tóm tắt luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và vai trò nhiễm vi rút hô hấp trong đợt bùng phát hen phế quản ở trẻ em - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản (HQP) là bệnh mạn tính đường hô hấp phổ biến
trên thế giới là bệnh mang tính chất xã hội mà hậu quả của nó ảnh
hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhi, gia đình và xã hội.
Trong những thập niên gần đây số người mắc bệnh hen phế quản ngày
càng có xu hướng tăng lên. Ở Việt Nam theo báo cáo của Chương
trình khảo sát quốc tế về hen và dị ứng ở trẻ em Hà Nội, tỷ lệ mắc hen
phế quản chiếm 13,9%.
Hen phế quản thường chẩn đoán muộn, việc điều trị chưa kịp
thời, chưa thống nhất, do vậy nhiều trường hợp hen phế quản nặng,
hen ác tính khi đến viện đã trong tình trạng rất nặng. Trong nhiều yếu
tố gây đợt bùng phát của hen phế quản thì nhiễm vi rút hô hấp là một
trong những tác nhân quan trọng nhất là ở trẻ em, qua các nghiên cứu
cho thấy những đợt bùng phát do vi rút gây nên thì thường rất nặng,
điều trị bằng phác đồ thông thường hiệu quả thấp.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hen phế quản trên các
lĩnh vực khác nhau. Ở Việt Nam, gần đây có nhiều nghiên cứu về hen
phế quản, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về vai trò của nhiễm vi
rút hô hấp lên đợt bùng phát của hen phế quản để có phác đồ điều trị
phù hợp cho bệnh nhi. Do vậy đề tài nghiên cứu này nhằm những mục
tiêu sau:
- Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng đợt bùng
phát hen phế quản ở trẻ em.
- Xác định tỷ lệ nhiễm một số vi rút hô hấp trong đợt
bùng phát và mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với
các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của hen phế quản ở
trẻ em.
1
Tính cấp thiết của đề tài:
Các dấu hiệu lâm sàng của hen phế quản ở trẻ em có nhiều điểm
khác biệt so với người lớn, triệu chứng lâm sàng không rõ ràng và

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.Định nghĩa hen phế quản
Định nghĩa hen phế quản: theo GINA (2006) HPQ là bệnh lý
viêm đường thở trong đó có nhiều tế bào và thành phần tế bào tham
gia, viêm mạn đường thở kết hợp với tăng phản ứng của đường dẫn
khí làm xuất hiện khò khè, khó thở, nặng ngực và ho đặc biệt là về ban
đêm hay sáng sớm, tái đi tái lại. Các giai đoạn này thường kết hợp với
giới hạn luồng khí lan tỏa, nhưng hay thay đổi theo thời gian, thường
có khả năng phục hồi tự nhiên hay sau điều trị
Định nghĩa đợt bùng phát hen phế quản: theo GINA 2006 [86]
đợt bùng phát hen phế quản là các đợt tiến triển nặng lên của khó thở,
ho, khò khè, nặng ngực hay kết hợp của các triệu chứng này, đợt bùng
phát của hen phế quản đặc trưng bởi sự sút giảm của chức năng hô
hấp, xuất hiện triệu chứng về đêm làm bệnh nhi phải thức giấc và tăng
nhu cầu dùng thuốc cắt cơn đồng vận bêta tác dụng ngắn.
1.2. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng đợt bùng phát hen phế quản
1.2.1. Triệu chứng lâm sàng
- Ho: lúc đầu có thể ho khan sau xuất tiết nhiều đờm, ho dai
dẳng không có giờ nhất định, thường ho nhiều về đêm và sáng nhất là
khi thay đổi thời tiết .
- Khò khè: có tính chất tái diễn.
- Khó thở: chủ yếu khó thở thì thở ra, thì thở ra kéo dài, trường
hợp nhẹ khó thở xuất hiện khi gắng sức, trường hợp nặng trẻ kích
thích vật vã, ho liên tục, khó thở ậm ạch, rút lõm lồng ngực, co kéo cơ
hô hấp và có thể tím tái.
- Tức ngực: bệnh nhân có cảm giác tức nghẹt lồng ngực hoặc
thắt chặt ngực, triệu chứng này chủ yếu gặp ở trẻ lớn.
- Khạc đờm: khi trẻ ho thường khạc nhiều đờm trắng dính, triệu
chứng khạc đờm thường gặp ở trẻ lớn.
3

