nghiên cứu nồng độ interleukin 6 huyết thanh trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi - Pdf 20

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một vấn đề sức khỏe của toàn thế
giới, vấn đề này có ảnh hưởng rất lớn và càng ngày càng gia tăng. Trung
bình từ 5 - 15% dân số người trưởng thành ở các nước công nghiệp phát
triển mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Hiện nay bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính là nguyên nhân đứng hàng thứ 12 trong các nguyên nhân gây tử vong
và tàn phế [4].
Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã tiên đoán rằng: bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính sẽ trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 3 trong các nguyên
nhân phổ biến và là nguyên nhân gây tàn phế hàng thứ 5 trong các nguyên
nhân phổ biến nhất của toàn thế giới vào năm 2020 [4], [20].
Ở Hoa Kỳ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện đứng hàng thứ tư
trong các nguyên nhân tử vong phổ biến nhất và là nguyên nhân tử vong
duy nhất càng ngày càng tăng lên trong suốt 30 năm qua [47], [59].
Gánh nặng chi phí cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã trở nên
khổng lồ , hiện nay chi phí cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã vượt qua
bệnh hen phế quản hơn 3 lần [27].
Điều này làm người ta phải quan tâm trở lại căn bệnh này, đặc biệt
đến các cơ chế tế bào và sinh học hầu tìm ra các phương thức điều trị mới.
Ở Việt Nam, từ những năm 1960 - 1970 viện chống Lao đã có một
số nghiên cứu về viêm phế quản mạn với tỷ lệ mắc 4 - 5% [4],[10].
Tại hội thảo hưởng ứng “Ngày bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính toàn cầu”
16-11-2005 tại Hà Nội ghi nhận kết quả nghiên cứu trên 2600 người ở Hà Nội
: 6,8% người trên 40 tuổi bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tại Khoa hô hấp
Bệnh viện Bạch Mai số bệnh nhân nội trú điều trị căn bệnh này chiếm 26%.
Nghiên cứu dịch tể học về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở 12 nước Châu Á
1
Thái Bình Dương thấy tỉ lệ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thấp nhất là 3,5%
(HongKong, Singapore) và cao nhất là 6,7% (Việt Nam) [5].
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một bệnh viêm phức tạp liên quan đến
nhiều loại tế bào cấu trúc và nhiều loại tế bào viêm khác nhau, và tất cả loại tế

2.Khảo sát nồng độ trung bình hsCRP huyết thanh, tốc độ lắng máu,
số lượng bạch cầu, tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính trong máu và mối
tương quan với nồng độ IL6 trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
3. Khảo sát sự thay đổi các thành phần của khí máu động mạch (PaO
2
,
SaO
2
, PaCO
2
, dự trữ kiềm, pH) và mối tương quan với nồng độ IL6 trong
đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Về mặt các bệnh lý hô hấp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT)
thu hút rất nhiều sự quan tâm của các thầy thuốc và các nhà nghiên cứu vì
tần suất mắc bệnh càng ngày càng cao. Cho nên có rất nhiều tài liệu của các
hội y học lớn trên thế giới biên soạn về vấn đề này.
1995 Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ công bố tài liệu “Tiêu chuẩn chẩn
đoán và chăm sóc bệnh nhân BPTNMT”. Đây là một tài liệu dài 121 trang
có 265 tài liệu tham khảo do hội đồng khoa học của Hội lồng ngực Hoa kỳ
(ATS) biên soạn [4].
2001, Viện Huyết học - Tim mạch - Hô hấp Hoa Kỳ và Tổ Chức Y
Tế Thế Giới đưa ra "Chương trình khởi động toàn cầu về BPTNMT" viết
tắt là GOLD. Hằng năm, hội đồng khoa học của GOLD lại nhóm họp và
sửa đổi lại một số nội dung của GOLD dựa trên kết quả nghiên cứu của các
nhà khoa học trên toàn thế giới. Vì vậy, hầu như GOLD được cập nhật
hằng năm và mới nhất là GOLD 2007 [48].

