nghiên cứu tình hình nuôi dưỡng trẻ dưới 5 tuổi tại một quần thể dân cư sống trên thuyền ở phường phú bình thành phố huế - Pdf 20


1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề dinh dưỡng trẻ em trong các cộng đồng người nghèo được xem
là vấn đề toàn cầu và được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm, nghiên cứu để tìm
ra giải pháp cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
Chăm lo cải thiện đời sống nhân dân là mối quan tâm hàng đầu của
Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm qua với sự hỗ trợ rất lớn của các cấp,
các ngành, đặc biệt là ngành Y tế, nhiều chương trình chăm sóc sức khoẻ và
dinh dưỡng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nhờ đó, tình trạng dinh
dưỡng và sức khoẻ của nhân dân được nâng lên, có nhiều tiến bộ đáng kể, tỷ
lệ suy dinh dưỡng hàng năm trên toàn quốc có giảm [32].
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách toàn diện và khách quan thì vấn đề
dinh dưỡng và sức khoẻ cộng đồng ở nước ta đang còn nhiều thách thức cần
được giải quyết. Thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng, thiếu các vi chất ở
trẻ em dưới 5 tuổi vẫn đang là vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng và cấp
bách hiện nay. Theo số liệu điều tra năm 1990 của Tổ chức Y tế Thế giới ở trẻ
dưới 5 tuổi có 44% trẻ suy dinh dưỡng protein-năng lượng, 50% thiếu máu
[22] [30]. Viện Dinh dưỡng thông báo năm 1995: suy dinh dưỡng chiếm
44,9%, năm 1999 là 36,7%, năm 2000 là: 33,1 %. Tại Thừa Thiên Huế năm
2000 là 34,4%, 2001 : 32%. Một kết quả điều tra khác ở một xã nghèo (Bùi
Đăng) tỉnh Bình Phước năm 2000: tỷ lệ suy dinh dưỡng là 36,6%, thiếu máu ở
trẻ em dưới 5 tuổi là 62,9% [55].
Tình trạng dinh dưỡng của một cá thể, của một quần thể không chỉ do
ăn uống, mà nó còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, như sự thiếu
kiến thức nuôi con của bà mẹ, bệnh tật, cân nặng lúc sinh Mà các yếu tố
này luôn thay đổi theo thời gian và không gian vì vậy việc đánh giá, giám sát
tình trạng dinh dưỡng là cần thiết. Điều này không chỉ do mục tiêu hạ thấp tỷ

2

Trong y học từ thời kỳ xa xưa người ta đã biết mối liên quan giữa thực
phẩm và sức khoẻ. Năm 1600 Cartier người Pháp đã biết điều trị bệnh
Scorbut bằng cách dùng nước sắc lá thông, mà ngày nay người ta biết nó chứa
nhiều Vitamin C. Hypocrate, ông tổ của ngành y đã rất quan tâm đến vấn đề
điều trị bằng ăn uống. Ông cho rằng: "Thức ăn cho bệnh nhân phải là một
phương tiện điều trị và trong phương tiện điều trị của chúng ta phải cóì các
chất dinh dưỡng". [ 22 ].
Từ cuối thế kỷ XII đến cuối thế kỷ XIII, vấn đề ăn điều trị ngày càng
được các nhà y học chú ý. Sidengai người Anh có thể coi là người kế thừa
những di chúc của Hypocrate, đã vạch ra là: "Để nhằm mục đích phòng bệnh
cùng như điều trị trong nhiều bệnh chỉ cần cho ăn những chế độ ăn kiêng
thích hợp và sống một đời sống có tổ chức hợp lý". Sidengai chống lại sự mê
tín thuốc men và yêu cầu phải: "Lấy bếp thay thế phòng bào chế".
Năm trăm năm trước đây Tuệ Tĩnh đã cho rằng: "Thức ăn là thuốc,
thuốc là thức ăn" và ông đã viết bộ Nam dược thần hiệu trong đó có rất nhiều
vị thuốc là thức ăn. Tuệ Tĩnh là người đặt nền móng có thể coi là rất sớm
trong việc trị bệnh bằng ăn uống ở nước ta. Ngoài những vấn đề bổ dưỡng
chung trong các đơn thuốc, như một nhà dinh dưỡng hiện đại, Tuệ Tĩnh còn
liệt kê các món ăn để chữa bệnh cụ thể các chứng bệnh như cảm, bị ho, lao, ỉa
chảy, lỵ, phù, đau lưng Tuệ Tĩnh đã chỉ định dùng gan gà, gan lợn, cá, đậu