lồng ngực giãn rộng, có hiện tượng ứ khí, nếu bệnh nhân ho khạc
nhiều đờm có thể thấy các biến chứng tắc nghẽn trên phim X quang
như xẹp phổi hoặc có biến chứng tràn khí màng phổi.
1.3. Vi rút hô hấp và đợt bùng phát hen phế quản
Nhiễm vi rút hô hấp là nguyên nhân hàng đầu gây đợt bùng phát
hen phế quản nhất là ở trẻ em. Các vi rút được xác định là RSV, Cúm A,
Cúm B, Adeno vi rút, tỷ lệ nhiễm từng loại vi rút phụ thuộc vào tuổi của
bệnh nhân, Vi rút RSV thường gặp ở trẻ nhỏ nhất là dưới 2 tuổi, Vi rút
cúm và Vi rút Adeno gặp ở trẻ lớn hơn, tỷ lệ nhiễm mỗi loại vi rút theo
4
mùa trong năm, RSV hay gặp vào mùa Đông, vi rút cúm gặp vào cuối
mùa Đông và mùa Xuân.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 260 bệnh nhi từ 6 tháng đến 15 tuổi, được chẩn đoán
xác định là hen phế quản, đang có đợt bùng phát, vào điều trị tại Khoa
Hô hấp và Phòng tư vấn hen, Bệnh viện Nhi Trung ương, thời gian từ
tháng 10/2007 đến 30/12/2009.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu: cỡ mẫu cho nhóm đối tượng nghiên cứu là
260 bệnh nhi hen phế quản.
2.2.3. Nội dung nghiên cứu
2.2.3.1. Nghiên cứu lâm sàng
- Yếu tố dịch tễ : tuổi, giới, địa chỉ.
- Bệnh sử: khai thác và phát hiện các triệu chứng sốt, ho, khò
khè, khó thở, nặng ngực.
- Tiền sử: hỏi kỹ về tiền sử bản thân và gia đình.
- Điều kiện sống: môi trường sống.

2.3. Xử lý số liệu
- Số liệu được quản lý và phân tích bằng phần mềm Epidata
3.1 và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS tại Bộ môn Thống kê,
Trường Đại học Y tế cộng cộng.
- So sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ bằng test X
2
và giá trị p,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Xác định tỷ suất chênh (OR).
- Tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu có 260 bệnh nhi nhóm trẻ < 2 tuổi chiếm
17,70%, nhóm 2 - <5 tuổi chiếm 30,77%, nhóm 5 - <10 tuổi chiếm
36,15%, nhóm ≥ 10 tuổi chiếm 15,38%, trẻ trai chiếm 60,77%, trẻ có
tình trạng dinh dưỡng thừa cân là 10,77%.
Tỷ lệ bệnh nhi có tiền sử gia đình hen, dị ứng chiếm 51%,
trong đó bố, mẹ có tiền sử dị ứng là 36%, bệnh nhi có tiền sử dị ứng là
82%, các bệnh dị ứng hay gặp là viêm mũi dị ứng, mề đay, chàm.
Bệnh nhi có tuổi xuất hiện khò khè lần đầu tiên trước 2 tuổi
chiếm 97,80%, trong đó khò khè trước 1 tuổi chiếm 52,86%, bệnh nhi
xuất hiện khò khè lần đầu sau 2 tuổi chiếm 2,20%.
6
Đa số bệnh nhi khởi phát hen phế quản trước 5 tuổi chiếm
59%; số bệnh nhi khởi phát hen phế quản ở độ tuổi 5 – 10 tuổi chiếm
32%, chỉ có 9% số bệnh nhi khởi phát hen sau 10 tuổi.
3.2. Triệu chứng lâm sàng
3.2.1.Triệu chứng cơ năng
Bảng 3.7: Triệu chứng cơ năng đợt bùng phát hen phế quản
Triệu chứng