1.1.3.2. Dung tích sống gắng sức (FVC)
FVC là sự chênh lệch thể tích ghi được ở miệng giữa lúc hít vào
hoàn toàn và thở ra hoàn toàn với sự cố gắng hết mức. Dung tích sống gắng
sức không giúp đánh giá hội chứng tắc nghẽn, nhưng sự giảm của FVC
chứng tỏ có trở ngại trong thì thở ra hoặc một số bệnh lý như khí phế
thủng.
5
1.1.3.3. Tỷ FEV1/FVC
Đây là thông số nhạy cảm để chẩn đoán hội chứng tắc nghẽn phế
quản, nhưng không khách quan bằng FEV1 vì còn ảnh hưởng của FVC.
1.1.4. Phân chia các giai đoạn BPTNMT
Phân chia các giai đoạn BPTNMT dựa vào FEV1 sau khi dùng thuốc
giãn phế quản, theo GOLD [2], [47].
Giai đoạn 1 nhẹ FEV1/FVC < 0,70
FEV1 ≥ 80% giá trị lý thuyết
Giai đoạn 2 Vừa FEV1/FVC < 0,70
50%≤FEV1< 80% giá trị lý thuyết
Giai đoạn 3 Nặng FEV1/FVC < 0,70
30%≤FEV1< 50% giá trị lý thuyết
Giai đoạn 4 Rất nặng FEV1/FVC < 0,70
FEV1<30% giá trị lý thuyết kèm
với suy hô hấp mãn
1.1.5. Yếu tố nguy cơ
GOLD và ATS thống nhất nhau về yếu tố nguy cơ của BPTNMT
[2], [20], [47], [59].
1.1.5.1. Các yếu tố bên ngoài
- Thuốc lá: là nguyên nhân chính của bệnh suất và tử vong do
BPTNMT. Ngưng thuốc lá làm giảm các số liệu trên. Theo ATS, 15%
những người hút thuốc lá sẽ có triệu chứng lâm sàng của BPTNMT, 80 -
90% bệnh nhân BPTNMT nghiện thuốc lá.

Những bệnh nhân BPTNMT có một sự gia tăng các tế bào viêm (đặc
biệt là lympho T) trong động mạch phổi.
- Bạch cầu đa nhân trung tính đường thở: Bạch cầu đa nhân trung
tính cũng gia tăng số lượng và liên quan với độ nặng của BPTNMT.
-Dưỡng bào và bạch cầu ưa acid cũng tăng trong thành đường dẫn
khí và những chất trung gian của dưỡng bào cũng hiện diện trong chất dịch
rửa phế quản-phế nang của bệnh nhân BPTNMT [60],[61], [62], [69].
- Phần lớn quá trình viêm trong BPTNMT xảy ra tại các đường thở
ngoại vi (tiểu phế quản) và tại nhu mô phổi.
7
- Các tiểu phế quản bị tắc nghẽn bởi sự xơ hoá và thâm nhiễm bởi
các TB lympho T và các đại thực bào.
- Sự huỷ hoại nhu mô phổi và số lượng gia tăng của các đại thực bào
và lympho T, ở đây là tế bào CD8
+
(TB độc tế bào) [28].
Hút thuốc lá và các chất kích thích khác sẽ hoạt hoá các đại thực bào
và tế bào biểu mô đường thở. Điều này sẽ phóng thích các yếu tố hoá
hướng động BCĐN trung tính bao gồm IL8 và leukotriene B4. Rồi BCĐN
trung tính và đại thực bào giải phóng các men tiêu protein .
Các men tiêu protein này sẽ phá vỡ mô liên kết của nhu mô phổi gây
khí phế thủng và gây tăng tiết dịch nhầy.
Bình thường men tiêu protein bị trung hoà bởi kháng men tiêu
protein, bao gồm alppha 1 antitrypsin, chất ức-chế-tiết leukoprotease và
chất ức chế metalloproteinase nhu mô đệm của mô.
- Tế bào T độc tế bào (CD8+) cũng liên quan đến phản ứng viêm.
MPC-1 biểu thị protein 1 hoá hướng động của monocyte, chất này được
phóng thích bởi các đại thực bào
Leukotrien B4 là một hoá hướng động đối với bạch cầu trung tính,
nồng độ tăng lên trong đàm bệnh nhân BPTNMT.