4
xị, hành để điều trị chứng bệnh mờ mắt. Hiện nay chúng ta biết đó là bệnh
khô mắt do thiếu vitamin A.
Lê Hữu Trác (1720 - 1790) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, được coi là
một trong những nhà bác học uyên thâm, là nhà y học có học vấn sâu rộng về
mặt dinh dưỡng, Hải Thượng Lãn Ông đã xác định được rõ tầm quan trọng
của vấn đề ăn uống so với thuốc. Theo ông "có thuốc mà không có ăn uống
thì cũng đi đến chỗ chết". Do thấy rõ được vai trò ăn uống nên ông rất chú ý
tới việc chế biến thức ăn. Trong chế biến thực phẩm, ông cũng chú ý hướng

nhạt như dự án rắn. Năm 1927 tác giả Keller gọi là bệnh suy thái của trẻ ăn
bột. Năm 1926 Normet bác sỹ người Pháp đã mô tả bệnh sưng phù Annam
gặp nhiều ở Trung Nam bộ Việt Nam. Các tác giả Autret và Behar gọi suy
dinh dưỡng là hội chứng đa khiếm khuyết ở trẻ em, vì thấy rằng đứa trẻ bị
thiếu nhiều chất dinh dưỡng [10] [64]. Cho đến đầu năm 1930 nữ bác sỹ
Cicely Williams đã gặp nhiều trẻ suy dinh dưỡng ở vùng Châu Phi, đã dùng
thuật ngữ "Kwashiokor" [54] theo ngôn ngữ của người địa phương (Ghana)
có nghĩa là "Bệnh của đứa trẻ bị tách mẹ sớm" và đến nay vẫn được dùng
trong y văn.
Vào năm 1959, một số tác giả dùng danh từ "suy dinh dưỡng protein-
calo" để chỉ những đứa trẻ vừa đói protein, vừa đói năng lượng. Năm 1962
trong bản phúc trình tại khóa họp thứ sáu, tiểu ban dinh dưỡng FAO/WHO đã
chọn danh từ "suy dinh dưỡng protein calo". Năm 1966, Jellife đã đề nghị tên
gọi: "Suy dinh dưỡng protein-năng lượng (protein-energy-malnutrition) để chỉ
tình trạng thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng ở mức độ nặng hơn, vì mối
liên quan giữa thể phù và thể đét. Từ đó suy dinh dưỡng protein-năng lượng
(PEM) thay thế các thuật ngữ trước" [7].

6
1.2. TÌNH HÌNH DINH DƢỠNG TRẺ EM DƢỚI 5 TUỔI VÀ CÁC YẾU
TỐ ẢNH HƢỞNG
1.2.1.Tình hình dinh dƣỡng của trẻ em dƣới 5 tuổi
1.2.1.1. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả ăn uống và sử dụng các
chất dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng
giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng
không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện vấn đề sức khoẻ dinh dưỡng
hoặc cả hai. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi được coi là đại diện
cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng [3].
Cơ thể trẻ em là cơ thể đang lớn, trẻ tăng nhanh cả cân nặng và chiều

(mg)
PP
(mg)
C
(mg)
<1 tuổi
3-6 tháng
6-12 tháng

620
820

21
23

300
500

10
11

325
350

10,0
10,0

0,3
0,4



7
Ghi chú :
1. Protein : tính theo khẩu phần có hệ số sử dụng protein = 60.
2. Vitamin A : tính theo đơn vị Retinol.
1.2.1.2. Diễn biến tình hình suy dinh dưỡng trẻ em hiện nay
* Trên thế giới
Theo ước tính mới đây của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ suy dinh dưỡng
trẻ em có xu hướng giảm đi [4]. Mức giảm suy dinh dưỡng có sự khác nhau
giữa các khu vực trên thế giới. Mức giảm suy dinh dưỡng ở Châu Á mạnh
hơn so với các vùng khác trên thế giới và có ý nghĩa quan trọng, vì Châu Á có
tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao nhất cùng với số lượng dân số tập trung đông
nhất [8].
Bảng 1.2. Tỷ lệ trẻ SDD (0 - 60 tháng) theo vùng 1985 - 1995