260
(100)
Ho

118
(93,65)
130
(97,01)
248
(95,38)
0,45
0,09-1,17
χ² = 1,67
p > 0,05
Không
8
(6,35)
4
(2,99)
12
(4,62)
Cộng:
126
(100)
134
(100)
260
(100)
Khò
khè

121
(46,54)
2,07
1,23-3,51
χ² =8,38
p < 0,01 Không
79
(62,70)
60
(44,78)
139
(53,46)
Cộng:
126
(100)
134
(100)
260
(100)
Triệu
chứng
Có 18
(14,29)
42
(31,34)
60
(23,08)
2,74
1,42-5,40
χ²=10,64

nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
- Triệu chứng khò khè: gặp chủ yếu ở nhóm dưới 5 tuổi chiếm
tỷ lệ 96,82%, nhóm bệnh nhi trên 5 tuổi chiếm tỷ lệ 50,75%, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
- Triệu chứng tức ngực: nhóm bệnh nhi trên 5 tuổi bị tức ngực
chiếm 55,22%, nhóm bệnh nhi dưới 5 tuổi bị tức ngực chiếm 37,30%,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01).
- Triệu chứng về đêm: nhóm bệnh nhi trên 5 tuổi có triệu
chứng về đêm chiếm 31,34%, nhóm bệnh nhi dưới 5 tuổi có triệu
chứng về đêm chiếm 14,29%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,001).
3.2.2. Triệu chứng thực thể đợt bùng phát hen phế quản
Bảng 3.8: Triệu chứng thực thể đợt bùng phát hen phế quản
Triệu chứng
thực thể
Tuổi bệnh nhi Cộng
OR
95%CI
χ², p
< 5 tuổi ≥ 5 tuổi
n % n % n %
Thở
nhanh

90
(71,43)
57
(42,54)
147
(56,54)

χ² =12,84
p<0,01Không
64
(50,79)
97
(72,39)
161
(61,92)
Cộng:
126
(100)
134
(100)
260
(100)
8
Ran
rít,
ran
ngáy

126
(100)
132
(99)
258
(99)
χ² = 1,90
p> 0,05
Không 0 2 (1) 2 (1)

- Triệu chứng co kéo cơ hô hấp: nhóm bệnh nhi dưới 5 tuổi có
co kéo cơ hô hấp chiếm 49,21%, nhóm bệnh nhi trên 5 tuổi chiếm
27,61% (p < 0,01).
- Triệu chứng nghe phổi có ran rít, ran ngáy: là phổ biến ở cả
hai nhóm bệnh nhi, chiếm tỷ lệ 99%, sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (p>0,05).
- Triệu chứng nghe phổi có ran ẩm chiếm tỷ lệ thấp 2 - 3%,
giữa 2 nhóm bệnh nhi sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05).
3.2.3 Mức độ nặng đợt bùng phát hen phế quản :
9
Biểu đồ 3.6: Phân bố mức độ nặng của đợt bùng phát hen phế quản
Nhận xét: chủ yếu gặp đợt bùng phát ở mức độ nhẹ chiếm
51,54%, trung bình chiếm 31,54%; đợt bùng phát mức độ nặng chiếm
16,92%.
3.2.4. Mức độ nặng của bệnh hen phế quản: nhóm bệnh nhi
dưới 5 tuổi bị hen phế quản ngắt quãng không thường xuyên và ngắt
quãng thường xuyên chiếm tỷ lệ 90,48%, hen phế quản dai dẳng chỉ
chiếm 9,52%. Nhóm bệnh nhi trên 5 tuổi bị hen phế quản bậc II và III
là chủ yếu, chiếm tỷ lệ 88,60%, hen bậc I chỉ chiếm 11,40%.
3.3. Cận lâm sàng
- Bạch cầu: nhóm bệnh nhi tăng bạch cầu chiếm 46,15%, trong
đó nhóm bệnh nhi dưới 5 tuổi có bạch cầu tăng chiếm 19,05%, nhóm
bệnh nhi trên 5 tuổi có bạch cầu tăng là 71,64%, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p<0,001).
- Bạch cầu ái toan: nhóm bệnh nhi có tăng bạch cầu ái toan
chiếm 46,92%, bệnh nhi có bạch cầu ái toan ở mức độ bình thường
chiếm 53,08%.
10
- CRP trong máu: nhóm bệnh nhi có CRP trong máu ở mức

