Luận văn : Nghiên cứu bệnh xuất huyết trên vi, xoang miệng cá Basa (Pangasius bocourti) cá tra (P. hypopthalmus) nuôi tại An Giang part 10 - Pdf 19

mùa khô trình bày tại Bảng 11. Số lượng vi khuẩn trung bình trong gan cá ba sa thu
mẫu trên sông Tiền (35,83.10
4
CFU/g) cao hơn sông Hậu (13,35.10
4
CFU/g) vào
mùa mưa. Mùa khô số lượngh vi khuẩn trong gan cá bệnh ở sông Tiền (5,31.10
4
CFU/g) cũng cao hơn sông Hậu (0,87. 10
4
CFU/g). Mùa mưa, số lượng vi khuẩn
phân lập được từ gan cá cũng cao hơn mùa khô trên cả hai khu vực sông Tiền và
sông Hậu. Số lượng vi khuẩn phân lập được từ gan cá chưa có biểu hiện bệnh lý bên
ngoài (cá “khỏe”) rất thấp ( 0,22. 10
4
CFU/g).
Bảng 11. Kết quả phân lập đònh lượng vi khuẩn tổng số từ gan cá bệnh và cá
chưa có biểu hiện bệnh lý bên ngoài trong thời gian nghiên cứu.
Mùa mưa Mùa khô
Số lượng vi khuẩn (10
4
CFU/g) Số lượng vi khuẩn (10
4
CFU/g)
Điểm thu
mẫu cá
bệnh
Số lượng
mẫu
Min Max Trung bình
Số lượng

hydrophila
A.
sobria
A.cavia
e
Pseudomonas
sp
1 Furazolidone S S S S S
2 Neomycine S S N S S
3 Gentamycine S S S S S
4 Penicilline R R R R R
5 Ampicilline R R R R R
6 Tetramycine R R S R R
7 Streptomycine R R S R R
8 Chloramphenicol R R S R R
9 Sulfamethoxazole N R S R N
* Ghi chú: R: kháng thuốc; S: nhạy cảm ; N: ít nhạy cảm
Hình 6. Kháng sinh đồ vi khuẩn Aeromonas hydrophila 52

+ Cá thí nghiệm: Cá thí nghiệm có chiều dài trung bình 9,5cm ( 8,0-10,3 cm),
khối lượng trung bình: 8,5 gr/con (5,3 -11,9 gr). Sau khi tiêm dung dòch muối sinh lý
(nhóm cá đối chứng) hoặc canh khuẩn, cá được nuôi trong bể kính theo từng nhóm,
mỗi bể 10 con (Hình7) . Nhiệt đôï không khí trung bình trong thời gian thí nghiệm 35
-37
o
C.

54Hình 7. Các bể kính bố trí thí nghiệm gây nhiễm trở lại
+ Kết quả theo dõi cá thí nghiệm: Thí nghiệm tiến hành từ ngày 8 tháng 5
năm 1998. Sau khi tiêm xong, cá vẫn bơi lội và bắt mồi bình thường. Sau 28 giờ,
một số cá có triệu chứng khác thường: trương bụng, bơi lội quay tròn không đònh
hướng, một số ngữa bụng, hô hấp mạnh, treo mình thẳng đứng trong nước. Biểu
hiện bên ngòai: xuất huyết vi bụng, vi hậu môn, vi đuôi. hậu môn lồi đỏ. Khoảng 2 -
3 giờ sau khi quan sát thấy các biểu hiện trên, một số cá chết. Giải phẩu các cá thể


Cá chết nhiều trong vòng 31- 46 giờ sau khi tiêm canh khuẩn, sau đó chết rãi
rác trong 7 ngày đầu. Từ ngày thứ 8 không thấy cá bò chết. Tỷ lệ sống của các nhóm
cá thí nghiệm được trình bày tại biểu đồ 5.

57
Biểu đồ 5: Tỷ lệ sống của các nhóm cá trong thí nghiệm
gây nhiễm bởi vi khuẩn A. hydrophila SHB681984
0
20
40
60
80
100
0 24 48 72 96 120 144 168 192 216 240
Thời gian thí nghiệm (giờ)
Tỷ lệ sống (%)
10 cfu/ml
10 cfu/ml
10 cfu/ml
Control

cho thấy A.
hydrophila SHB681984 là tác nhân gây bệnh không bắt buộc (opportunistic
pathogen) đối với cá ba sa trong điều kiện tiến hành thí nghiệm.
III.5.3 Tính chất gây bệnh của A. sobria STB511983
+ Cá thí nghiệm: Cá thí nghiệm có chiều dài trung bình 10,9cm (10,0 -
12,7cm), khối lượng trung bình: 9,3 g (8 -11 g). Sau khi tiêm dung dòch muối sinh lý
(nhóm cá đối chứng) hoặc canh khuẩn, cá được nuôi trong bể kính theo từng nhóm,
mỗi bể 10 con tương tự như trình bày phần trên. Nhiệt đôï không khí trung bình trong
thời gian thí nghiệm 33 - 36
o
C.
+ Kết quả theo dõi cá thí nghiệm: Thí nghiệm tiến hành từ ngày 23 tháng 7
năm 1998. Sau khi tiêm xong, cá vẫn bơi lội và bắt mồi bình thường. Trong suốt 15
ngày sau khi gây nhiễm, không phát hiện được dấu hiệu bệnh lý khác lạ xảy ra. Tỷ
lệ sống 15 ngày của các nhóm cá được gây nhiễm thực nghiệm với A. sobria
STB511983 liều lượng 0,1 ml dung dòch chứa 10
7
, 10
5
, 10
3
cfu/ml và nhóm đối
chứng là 100%.

59
+ Kết quả phân lập vi khuẩn từ cá thí nghiệm:
Sau ngày thứ 15, chọn 3 con cá đã được gây nhiễm với nồng độ 10
7
cfu/ml,
giải phẩu quan sát và phân lập vi khuẩn từ gan, thận, lách. Kết qủa quan sát nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status