Vùng
Tỷ lệ SDD (cân nặng/tuổi)
Mức tăng giảm hàng năm
(%)
1985
1990
1985
1985-1990
1990 - 1995
Cận sa mạc châu
Phi
25,8
28,0
27,2
0,44

- 0,28
Tại các nước đang phát triển hàng năm có trên 500 triệu trẻ em bị suy
dinh dưỡng và khoảng 10 triệu trẻ em tử vong [33].
Theo UNICEF, năm 1999 ở một số quốc gia trên thế giới tỷ lệ trẻ em
còi cọc có sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị. Tỷ lệ giữa nông thôn và
thành thị : Trung Quốc (4,3); Kadaxtan (2,8);péru (2,5); Nam Phi (1,7); Việt
Nam (3,1).[41]

8
Nhìn chung xu hướng giảm tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em còn
chậm. Hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em là một thách thức có tính chất toàn
cầu. Trong những năm tới, những năm đầu của thế kỷ mới.
* Ở Việt Nam
Hiện nay cùng với những thành tựu bước đầu của một nền kinh tế đang
trên đà đổi mới và phát triển, các ngành khoa học cũng đang phát huy tác
dụng, đặc biệt là ngành y tế đóng một vai trò rất quan trọng, đã cải thiện tình
trạng dinh dưỡng và sức khoẻ, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu: nâng
cao kiến thức thực hành dinh dưỡng hợp lý, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em,
giải quyết cơ bản tình trạng thiếu vitamin A, thiếu iot
Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đã giảm nhiều nếu tính từ năm 1985 (51,5%)
đến năm 1995 (44,9%), mỗi năm giảm trung bình 0,66%. Từ năm bắt đầu kế
hoạch quốc gia về dinh dưỡng (1995), chỉ sau 4 năm tỷ lệ suy dinh dưỡng đã
giảm xuống còn 36,7% (1999), 33,1% (2000) trung bình mỗi năm giảm 2%,
là tốc độ được quốc tế công nhận là giảm nhanh. Như vậy, mỗi năm khoảng
200.000 trẻ em dưới 5 tuổi thoát khỏi suy dinh dưỡng. Tình trạng suy dinh
dưỡng nặng đã giảm hẳn (0,8%), hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa. Tuy
nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nước ta vẫn ở mức rất cao so với quy định của
Tổ chức Y tế Thế giới. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam, tỷ lệ suy
dinh dưỡng liên quan đến vấn đề sinh thái và mang tính đặc thù, luôn luôn có

giữ vệ sinh cho trẻ và chăm sóc khi trẻ bị bệnh
Như vậy, việc thiếu thực phẩm cho trẻ liên quan nhiều đến bà mẹ và
người chăm sóc. Nếu bà mẹ và người chăm sóc hiểu biết tốt về dinh dưỡng thì
việc cung cấp đầy đủ thực phẩm cho trẻ là việc có thể làm được. Nhiều công
trình nghiên cứu chi thấy chế độ ăn của trẻ chủ yếu là gạo và rau, thiếu về số