- Nhóm bệnh nhi sinh thiếu tháng có tỷ lệ nhiễm vi rút hô hấp
chiếm 65%, nhóm bệnh nhi sinh đủ tháng có tỷ lệ nhiễm vi rút hô hấp
chiếm 47,24%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
- Nhóm bệnh nhi sinh nhẹ cân có tỷ lệ nhiễm vi rút hô hấp
chiếm 58,33%, nhóm bệnh nhi sinh đủ cân có tỷ lệ nhiễm vi rút hô hấp
chiếm 48,89%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
- Nhóm bệnh nhi xuất hiện khò khè lần đầu tiên trước 1 tuổi
có tỷ lệ nhiễm vi rút hô hấp chiếm 51,06%, nhóm bệnh nhi xuất hiện
khò khè lần đầu tiên sau 1 tuổi có tỷ lệ nhiễm vi rút hô hấp chiếm
47,17%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
- Có mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với tuổi khởi phát
hen phế quản (p<0,05), nhóm bệnh nhi khởi phát hen phế quản trước 5
tuổi có nhiễm vi rút hô hấp chiếm 56,89%; nhóm bệnh nhi khởi phát
hen phế quản sau 5 tuổi có nhiễm vi rút hô hấp chiếm 28,95%.
3.4.3. Mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với triệu chứng cơ
năng đợt bùng phát hen phế quản
Bảng 3.46: Mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp
với triệu chứng cơ năng đợt bùng phát hen phế quản
Triệu
chứng
cơ năng
Nhiễm vi rút hô hấp
Cộng
OR 95% CI
χ
2
, p
Có Không
n (%) n (%) n (%)
Sốt

8 (5,44)
Cộng: 73 (100) 74 (100) 147 (100)
Khò khè
3,9
1,52-10,82
χ
2
= 9,95
p < 0,001
Có 65
(89,04)
50
(67,57)
115
(78,23)
Không
8 (10,96)
24
(32,43)
32
(21,77)
Cộng: 73 (100) 74 (100) 147 (100)
Tức ngực
Có 47
(64,38)
30
(40,54)
77
(52,38)
2,65

Có 59 (80,82) 42 (56,76) 101 (68,71) 3,2
1,4 – 7,3
χ
2
= 9,9
p< 0,001
Không 14 (19,18) 32 (43,24) 46 (31,29)
Cộng: 73 (100) 74 (100) 147 (100)
Co kéo cơ hô hấp
13
Có 57 (78,08) 20 (27,03) 77 (52,38) 9,6
4,3–22,0
χ
2
= 39,8
p<0,001
Không 16 (21,92) 54 (72,97) 70 (47,62)
Cộng: 73 (100) 74 (100) 147 (100)
Ran rít, ran ngáy
Có 73 (100) 74 (100) 147 (100)
χ
2
= 1,72
p> 0,05
Không 0 0 0
Cộng: 73 (100) 74 (100) 147 (100)
Ran ẩm
Có 2 (2,74) 0 2 (1,36) χ
2
= 2,55