đệm (collagenase) và metalloproteinase 9 nhu mô đệm (gelatinase) trong
dịch rửa phế quản tăng lên, 2 men này được tiết ra bởi đại thực bào. Kết
quả này chứng minh khả năng gây khí phế thủng của các metalloproteinase
nhu mô đệm. Các metalloproteinase nhu mô đệm sinh ra các hóa hướng
động thu hút các đại thực bào vào nhu mô phổi và đường thở.
Bình thường, tất cả các men tiêu protein đều bị trung hoà bởi kháng
men tiêu protein.
- Các kháng men tiêu protein của huyết thanh
- Alpha 1- antitrypsin trong nhu mô phổi
9
- Các chất của biểu mô đường thở tác dụng ức chế leukoprotease.
- 3 chất ức chế của mô đối với metalloproteinase nhu mô đệm
(được gọi là TIMP 1,2,3) có tác dụng trung hoà các metalloproteinase nhu
mô đệm [28].
Khói thuốc lá có thể gây nên phản ứng viêm và làm giải phóng mạnh
các men tiêu protein. Bình thường thì các kháng men tiêu protein cũng
được tiết ra đủ để bảo vệ nhu mô phổi.
Ở người hút thuốc lá, đặc biệt là người đang bị BPTNMT tiến triển,
sự sản xuất các kháng men tiêu protein này không đủ để trung hoà tác hại
của men tiêu protein gia tăng, bởi vì biểu hiện của kiểu gen bất thường, thể
hiện sự tổn thương chức năng sản xuất những protein này.
Trong BPTNMT sự cân bằng dường như dịch chuyển theo hướng
thuận lợi cho tăng ly giải protein [28].
1.1.6.4. Stress oxy hoá
Trong BPTNMT có một sự mất quân bình rõ ràng chất oxy hóa và
chất chống oxy hóa,
Những chỉ điểm của stress oxy hóa được tìm thấy trong dịch, hơi thở
và nước tiểu của những người hút thuốc lá và bệnh nhân BPTNMT.
- Hydrogen peroxide (H
2