10
lượng và mất cân đối về chất lượng chiếm tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn [10].
Gần đây tổng kết của Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách dinh dưỡng
quốc tế (IFPRI) cho thấy học vấn của bà mẹ đóng góp 43% đối với suy dinh
dưỡng. Trong khi an ninh thực phẩm đóng góp 26,1% đối với suy dinh
dưỡng. Điều này cho thấy yếu tố về cách nuôi dưỡng, cách chăm sóc trẻ (qua
trình độ học vấn của người mẹ) có vai trò quan trọng đến tình hình dinh
dưỡng của trẻ [9]. Nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về vấn đề các bà mẹ
thiếu kiến thức nuôi con, thiếu hiểu biết về dinh dưỡng và sức khoẻ đặc biệt là
các bà mẹ trẻ, các bà mẹ ở vùng xa xôi hẻo lánh, vùng nông thôn, những gia
đình khó khăn có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cao. Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự
đã chỉ rõ sự khác biệt về trình độ văn hóa cũng như kiến thức dinh dưỡng giữa
nhóm bà mẹ có con suy dinh dưỡng với nhóm khác. Trong số trẻ em suy dinh
dưỡng vào nhập viện có tới 60-70% là nguyên nhân do ăn uống mà chủ yếu
là mẹ thiếu kiến thức, cho trẻ ăn bổ sung quá sớm dưới 3 tháng là 76,7% [10]
[ 35] [37].
Các nghiên cứu của Nguyễn Đức Huệ, Phạm Thị Liên Hoa và cộng sự
cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em ở tỉnh Thừa Thiên Huế năm 1999 sau
khi triển khai dự án 3844/1 PAM có cải thiện rõ rệt, trẻ nhẹ cân giảm từ
49,6% xuống còn 37,6%; còi cọc giảm từ 56,5% xuống còn 45,7% [27].
Nghiên cứu của các tác giả Vũ Hoàng Việt [49], Phan Thị Kim Ngân [38], Đỗ
Văn Dũìng [14], Đinh Thị Bích Thủy [43], Hoàng Thị Liên [35], Vũ Huy
Chiến [10] cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ là
cân nặng lúc sinh, chế độ ăn bổ sung.

trước mắt cũng như lâu dài. Những trẻ em bị suy dinh dưỡng về sau thường
học kém, thể lực yếu, những bà mẹ bé nhỏ, ảnh hưởng đến sức lao động xã

12
hội và chất lượng thế hệ tương lai. Để có khái niệm cơ bản về chăm sóc dinh
dưỡng, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em. Năm 1997 UNICEF đã đưa ra
sơ đồ sau [8]
Sơ đồ : Chăm sóc dinh dƣỡng

1.3. VAI TRÒ CỦA CÁC VI CHẤT DINH DƢỠNG VÀ SỨC KHOẺ
1.3.1.Vitamin A và bệnh khô mắt:
Vitamin A đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể đặc biệt đối với các

tại nhà

Nguyên nhân
trực tiếp

Nguyên nhân
tiềm tàng

Nguyên nhân
cơ bản 13
tổ chức biểu mô đường hô hấp, đường tiêu hóa chống thoái hóa và chống
nhiễm trùng [57].
Hiện nay thiếu vitamin A và bệnh khô mắt đang là vấn đề dinh dưỡng
có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng ở nhiều nước đang phát triển. Theo Tổ chức Y
tế Thế giới hằng năm có khoảng 500.000 trẻ em bị mù do thiếu vitamin A.
Trong đó 2/3 số trẻ bị chết, 6-7 triệu trẻ bị thiếu vitamin A thể nhẹ, vừa. Cảm
nhiễm với bệnh nhiễm trùng: viêm phổi, ỉa chảy, sởi Theo số liệu của Viện
Mắt trung ương, có tới 50% nguyên nhân mù ở trẻ em là do di chứng của
thiếu vitamin A. Hiện nay thiếu vitamin A đang được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu [19] [33]. Theo Nguyễn Tấn Viên trong tổng kết tình hình tử vong
ở trẻ em bị suy dinh dưỡng nằm điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế (1994)
thì suy dinh dưỡng kèm theo thiếu vitamin A dẫn đến tử vong chiếm 33,3%
các trường hợp tử vong. Các nghiên cứu khác đánh giá tình trạng thiếu
vitamin A và đã đánh giá hiệu quả của việc bổ sung vitamin A trong viêm
phổi và bệnh tiêu chảy. [19] [20] [51] [53].
Các nghiên cứu gần đây cho thấy mối liên quan giữa thiếu vitamin A
với bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là bệnh nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu hóa. Theo