3.4.7. Mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với mức độ nặng của
đợt bùng phát
Nhóm bệnh nhi nhiễm Vi rút hợp bào hô hấp có tỷ lệ đợt bùng
phát nặng chiếm 60,70%, nhóm bệnh nhi nhiễm vi rút Cúm B có tỷ lệ
đợt bùng phát nặng chiếm 37,50%.
3.4.8. Mối liên liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với triệu chứng
cận lâm sàng đợt bùng phát.
- Có mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với số lượng bạch cầu
trong máu (p<0,001), nhóm bệnh nhi có nhiễm vi rút hô hấp có số lượng
bạch cầu ở mức bình thường chiếm 97,20%; nhóm bệnh nhi không nhiễm
vi rút hô hấp có số lượng bạch cầu ở mức bình thường chiếm 64,86%.
- Nhóm bệnh nhi có nhiễm vi rút hô hấp có CRP ở mức bình thường
theo tuổi chiếm 82%, nhóm bệnh nhi không nhiễm vi rút hô hấp có CRP
mức bình thường chiếm 72,97%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05).
- Có mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với tăng bạch cầu
lympho trong máu (p<0,001), nhóm bệnh nhi có nhiễm vi rút hô hấp có
15
tăng bạch cầu lympho trong máu chiếm 49,32%; nhóm bệnh nhi không
nhiễm vi rút hô hấp có tăng bạch cầu lympho trong máu chiếm 21,62%.
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Phân bố tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu
Kết quả (bảng 3.1) cho thấy nhóm bệnh nhi từ 5 đến 10 tuổi
chiếm tỷ lệ 36,15%, nhóm bệnh nhi dưới 2 tuổi chiếm tỷ lệ
17,70%. Tuổi trung là 5,30 ± 3,40. Bệnh nhi nhỏ nhất là 6 tháng
tuổi, tuổi lớn nhất là 15 tuổi. Bệnh nhi nam chiếm tỷ lệ 60,77%,
bệnh nhi nữ chiếm tỷ lệ 39,23%, tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1.
Theo Lê Thị Minh Hương nghiên cứu ở 843 bệnh nhi hen phế
quản và bị bệnh dị ứng vào điều trị tại Bệnh viện Nhi trung ương năm

bệnh nhi có thở nhanh, co kép cơ hô hấp thường gặp ở nhóm bệnh
nhi < 5 tuổi (p < 0,001). Nghe phổi có ran rít, ran ngáy gặp ở 2
nhóm bệnh nhi là như nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05).
Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự [11] thấy thở
nhanh, co kéo cơ hô hấp thường gặp ở nhóm bệnh nhi dưới 5 tuổi;
nặng ngực, các triệu chứng hen về đêm thường gặp ở nhóm bệnh nhi
trên 5 tuổi. Theo Nguyễn Đức Long [24] co kéo cơ hô hấp chiếm
87,67%, ran rít, ran ngáy chiếm 91,10% trong nhóm bệnh nhân hen
phế quản có đợt bùng phát nặng. Tương tự như nhận xét của Lương
Thị Thuận và Lê Thị Tuyết Lan [37] thấy 91,7% bệnh nhân hen phế
quản đến khám vì khó thở. Phạm Thị Cứu [7] nhận thấy 100% bệnh
nhân hen phế quản nghe phổi có ran rít, ran ngáy.
Mức độ nặng của bệnh hen phế quản (biểu đồ 3.6): trong nhóm
bệnh nhi nghiên cứu chủ yếu gặp đợt bùng phát ở mức độ nhẹ chiếm
51,54%, trung bình chiếm 31,54%; đợt bùng phát mức độ nặng chiếm
16,92%, không gặp trường hợp nào có đợt bùng phát rất nặng đe dọa
ngừng thở, phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự
[11] cho thấy nhóm bệnh nhi vào viện chủ yếu gặp mức độ đợt bùng
phát nhẹ và trung bình chiếm 68%, nghiên cứu của Đào Minh Tuấn
[42] ở nhóm bệnh nhi hen phế quản vào điều trị tại Khoa hô hấp –
Bệnh viện Nhi Trung ương nhận thấy hen phế quản độ 1 và 2 chiếm
90,8%, hen độ 3 chỉ chiếm 9,2%, không gặp bệnh nhi nào hen phế
quản độ 4 trong nhóm nghiên cứu.
Theo Jao M. và cộng sự [91] cho thấy đợt bùng phát mức độ
nhẹ và trung bình chiếm 54,10% và 37,80%, đợt bùng phát nặng
chiếm 8,10% phù hợp với nghiên cứu trên, Ting Fen Leung và cộng sự
17
[145] nghiên cứu ở 209 bệnh nhi 3-18 tuổi, đợt bùng phát nhẹ chiếm
2,40%, đợt bùng phát trung bình là 48,30%, riêng tỷ lệ đợt bùng phát