1.1.7. Sinh lý bệnh
1.1.7.1. Sự tăng tiết chất nhầy và rối loạn chức năng hô hấp
Sự tăng tiết chất nhầy trong BPTNMT do kích thích các tuyến tiết
chất nhầy bị phì đại và số lượng những tế bào ly gia tăng bởi những chất
trung gian gây viêm như leukotrien, proteinase và neuropeptides. Những tế
bào lông bị dị sản dạng vảy dẫn đến sự suy giảm hệ thống thanh thải nhầy -
lông. Những biến đổi này thường là những bất thường bệnh lý hàng đầu
trong BPTNMT [2], [ 17], [20], [48].
1.1.7.2. Giới hạn lưu lượng khí thở và sự căng phồng phổi
Sự giới hạn lưu lượng khí thở là biến đổi quan trọng trong
BPTNMT. Sự giới hạn nầy hầu hết không hồi phục, một số ít có thể hồi
phục. Sự không hồi phục giới hạn lưu lượng khí thở chiếm đa số do hiện
tượng tái cấu trúc, xơ hóa và hẹp đường thở nhỏ gây nên sự tắc nghẽn cố
định đường thở và hậu quả là gia tăng kháng lực đường thở.
Những vị trí tổn thương trong BPTNMT là những đường thở nhỏ
bao gồm những phế quản và tiểu phế quản có khẩu kính < 2mm. Trong
BPTNMT kháng lực đường thở nhỏ tăng gấp đôi.
Sự phá hủy phế bào (khí phế thủng) ngăn cản khả năng duy trì sự mở
của những đường thở nhỏ và làm mất tính đàn hồi của phổi, từ đó làm giảm
11
áp lực trong lòng phế bào. Sự phá hủy phế bào, thành ngoài của đường thở
nhỏ và sự mất tính đàn hồi của phổi do khí phế thủng đã đóng góp vào cơ
chế gây tắc nghẽn đường thở ngoại vi.
Sự co thắt cơ trơn đường thở và sự tích tụ chất nhầy và xuất tiết
huyết tương trong lòng đường thở có thể là nguyên nhân gây giới hạn
đường thở có thể hồi phục do điều trị.
Sự giới hạn lưu lượng khí được biểu hiện bởi sự giảm FEV1 và tỉ
FEV1/FVC, trong đó tỉ FEV1/FVC giảm thường là dấu hiệu đầu tiên của
sự giới hạn lưu lượng khí. Song song với sự giảm trên, dung dịch cặn chức
năng gia tăng do kết hợp giảm khả năng đàn hồi của phổi với sự đóng lại

áp lực động mạch phổi.
Sự co thắt mạch ngoài nguyên nhân do thiếu oxy máu còn do sự tổng
hợp hay phóng thích NO bị giảm và sự tiết bất thường của những peptid co
mạch như endothelin 1 (ET1) được sản xuất bởi các tế bào viêm ở những
bệnh nhân bị BPTNMT đã lâu [17].
1.1.7.5. Những hậu quả hệ thống
Đó là viêm hệ thống, rối loạn chức năng, viêm hệ thống bao gồm những
stress oxy hóa, những cytokin bất thường lưu hành và hoạt hóa của những tế
bào viêm ảnh hưởng đến nhiều cơ quan ngoài phổi [2], [17], [20], [48].
1.2. TỔNG QUAN VỀ CYTOKIN
1.2.1. Khái niệm và định nghĩa
Đáp ứng miễn dịch là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa nhiều
loại tế bào. Các tế bào này liên lạc với nhau qua các yếu tố hòa tan gọi là
cytokine. Ngoài ra còn có tên gọi chung cho một số cytokin như interleukin
có nghĩa là chất tác dụng giữa các bạch cầu với nhau.
Một số đặc điểm của cytokin là:
- Tế bào sản xuất: một cytokin có thể do nhiều loại tế bào khác nhau sản
xuất, ngược lại một loại tế bào có thể sản xuất nhiều loại cytokin khác nhau.
- Tế bào đích: một cytokin có thể có nhiều hoạt tính khác nhau trên
các loại tế bào khác nhau (pleiotropie) và hoạt tính sinh học có được có thể
từ các hiệu quả của những phân tử cytokin khác nhau. Tác dụng của chúng
13
không kéo dài và cũng không quá xa nhưng chúng tạo thành mạng lưới
hoạt động rất phức tạp.
Định nghĩa cytokin: cytokin là các protein của hệ thống đáp ứng
miễn dịch làm thay đổi phản ứng sinh học, kết hợp với các kháng thể và tế
bào T nhằm khuyếch đại đáp ứng miễn dịch [9].
1.2.2. Phân loại
- Phân loại theo nguồn gốc
+ Monokin: do đại thực bào tổng hợp như IL-1, TNF-α, IFN-α và β,

