay, bàn chân, phù cứng, không viêm và
thường đến tuổi thứ hai thì hết phù, tai vểnh ra phía sau.
Ở trẻ em gái và thanh niên: người lùn chậm lớn và có những biểu hiện
những năm 1972. Sau đ
ó siêu âm ngày càng được sử dụng rộng rãi và đã trở
thành một phương tiện chẩn đoán quan trọng và không thể thiếu trong chương
trình chăm sóc trước sinh. Đây là phương pháp không xâm phạm thai, tương
đối an toàn nên được xem là một trong những công cụ chủ yếu để sàng lọc và
phát hiện các dị tật của thai.
Giai đoạn 3 tháng đầu: để đo độ mờ da gáy (dày da gáy)
Độ dày khoảng mờ da gáy được tính là chiều dày tối
đa của khoảng mờ
dưới da, là chiều dày từ mặt ngoài da gáy tới xương trên đốt sống cổ. Sự tăng
độ dày khoảng mờ da gáy liên quan đến các hội chứng bất thường NST như
Turner, hội chứng Down, các lệch bội NST khác. Sàng lọc sử dụng kết hợp
tuổi của mẹ với độ dày khoảng mờ da gáy của thai tuần 10 - 14 ở nhóm thai
phụ có nguy cơ cao đã được thực hiệ
n vào những năm 1990, khoảng 80% thai
9
Trisomy 21 liên quan với tăng khoảng mờ da gáy (≥ 3mm). Độ dày da gáy tăng
theo tuổi thai nếu đo không chính xác sẽ gây nên kết quả dương tính giả [3].
Giai đoạn 3 tháng giữa:
Trong giai đoạn 3 tháng giữa siêu âm theo dõi sự phát triển của thai, rà
soát có hệ thống toàn bộ giải phẫu của thai. Giai đoạn này, siêu âm có thể
phát hiện hầu hết các bất thường ở các cơ quan, định hướng tới tất cả các bệnh
c
ủa thai từ đó có các chỉ định xét nghiệm chẩn đoán tìm nguyên nhân. Ngoài
ra siêu âm còn có ý nghĩa chẩn đoán xác định các dị tật hình thái để có thể
đưa ra quyết định chấm dứt thai kỳ[4], [2].
Bảng 1.1. Những dấu hiệu bất thường hay gặp trên siêu âm ba tháng giữa
và các rối loạn NST tương ứng [19]
Bất thường Trisomy 18 Trisomy 21 Trisomy 13 Turner
1956 bởi Bergstrand và Czar. AFP được sản xuất từ túi noãn hoàn và gan của
thai. Túi noãn hoàn bị teo ở cuối của giai đoạn bào thai, từ tuần thứ 10 hoặc
tuần thứ 11 của thai và AFP chủ yếu do gan tổng hợp. AFP được định lượng
trong huyết thanh thai, trong dịch ối hoặc trong huyết thanh mẹ. Định lượng
AFP chủ yếu là ở
huyết thanh mẹ vì khi thực hiện xét nghiệm này không xâm
phạm đến thai, tránh được những rủi ro có thể đến với thai và với mẹ.
AFP trong huyết thanh mẹ tăng từ tuần thai thứ 10 tới tuần thai 30 - 32
rồi giảm dần. AFP có nguồn gốc từ thai, khuyếch tán từ huyết thanh của thai
hoặc từ dịch ối qua bánh rau vào vòng tuần hoàn của mẹ. AFP tăng cao trong
huyết thanh mẹ từ tuần thứ 12 - 14. Nồng độ
MSAFP ổn định thường từ tuần
thai 15 - 18, vì vậy người ta cũng thường định lượng MSAFP trong khoảng
tuần thai này. Giá trị trung bình của AFP ở tuần thai 15 - 18:
Huyết thanh thai : 1.510.000 ng/ml
Dịch ối : 10200 ng/ml
Huyết thanh mẹ : 30,6 ng/ml
11
Nồng độ AFP thấp trong những trường hợp bất thường NST. Ngoài ra
nồng độ AFP huyết thanh mẹ còn phụ thuộc đặc điểm sinh lý và bệnh lý của
mẹ do đó cần hiệu chỉnh yếu tố này trong sàng lọc trước sinh.
+ hCG (human chorionic gonadotropin)[24], [14], [8]
hCG là 1 glycoprotein gồm 2 chuỗi α và β do tế bào lá nuôi tiết ra ngay
sau khi có hiện tượng trứng làm tổ. Vào ngày thứ 8 sau khi thụ thai có thể
thấy hCG trong nước tiểu, hCG tăng nhanh và tăng tố
i đa vào tuần thai 8-9
sau đó giảm dần đến tuần 11-12 và duy trì nồng độ như vậy cho đến khi gần
đẻ. Nồng độ hCG tăng cao trong chửa trứng đặc biệt trong ung thư rau thai.
Nam giới và phụ nữ không mang thai có nồng độ hCG trong huyết thanh
bảo quản mẫu để định lượng estriol. Nồng độ estriol thấp kéo dài hoặc nồng
độ estriol giảm đột ngột gợi ý đến thai bệnh lý[13], [21].
12
Ngoài ra người ta còn sử dụng 1 số chất khác trong xét nghiệm sàng lọc như:
- Inhibin
Inhibin là 1 glycoprotein gồm 2 chuỗi α và β (gồm 2 loại β
A
β
B
).
Ở những người phụ nữ không có thai buồng trứng là nguồn cung cấp
inhibin. Khi có thai bánh rau và màng rau là nguồn bài tiết chủ yếu inhibin.