1.3.3. Sắt và bệnh thiếu máu dinh dƣỡng trong thiếu sắt
Sắt đóng vai trò rất quan trọng đối với cơ thể, cơ thể thiếu sắt sẽ gây
thiếu máu. Hiện nay thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt là vấn đề thiếu dinh
dưỡng lưu hành rộng rãi khắp thế giới, kể cả các nước đang phát triển, trước
hết là phụ nữ có thai và trẻ em. Theo số liệu điều tra năm 1990 của Tổ chức Y
tế Thế giới trẻ < 5 tuổi có đến 44% trẻ suy dinh dưỡng protein-năng lượng,
50% có thiếu máu [22] [58]. Ở Việt Nam, năm 1995, Viện Dinh dưỡng phối
hợp với Viện Sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng đã tiến hành một cuộc điều
tra toàn quốc về thiếu máu dinh dưỡng với sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật
của UNICEF và Trung tâm giám sát bệnh tật ở Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy tỷ

15
lệ thiếu máu ở trẻ em lứa tuổi: 6-24 tháng chiếm 60%, 24-60 tháng chiếm
29,8%. Trung bình trẻ em dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ 45,3% [34] [56].
Một trong những vai trò quan trọng khác đối với cơ thể, sắt còn tham
gia vào vai trò miễn dịch đối với cơ thể. Sắt rất cần thiết cho tổng hợp DNA
trong quá trình phân bào, sắt còn tham gia vào nhiều enzym can thiệp vào các
quá trình phân giải các vi khuẩn trong tế bào. Khi thừa sắt, tính nhạy cảm đối
với nhiễm khuẩn tăng.
Thiếu sắt thường đi kèm với thiếu protein-năng lượng, tuy vậy khi bổ
sung sắt cho trẻ suy dinh dưỡng cần khéo léo vì sắt cần được kết hợp với các
protein vận chuyển đúng tiêu chuẩn, nếu không sắt tự do sẽ là yếu tố thuận lợi
cho phát triển vi khuẩn. Vì thế, người ta khuyên chỉ nên bổ sung sắt từ ngày
thứ 5 hoặc thứ 7 của quá trình phục hồi dinh dưỡng [5].
1.3.4. Các vitamin nhóm B, C và miễn dịch
- Các vitamin nhóm B và miễn dịch: Trong các vitamin nhóm B, vai trò
của folat và pyridoxin đáng chú ý hơn cả.
+ Thiếu folat làm chậm sự tổng hợp các tế bào tham gia vào các cơ
chế miễn dịch. Qua nghiên cứu thực tế ở trẻ em và nhất là phụ nữ có thai,
thiếu folat thường đi kèm thiếu sắt là hai yếu tố gây thiếu máu dinh dưỡng.

dinh dưỡng tới sự phát triển của cơ thể. Cũng như phản ảnh kết quả cuối cùng
của việc cung cấp thực phẩm ăn vào, hấp thu, chuyển hóa các chất dinh
dưỡng của cơ thể.
Các số đo nhân trắc thường dùng để phát hiện các trường hợp suy dinh
dưỡng và thừa dinh dưỡng. Đồng thời, chúng cũng phản ánh các thông tin và
lịch sử dinh dưỡng của các cá thể hay của cộng đồng [34].
Để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng protein-năng lượng ở trẻ em
được đánh giá theo nhiều cách như: sự mất lớp mỡ dưới da, chu vi vùng cánh

17
tay (trẻ từ 1 đến 5 tuổi), tiêu chuẩn cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi,
cân nặng theo chiều cao. Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới thì các
chỉ tiêu thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là: cân nặng theo tuổi,
chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao, lấy quần thể NCHS (National
Center for Health Statistic) của Hoa kỳ làm quần thể tham chiếu
[34][60][61][63]. Ngày nay việc thống nhất sử dụng phương pháp phân loại
suy dinh dưỡng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá tình trạng
dinh dưỡng và so sánh các nguồn số liệu trên toàn cầu.
1.4.1.1. Cân nặng theo tuổi
Đây là chỉ tiêu được dùng sớm nhất và phổ biến nhất. Tổ chức Y tế Thế
giới (OMS năm 1981) đề nghị lấy điểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn (-
2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS để coi là nhẹ cân. Từ đó có thể chia
các mức độ sau đây [3] [34].
- Suy dinh dưỡng độ I: cân nặng dưới -2SD đến -3SD, tương đương với
cân nặng còn 70-80% so với cân nặng trẻ bình thường.
- Suy dinh dưỡng độ II: cân nặng dưới -3SD đến -4SD, tương đương
với cân nặng còn 60-70% so với cân nặng trẻ bình thường.
- Suy dinh dưỡng độ III: cân nặng -4SD, tương đương với cân nặng còn
<60% so với cân nặng trẻ bình thường.
- Những trẻ có cân nặng ở mức -2SD trở lên là bình thường.