20,20% thấp hơn trong nghiên cứu này, do trong điều trị đợt bùng phát
hen phế quản nặng bằng glucocorticoid đường tĩnh mạch được sử dụng để
cấp cứu bệnh nhân ngay từ đầu với liều cao nên bạch cầu ái toan giảm.
18
IgE toàn phần trong máu (biểu đồ 3.12): bệnh nhi hen phế quản
có IgE tăng chiếm 70,52%, IgE bình thường chiếm 29,48%, phù hợp
với nghiên cứu của Tạ Bá Thắng [33] thấy IgE toàn phần tăng rất cao
trong máu ở bệnh nhân có đợt bùng phát hen phế quản, tăng rất cao so
với người bình thường, nhóm bệnh nhân tăng IgE chiếm 86%, nhóm
bệnh nhân có IgE bình thường chiếm 14%.
Hình ảnh X quan phổi (biểu đồ 3.13): trong đợt bùng phát hen
phế quản hình ảnh X quang phổi bình thường chiếm 80%, hình ảnh ứ
khí chỉ chiếm 20%. Theo Bùi Xuân Tám [31] nhiều bệnh nhân hen phế
quản có hình ảnh X quang phổi bình thường, khi có đợt bùng phát cấp
nặng hoặc hen phế quản kéo dài thì dấu hiện X quang đặc trưng nhất là
giãn phổi, ứ khí, xẹp phổi chiếm 10% số bệnh nhân vào viện, đa số
xẹp phổi sẽ khỏi khi hen ổn định, tràn khí màng phổi chiếm 5% gặp
ở nhóm bệnh nhân hen ác tính, một số ít trường hợp có biểu hiện
viêm phế quản hoặc viêm phổi. Trong nghiên cứu này đa số bệnh nhi
có hình ảnh X quang phổi bình thường phù hợp với nghiên cứu của
Lương Thị Thuận và Lê Thị Tuyết Lan [37] thấy hình ảnh X quang
phổi ở bệnh nhân hen phế quản thể khó thở bình thường chiếm
100%. Theo Nguyễn Đức Long [24] hình ảnh X quang phổi bình
thường và rốn phổi đậm chiếm 60,7%, viêm phế quản chiếm 18,18%,
chỉ có 13,64% có hình ảnh giãn phế nang, tràn khí màng phổi gặp ở
1,52%.
Thay đổi chức năng thông khí phổi (biểu đồ 3.14): trong đợt
bùng phát của hen phế quản nhóm bệnh nhi có rối loạn thông khí tắc
nghẽn chiếm tỷ lệ 52,63%, rối lọan thông khí hỗn hợp chiếm 10,53%,
bệnh nhi không có rối loạn thông khí chiếm 36,84%, phù hợp với