gia đáp ứng miễn dịch.
Thực nghiệm cho thấy nhóm tế bào Th (CD4+) sản xuất các cytokin
sau khi nhận diện các phân tử peptid kháng nguyên được trình diện bởi
phân tử MHC bậc II [8], [9].
1.2.4. Đặc tính chung của các cytokin
Cytokin là các polypeptid được sản xuất khi có sự kích thích của vi
sinh vật hay các kháng nguyên khác nhằm trung gian và điều hòa các phản
ứng miễn dịch và viêm. Mặc dù cytokin có cấu trúc khác nhau nhưng
chúng có nhiều tính chất chung.
- Cytokin được bài tiết với lượng nhỏ và tự hạn chế.
- Phản ứng của cytokin thường đa hướng và trùng lặp
- Cytokin này thường ảnh hưởng đến sinh tổng hợp và tác động của
cytokin khác.
- Tác động của cytokin có thể mang tính cục bộ hoặc hệ thống
- Cytokin bắt đầu tác động của mình nhờ gắn vào thụ thể đặc hiệu
của mình trên màng tế bào đích.
- Những tín hiệu bên ngoài có thể điều hòa sự bộc lộ của thụ thể
cytokin vì thế điều hòa luôn cả đáp ứng của cytokin.
15
- Tác động của đa số cytokin trên tế bào là tạo ra biến đổi biểu hiện
gen, làm xuất hiện các chức năng mới và đôi khi gây tăng sinh tế bào đích
[9].
1.2.5. Chức năng của cytokin
Cytokin có 3 chức năng chính
-Làm chất trung gian và điều hòa miễn dịch bẩm sinh
Đây là các cytokin được sản xuất bởi thực bào đơn nhân. Việc sản
xuất các cytokin này được kích thích bởi các sản phẩm của vi khuẩn như
lipopolysaccharid (LPS) hoặc virus như RNA chuỗi kép và chúng hoạt
động như là một bộ phận của hệ miễn dịch bẩm sinh. Cũng có khi các
cytokin này được sản xuất do kích thích của tế bào T đặc hiệu kháng

còn do lympho T CD4
+
sản xuất và có ảnh hưởng quá trình chín của
lympho B trở thành tương bào sản xuất kháng thể [6]
Bảng 1.1.Vai trò của các cytokin tiền viêm IL1, IL6, TNF alpha
Gan Tuỷ xương Vùng dưới
đồi
Cơ , mô mỡ tế bào B
Protein
pha cấp
Huy động bạch
cầu hạt trung
tính
Sốt Tăng dị hoá
proteinvà
lipid
Trưởng
thành
Di tản
Opsomin
hoá
thực bào giảm nhân
lên của virus,
vi khuẩn
Khởi động
đáp ứng
miễn dịch
đặc hiệu
1.3.2. Nguồn sản xuất interleukin6 ở bệnh nhân BPTNMT
Interleukin-6 (IL6) là một protein gồm 184 acid amin, có trọng lượng