Trên 90% (-2SD)
Dưới 90% (-2SD)
Bình thường
Gầy mòn
Còi cọc
Gầy mòn + còi
cọc
- Suy dinh dưỡng thể gầy mòn (wasting): biểu hiện tình trạng suy dinh
dưỡng cấp tính
- Suy dinh dưỡng thể còi cọc (Stunting): biểu hiện tình trạng suy dinh
dưỡng trong quá khứ.
- Thể gầy mòn + còi cọc: suy dinh dưỡng mãn tính.
1.4.1.2. Chiều cao theo tuổi:
Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài
hoặc thuộc về quá khứ làm trẻ dễ bị còi cọc (stunting). Thường lấy điểm
ngưỡng ở -2SD và -3SD so với quần thể tham chiếu NCHS [34].
1.4.1.3. Cân nặng theo chiều cao:
Cân nặng theo chiều cao thấp phản ảnh tình trạng thiếu dinh dưỡng ở
thời kỳ hiện tại, gần đây, làm cho trẻ ngừng lên cân hoặc sút cân (wasting).
Các điểm ngưỡng giống như 2 chỉ tiêu trên.
Gần đây, tình trạng thừa cân ở trẻ em đang là vấn đề được quan tâm ở
nhiều nước. Trong các điều tra sàng lọc, giới hạn "ngưỡng" có thể coi là thừa

19
cân khi số cân nặng theo chiều cao trên +2SD. Để xác định "béo", cần đo
thêm bề dày lớp mỡ dưới da. Tuy vậy, các điều tra cộng đồng, chỉ tiêu cân
nặng theo chiều cao là đủ đánh giá, vì đa số cá thể cân nặng theo chiều cao
trên + 2SD đều là béo [1] [34].
1.4.2. Điều tra khẩu phần ăn:
Nếu thiếu ăn sẽ giảm cân, thiếu máu, tăng khả năng mắc bệnh. Ngược

1.4.2.1. Phương pháp nhớ lại 24 giờ qua [3] [34] [45]
Trong phương pháp này, đối tượng kể lại tỉ mỉ những gì đã ăn ngày hôm
trước. Người phỏng vấn phải được huấn luyện kỹ để thu được các thông tin giá
trị, thường là tiếp xúc trực tiếp. Người phỏng vấn cần sử dụng các dụng cụ có
kích thước khác nhau (cốc, chén, thìa ) thuộc các kích cỡ thích hợp để đối
tượng có thể trả lời số lượng một cách chính xác tất cả các loại thực phẩm và
ghi chép tỉ mỉ trên phiếu điều tra, sau đó cán bộ điều tra có thể quy đổi ra đơn
vị trọng lượng các thực phẩm một cách hợp lý dựa vào album "Các món ăn
thông dụng" được xây dựng của Viện Dinh dưỡng. Nói chung, phương pháp
nhớ lại 24 giờ qua cho số liệu trung bình đáng tin cậy về tiêu thụ thực phẩm.
Khi cần biết sự giao động theo ngày giữa các cá thể thì nên làm thêm một số
ngày khác nhau (không liên tục). Nếu muốn biết giao động theo mùa thì nên
chọn mỗi mùa một ngày. Nhiều nghiên cứu cho thấy phương pháp hỏi ghi 24
giờ rất tốt để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, can thiệp dinh dưỡng.
Tuy nhiên sự thành công của phương pháp hỏi ghi 24 giờ phụ thuộc
vào trí nhớ của người được hỏi. Vì vậy phương pháp hỏi ghi 24 giờ nên kết
hợp với cân đong và các dụng cụ mẫu để tiện cho việc quy đổi thành trọng
lượng. Thời gian phỏng vấn nên kéo dài 15-20 phút. Trong hỏi ghi 24 giờ nên
chú ý các ngày lễ, tết, ngày ốm dễ làm sai lệch số liệu điều tra.
1.4.2.2. Điều tra tần xuất của thực phẩm [3] [34]
Thông qua hỏi trực tiếp từ mẫu điều tra có nêu các câu hỏi để đối tượng
trả lời và ghi số lần gặp thức ăn cụ thể trong một tuần lễ.