Nếu chuỗi α liên kết với β
A
gọi là inhibin–A ,hoặc chuỗi α liên kết với β
B
gọi
là inhibin–B. Inhibin–A được sử dụng như 1 chất chỉ điểm huyết thanh và sàng
lọc được 70% hội chứng Down với ngưỡng nồng độ 1,79 MoM.
- PAPP - A (Pregnancy – associated plasma protein A)
PAPP - A là 1 glycoprotein có nguồn gốc từ bánh rau. Nồng độ của nó
trong huyết thanh mẹ tiếp tục tăng trong quá trình có thai. Với thai Down
PAPP – A trong huyết thanh người mẹ giảm trong 3 tháng đầu của thai kì
[14]. Định lượng PAPP – A được sử dụng trong 3 tháng đầu của thai để thay
thế
cho định lượng AFP.
1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH
1.3.1. Lấy mẫu di truyền
Muốn chẩn đoán bất thường NST trước hết phải lấy được mẫu di truyền
nghiêm ngặt điều kiện vô trùng.
- Rỉ ối hoặc thấm máu âm đạo: gặp khoảng 2 - 3%. Nước ối chảy ra vài
giờ sau khi chọc, sau đó tự cầm[3].
+ Sinh thiết tua rau (chrionic villus sample, CVS):
Sinh thiết tua rau được biết đến từ cuối những năm 1960, nhưng cho tới
năm 1983 khi có sự hướng dẫn của siêu âm, chọc hút tua rau mới trở thành
m
ột kỹ thuật phổ biến để chẩn đoán trước sinh ở ba tháng đầu của thai. Với
mục đích phân tích karyotyp, tua rau sinh thiết có thể được sử dụng để nuôi
cấy ngắn hạn qua đêm, nuôi cấy kinh điển (1 - 2 tuần) hoặc phân tích NST
trực tiếp. Phương pháp phân tích NST trực tiếp hoặc nuôi cấy ngắn hạn qua
đêm cho kết quả trong vài giờ hoặc 1 ngày tuy nhiên phương pháp này cho kỹ
thuật băng kém nên ít
được sử dụng[25].
14
Hạn chế của kỹ thuật sinh thiết tua rau là tỷ lệ sẩy thai cao hơn, tăng
0,8% so với chọc hút dịch ối kinh điển. Theo nghiên cứu của Dunn K.L.,
Golmilow L., tỷ lệ sẩy thai của sinh thiết tua rau là 1,9 - 2,1%. Một trong
những hạn chế khác của sinh thiết tua rau là tình trạng khảm do lẫn tế bào mẹ
hoặc sự phát triển quá nhanh của tế bào cytotrophoblast của rau[25].
+ Chọc hút máu cuống rốn (Percutaneous Umbilical Blodd Sampling):
Được thực hiện t
ừ tuần thai thứ 18 bằng cách đưa một cây kim vào
cuống rốn dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Tỷ lệ sẩy thai là khoảng 1 đến 2%
cao hơn so với phương pháp chọc ối. Vì vậy ngày nay, chọc hút máu cuống
rốn chỉ áp dụng chẩn đoán các bệnh về máu.
+ Kỹ thuật PGD (Preimplantation Genetic Diagnosis)
Kỹ thuật này được áp dụng cho những phôi thai hành thành từ phương
pháp thụ tinh trong ống nghiệm nhằm giúp việ
xác định được các vùng của từng NST, các rối loạn của NST: Trisomy, đứt
đoạn, Trisomy từng phần. Mặc dù hiện nay đã phát triển kỹ thuật băng G với
độ phân giải cao nh
ưng vẫn chưa phát hiện được những rối loạn NST như
nhân đoạn, mất đoạn nhỏ.
Đối với băng R, mục đích và ý nghĩa sử dụng cũng giống như với băng
G, chỉ khác là hình ảnh các băng đậm nhạt ngược với băng G. Hai phương
pháp nhuộm đều có giá trị như nhau trong việc phát hiện rối loạn cấu trúc NST,
tuy nhiên trong một số trườ
ng hợp người ta có thể kết hợp cả hai phương pháp
nhuộm để có hiệu quả hơn trong việc pháp hiện các rối loạn cấu trúc NST.
1.3.3. Chẩn đoán trước sinh bằng phương pháp di truyền tế bào - phân tử:
Từ cuối những năm 80 kỹ thuật FISH (Fluorescent in situ
hybridization) đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới để xác định những bất
thường NST, đặc biệt là những rối loạ
n nhỏ. Đây là một kỹ thuật đặc biệt có ý
nghĩa trong chẩn đoán trước sinh vì nó có thể thực hiện trên nhân tế bào gian
kì, không cần thời gian nuôi cấy, vì vậy cho kết quả sau một thời gian ngắn
(24 - 48h), đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của chẩn đoán trước sinh. Mẫu tế
bào ối có thể được lấy sớm từ tuần thứ 12 [28], [30], [32].
16
Kỹ thuật FISH sử dụng một trình tự ngắn của chuỗi DNA sợi đơn, gọi
là DNA dò (các DNA dò này được đánh dấu bằng các đồng vị phóng xạ hoặc
bằng phương pháp hóa học). Các DNA dò sẽ được lai với trình tự của DNA
trên tiêu bản NST ở kì giữa, đầu kì giữa hoặc gian kì. Qua sự lai của DNA dò
với trình tự bổ sung, ta có thể phát hiện và định vị được trình tự ấy qua phân
tích dưới kính hiể
n vi huỳnh quang [5], [17].
Kỹ thuật FISH có những hạn chế như: giá thành của kỹ thuật cao hơn