này phóng thích các cytokin tiền viêm như IL6, IL8.
+ Các đại thực bào cũng được hoạt hóa như tế bào biểu mô ở trên.
+ Khói thuốc lá có thể hoạt hóa các bổ thể.
18
Các cơ chế này dẫn đến việc tuyển mộ và hoạt hóa các tế bào viêm
khác nhau hiện diện trong phổi người hút thuốc lá.
Các tế bào viêm này tự chúng là nguồn cytokin phong phú, các
cytokin này lại tác động lên tế bào biểu mô phế quản và nhu mô phổi.
Ngoài ra khói thuốc lá có chứa nhiều chất oxy hóa gây tổn thương
phổi. Tế bào bị oxy hóa sản xuất ra các sản phẩm, sản phẩm của quá trình
peroxid hóa lipid lại là các chất trung gian hóa học tiền viêm.
Chất oxy hóa nội bào có thể đóng vai trong việc dẫn truyền tín hiệu.
Ví dụ chất ức chế nuclear transcription factor kappa B (NFKB) bị bất hoạt
bởi chất oxy hóa, dẫn đến hoạt hóa NFKB, thông qua NFKB giải phóng
nhiều cytokin như IL8, IL6 [53]
Thêm nữa IL6 là một myokin tức là một cytokin được sản xuất bởi
cơ, IL6 tăng lên trong đáp ứng với sự co cơ[33]
Tế bào xơ non cũng tiết ra IL6 để kích thích tạo xương [46]
1.3.3. Thụ thể của IL6
- IL6 có 2 loại thụ thể, thụ thể gắn màng và thụ thể hòa tan.
- Phức hợp thụ thể của IL6 gồm 2 glycoprotein gắn màng riêng biệt,
một glycoprotein 80 KDa (ký hiệu IL - 6R hay CD - 126) và 1 glycoprotein
130 KDa (ký hiệu gp 130, CD 130).
- Sự tiết gp 130 được tìm thấy ở hầu hết các cơ quan tim, thận, lách,
gan, phổi, nhau thai, mỡ.
- Nhưng thụ thể IL6 (IL-6R) chỉ có ở gan và các loại bạch cầu như:
BC đơn nhân, BCĐN trung tính, lympho T và lympho B.
- IL6 còn có một loại thụ thể hòa tan nữa (ký hiệu SIL-6R). Thụ thể này
đã được tìm thấy trong huyết thanh người, trong nước tiểu tinh lọc [45]
1.3.4. IL6 và các biểu hiện toàn thân trong BPTNMT

thuốc lá và có những đợt trội lên [35].
20
Dưới tác động của khói thuốc lá, của nhiễm khuẩn…TB biểu mô
của đường thở sẽ mẫn cảm rồi tiết ra các cytokin như TNF, IL6, IL8… [55]
Song CH, Kim CH đã thu lấy đàm của bệnh nhân BPTNMT và khảo
sát thì thấy ở đợt cấp BPTNMT trong đàm có tăng cả IL6, IL8, TNFα, tăng
NF-KB hoạt hoá [53].
1.3.3.2. Phản ứng viêm toàn thân trong BPTNMT
Người ta phát hiện trong BPTNMT có một sự tăng và hoạt hóa của
BCĐN trung tính lưu hành trong máu, một sự tăng nồng độ TNF alpha, IL6
và tăng nồng độ thụ thể hòa tan của TNF alpha và IL6 cũng như một sự
tăng các protein pha cấp là protein phản ứng C (CRP) và fibrinogen trong
máu [60].
Người ta cho rằng có 3 yếu tố đóng vai trò quan trọng trong phản
ứng viêm toàn thân là:
+ Hút thuốc lá
+ Giảm oxy máu
+ Một sự vượt mức của phản ứng viêm tại chỗ vào trong khu vực
toàn thân [68].
1.3.3.3. Rối loạn cơ
Theo Anderson: chính IL6 có vai trò quan trọng trong yếu cơ [25]
Bệnh nhân BPTNMT có những hạn chế có nguồn gốc từ cơ.
Khó thở được giải thích chủ yếu bởi sự tăng tải và bởi sự giảm khả
năng của cơ hít vào, đứng đầu là cơ hoành. Cơ này bị đặt trong những điều
kiện cơ học không thuận lợi vì sự giãn ra của phổi. Để chống lại sự mệt
mỏi, cơ hoành phản ứng bằng cách gia tăng mật độ mao mạch và tăng
thành phần sợi cơ típ 1 [61], [68].
Biện pháp đo khách quan đã chứng minh sự mệt mỏi cơ tứ đầu đùi ở
1/2 - 2/3 số bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Khối lượng cơ tứ đầu đùi cũng
giảm ở những bệnh nhân BPTNMT khi so sánh với nhóm chứng có cùng