21
Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu tính thường xuyên của các
loại thực phẩm trong thời gian nghiên cứu. Nhờ phương pháp này người ta có
thể biết:
- Những thức ăn phổ biến nhất.
- Những thức ăn có số lần sử dụng cao nhất hay ít nhất.
- Những giao động về thực phẩm theo mùa.

của thời kỳ khá giả còn lại và hiện tại rơi vào nghèo đói.
+ Tư liệu sản xuất: Những người nghèo đói ít có tư liệu sản xuất, phần
lớn thô sơ, đất đai ít, đôi khi thiếu ruộng để sản xuất.
+ Vốn liếng để dành: Những người nghèo đói không có vốn để dành,
họ thường phải vay nợ và có những người đói rất gay gắt thường phải vay nợ
chỉ để mua lương thực cứu đói.
- Ngày 20/5/1997 Bộ Lao động-Thương binh Xã hội đã đưa ra cách tính
nghèo đói như sau:
+ Hộ đói (cho tất cả các vùng):
Hộ có mức thu nhập dưới 13kg gạo, tương đương với
<45.000đ/người/tháng.
+ Hộ nghèo:
* Miền núi, hải đảo: có mức thu nhập dưới 15kg gạo tương đương
với <55.000/người/tháng.
* Đồng bằng, trung du: có mức thu nhập dưới 20kg gạo, tương
đương với <70.000đ/tháng.
+ Hộ đủ ăn: trên 25kg gạo/người/tháng, tương ứng với
>90.000đ/người/tháng.
Ngoài ra, hộ đói nghèo còn phải sống trong những căn nhà tồi tàn, tạm
bợ, đồ dùng sinh hoạt, tư liệu sản xuất sơ sài, thô sơ. Không có vốn để dành,
luôn có nguy cơ bị đói.

23
- Ngày 01/01/2000 Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội đã đưa ra
quyết định điều chỉnh hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005: Theo mức thu nhập
bình quân đầu người trong hộ theo từng vùng cụ thể như sau :
* Vùng nông thôn miền núi, hải đảo < 80.000đ/tháng.
* Vùng nông thôn đồng bằng < 100.000đ/tháng.
* Vùng thành thị < 150.000đ/tháng.


- Thuyền Y tế lưu động : 01 Bác sĩ, 02 Y tá dưới sự lãnh đạo trực tiếp
của trung tâm Y tế thành phố tham gia khám chữa bệnh định kỳ cho những
người dân sống trên thuyền một ngày trong tuần
- Học sinh trường Trung học Y tế thường xuyên đến thực tập tại Trạm
Y tế.
Tuy cách trung tâm thành phố Huế không xa, nhưng chất lượng cuộc
sống của những người dân ở đây còn rất thấp, 2 đến 3 thế hệ cùng sống trên
một chiếc thuyền hoặc trong khu nhà tạm chật hẹp khoảng 10m2 xung quanh
bờ thành Mang Cá. Phong tục tập quán vẫn còn lạc hậu.
Trong những năm qua với sự nỗ lực quan tâm rất lớn của các cấp chính
quyền, các ngành, đặc biệt là mạng lưới Y tế cơ sở, các hoạt động văn hóa xã
hội và chăm sóc sức khỏe đều được triển khai ở phường nhưng vấn đề sức
khỏe của người dân ở đây đang là điều đáng quan tâm.
Một số hình ảnh tại quần thể dân cư sống trên thuyền phường Phú Bình
Ảnh 2.1 : Quang cảnh Tổ 14, phường Phú Bình, thành phố Huêú

Trích đoạn Vệ sinh môi trƣờn g: nguồn nƣớc uống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status