3.39): Trong đợt bùng phát tỷ lệ xác định được vi rút hô hấp chiếm
49,66%, ngoài đợt bùng phát tỷ lệ xác định vi rút hô hấp chiếm 0,66%,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), nghiên cứu của Simon D.
Massage và cộng sự [113] cho thấy tỷ lệ xác định được vi rút hô hấp
trong đợt bùng phát chiếm 50 - 70%, Khetsuriani và cộng sự [104]
nghiên cứu trên 65 bệnh nhân hen phế quản và 77 trường hợp hen phế
quản ổn định, tỷ lệ nhiễm vi rút được xác định là 63,10% ở nhóm bệnh
nhi hen phế quản và 23,40 % ở nhóm bệnh nhân hen phế quản ổn định.
Kết quả xác định được vi rút trong nghiên cứu này thấp hơn Sebastian
L. Jonhston [138] và Nelandra Chetty [122] cho thấy tỷ lệ xét nghiệm vi
rút chiếm 80 - 85%, điều khác biệt này có thể giải thích do điều kiện xét
nghiệm trong nghiên cứu chỉ xét nghiệm được 4 loại vi rút thường gặp
20
còn một số vi rút khác chưa có điều kiện xét nghiệm như Rhino vi rút
nên tỷ lệ xác định được vi rút trong đợt bùng phát thấp hơn của tác giả.
Kết quả bảng 3.40 cho thấy nhóm bệnh nhi dưới 5 tuổi có nhiễm
vi rút hô hấp chiếm 56,38%, trên 5 tuổi có nhiễm vi rút hô hấp chiếm
37,74%, có mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với tuổi của bệnh
nhi (p<0,05). Kết quả trong nghiên cứu này phù hợp với kết quả
nghiên cứu của Đoàn Mai Thanh thấy lứa tuổi hay gặp nhiễm vi rút hô
hấp cấp là trẻ dưới 12 tháng tuổi chiếm 53,09%, tuổi trung bình là
6,81±0,67 tháng [34]. Nghiên cứu của J. Corne và cộng sự [67] cho
thấy tỷ lệ nhiễm vi rút ở trẻ nhỏ gấp 2,4 lần so với nhóm trẻ lớn và
người lớn.
Kết quả bảng 3.49 cho thấy nhóm bệnh nhi dưới 5 tuổi tỷ lệ xác
định được Vi rút hợp bào hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất 43,30%, nhóm
bệnh nhi trên 5 tuổi tỷ lệ xác định được vi rút Cúm B chiếm tỷ lệ cao
nhất 35,0%, Kết quả của chúng tôi phù hợp với Zhao J. và cộng sự
[157] cho thấy lứa tuổi nhiễm vi rút hô hấp có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê, RSV được xác định ở nhóm trẻ nhỏ tuổi trung bình 3,85 ±