+ Tăng dị hóa
+ Cortisol
Sẽ gây teo chọn lọc các sợi cơ típ 2 (chủ yếu ở cơ đầu chi), ức chế
tổng hợp protein sợi cơ và tăng dị hóa các sợi cơ.
22
Do đó, điều trị corticoide liều trung bình 30mg/ngày trong 10 - 14
ngày trong đợt cấp BPTNMT nhưng không được kéo dài.
Như vậy, rối loạn chức năng cơ ở bệnh nhân BPTNMT có nhiều yếu
tố tham gia, giảm hoạt động cơ thứ phát do khó thở, do bệnh cơ vì
corticoide và do tăng dị hóa tạo nên một vòng luẩn quẩn.
1.3.3.4. Loãng xương
Loãng xương là một bệnh của hệ xương đặc trưng bởi sự giảm vi cấu
trúc của mô xương làm tăng cao nguy cơ gãy xương [46], [48], [68].
Ở bệnh nhân BPTNMT tần suất loãng xương là 20 - 30%.
Nguyên nhân loãng xương trong BPTNMT gồm nhiều yếu tố.
- Hậu quả trực tiếp của phản ứng viêm tại phổi.
- Điều trị corticoide
- Sự lão hóa chung của cơ thể
- Thói quen cá nhân: ít vận động
Nguy cơ loãng xương là lớn hơn ở người hút thuốc lá so với không
hút (nguy cơ tương đối là 2,3) và nguy cơ này tăng lên 1,009 khi chỉ số hút
thuốc lá tăng lên 1 gói/năm.
Theo Anderson, IL6 gây mất xương ở bệnh nhân BPTNMT [25].
Theo Fabbri và cs, bệnh nhân BPTNMT có nguy cơ loãng xương
cao ngay cả khi không dùng corticoide, gãy cột sống ở nam giới mắc
BPTNMT không dùng corticoie là ≤ 50%. Loãng xương sau mãn kinh liên
quan với nồng độ cao của IL6 và TNFalpha huyết thanh và giảm tế bào tạo
xương được chứng minh trong những bệnh nhân BPTNMT [39].
1.3.3.5. Sự suy mòn ở bệnh nhân BPTNMT
Sự suy mòn được đánh giá dựa vào chỉ số khối mỡ tự do (fat- free mass

/HCO
3
-)
- Hệ đệm không phải bicarbonat gồm: hemoglobin (HHb/Hb-), các
protein trong tế bào (HPr/Pr-), các phosphat (H
2
PO
4
-/HPO
4
-
), ammonia
(NH
3
/NH
4
-
).
Khả năng đệm toàn bộ là 15mEq/kg trọng lượng cơ thể. Bicarbonat là
hệ đệm quan trọng nhất trong khoang dịch ngoài tế bào. Hemoglobin, dù chỉ
24
nằm trong hồng cầu, cũng là một hệ đệm quan trọng trong máu. Các protein
khác có thể đóng vai trò đệm quan trọng ở khoang dịch trong tế bào [19],
[22].
1.4.1.1. Hệ đệm bicarbonat (H2CO3/HCO3)
- Oxy hóa carbonhydrat và mỡ sinh ra CO
2
(20000mmol/ngày) và
nước; CO
2

pH = pK + log {[HCO
3
-
] / 0,03 PaCO
2
}
- Một dạng phương trình Henderson - Hasselbalch đơn giản, thực
dụng và rất hữu ích trong lâm sàng vì pH dễ dàng chuyển đổi thành [H+]:
[H+] = 24 x PaCO
2
/ [HCO
3
-
]
Cơ chế duy trì kho bicarbonat (HCO
3
-
pool) cơ thể:
Chuyển hóa tế bào sinh ra 20.000 mmol/L ngày CO
2
sẽ được thải
qua phổi và 20 mEq/ngày acid cố định không bay hơi vào khoang dịch
ngoài tế bào. Chế độ ăn và mất qua phân chiếm 40 mEq/ngày HCO
3
-
.
Trong 4330 mEq/ngày HCO
3
-
được lọc qua thận, 3900 mEq/ngày được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status