giữa nhiễm vi rút hô hấp với triệu chứng thở nhanh (p<0,001), nhóm
bệnh nhi có nhiễm vi rút hô hấp có co kéo cơ hô hấp là 78,08%, nhóm
bệnh nhi không nhiễm vi rút hô hấp co kéo cơ hô hấp chỉ là 27,03%
(p<0,001).
Tỷ lệ nhiễm các loại vi rút hô hấp trong đợt bùng phát (biểu đồ
3.17). Cho thấy trong 73 bệnh nhi xét nghiệm xác định được vi rút hô
hấp, Vi rút hợp bào hô hấp chiếm 38,36%, Adeno vi rút chiếm
30,14%, Cúm B chiếm 21,92%, Cúm A chiếm 9,58%, phù hợp với
nghiên cứu Zhao J. và cộng sự [157] nghiên cứu trên 64 bệnh nhi hen
phế quản cho thấy tỷ lệ xác định được RSV là 27%, Cúm A là 17%,
không gặp trường hợp nào nhiễm RSV kết hợp với Cúm A.
Kết quả (biểu đồ 3.18) cho thấy nhóm bệnh nhi nhiễm Vi rút
hợp bào hô hấp có tỷ lệ đợt bùng phát nặng chiếm 60,70%, nhóm bệnh
nhi nhiễm vi rút cúm B có tỷ lệ đợt bùng phát nặng chiếm 37,50%. Theo
Anne Marie Singh [53] cho thấy RSV có liên quan đến những bệnh nhi
hen phế quản nặng sau viêm tiểu phế quản, theo các nghiên cứu trên thế
giới thấy nhiễm vi rút hợp bào hô hấp là yếu tố nặng, nhất là ở những
bệnh nhân có cơ địa dị ứng, đặc biệt nhiễm vi rút hợp bào hô hấp có liên
quan đến các trường hợp nặng phải nhập viện [53], [88], [133].
KẾT LUẬN
22
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm vi rút hô
hấp ở 260 bệnh nhi hen phế quản từ tháng 10/2007 đến tháng12/2009,
chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng đợt bùng phát hen phế quản ở
trẻ em
1.1. Trong đợt bùng phát hen phế quản ở trẻ em triệu chứng lâm
sàng nổi bật là:
- Ho, khò khè, tức ngực, triệu chứng hen về đêm, thở nhanh,
nghe phổi có ran rít, ran ngáy. Triệu chứng khò khè, thở nhanh thường

- Tỷ lệ xác định được vi rút hô hấp trong đợt bùng phát là
49,66%, ngoài được bùng phát là 0,66%.
`- Các vi rút hô hấp được xác định là: Vi rút hợp bào hô hấp
(38,36%); Vi rút Adeno (30,14%); Vi rút cúm A chiếm (9,58%); Vi rút
cúm B (21,92%).
2.2. Mối liên quan giữa nhiễm vi rút hô hấp với các biểu hiện lâm
sàng, cận lâm sàng của đợt bùng phát hen phế quản
- Nhóm bệnh nhi nhiễm vi rút hô hấp có biểu hiện lâm sàng cấp
tính và rầm rộ với các triệu chứng là sốt, ho, khò khè, thở nhanh, co
kéo cơ hô hấp, tức ngực, nghe phổi có ran rít, ran ngáy.
- Nhóm bệnh nhi hen phế quản có nhiễm vi rút hô hấp bị đợt
bùng phát nặng là chủ yếu chiếm 85,37%. Nhóm bệnh nhi hen phế
quản nhiễm RSV có đợt bùng phát hen phế quản nặng chiếm 60,70%.
- Bệnh nhi nhiễm vi rút hô hấp có số lượng bạch cầu đa số ở
mức bình thường là 97,20%; bạch cầu lympho tăng là 49,32%; tỷ lệ
CRP trong máu bình thường (<6mg/lít) là 82%.
KIẾN NGHỊ
Qua kết quả nghiên cứu của đề tài, tôi có một số kiến nghị sau:
1. Chẩn đoán đợt bùng phát hen phế quản ở trẻ em, nhất là trẻ
dưới 5 tuổi, cần chú ý: hỏi kỹ tiền sử bệnh nhi, triệu chứng lâm sàng
chú ý những triệu chứng: ho, khò khè, khó thở, nghe phổi có ran rít
ran, ngáy.
2. Bệnh nhi bị đợt bùng phát hen phế quản có biểu hiện sốt, ho,
khó thở, nghe phổi có ran rít, ran ngáy cần xét nghiệm vi rút hô hấp
tránh lạm dụng kháng sinh.
3. Trẻ em cần tiêm phòng vắc xin phòng cúm, RSV gây miễn
dịch chủ động, để giảm tỷ lệ mắc hen phế quản, nhất là ở những trẻ có
cơ địa dị ứng.
24
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status