CHƯƠNG IV
SỰ QUÁ SUY NGHĨ VÀ QUÁ PHÂN TÍCH TÂM LÝ- ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ TỚI VUI THÍCH VÀ ĐAU KHỔ
Vui thích và đau khổ đều do những quy tắc về sinh tồn mà có . Khi ta
không theo những nguyên tắc đó thì chúng biến đi, thành ra hai bệnh rất
thông thường và rất nặng : một bệnh phát sinh do sự phân tích tâm lý một
cách quá độ ; một bệnh phát sinh do sự bắt buộc phải làm một việc không
bao giờ thay đổi .
I. Những cái hại của sự quá phân tích về tâm lý : Không biết vui,
không biết thưởng cái đẹp và hoá ra hay chê bai, hay ghét ,hay sợ
Bệnh thứ nhất được tả trong các tiểu thuyết của Paul Bourget. Những
nhân vật trong các tiểu thuyết ấy có tài tự xét lắm. Họ như có nhiều tâm hồn
: một tâm hồn cảm, một tâm hồn thấy mình cảm; một tâm hồn suy tưởng,
một tâm hồn thấy mình suy tưởng. Óc họ luôn luôn phân tích tư tưởng ra
từng mảnh một. Luôn luôn họ cần có những cảm giác mới và phải thay đổi
nguyên nhân của những cảm giác đó. Bệnh phân tích đến cực độ, bệnh “nhơi
tâm lý” ấy, bệnh luôn luôn tự xoay tròn ở chung quanh mình ấy, chưa bao
giờ nặng bằng bây giờ.
Cái hại thứ nhất là nó làm cho vui thích tan đi, vì phải hoạt động có
điều độ mới thấy vui thích được, vì quá phân tích cái vui ra thì thấy nó phù
du quá mong manh quá. Sau cùng vì nó có nhiều cái vui hình như biết mắc
cỡ, đi tìm chỗ khuất mà tránh : thần Ái Tình chạy trốn khi Psyché tò mò cầm
đuốc lại soi. Cho nên kẻ nào tự phân tích mình quá thì sống cũng như chết
rồi. Người xưa tin rằng hễ ai dám nhìn thẳng vào mặt Thượng đế hoặc dám
nhấc tấm khăn che mặt thần Isis lên thì sẽ bị chết ngay tức khắc, có lẽ là
nghĩa đó chăng ?
Đứng trước một cảnh đẹp, nếu ta không muốn chỉ thưởng thức thôi
mà còn muốn lý luận xem ta thưởng thức có đúng không, phân tích xem tâm
hồn ta có những sự thay đổi gì, muốn hiểu tại sao nó thay đổi và thay đổi ra
sao, thì cái vui của ta yếu đi, mất đi ngay.
cả nhiệt tình, mất cả thiên tính của họ hoá ra như nhút nhát, đa nghi, do đó
không có nghị lực nữa. Flaubert tự thú: “Cái thói tệ hại phân tích tâm lý làm
cho tinh lực của tôi kiệt đi”. Amiel cũng tự thú như vậy.
Nhưng như thế có phải là ta không nên suy nghĩ kỹ không? Không.
Quá suy nghĩ là hại chứ không phải không suy nghĩ hại. Phải chọn lúc mà
suy nghĩ. Để cho sự suy nghĩ ngăn trở hoạt động của ta thì không nên, nhưng
để cho dẫn đường, nâng đỡ sự hoạt đông như Stendahl và Napoléon thì rất
nên .
III. Nguyên do của bệnh phân tích tâm lý
Sở dĩ thế hệ bây giờ mắc bệnh dịch phân tích tâm lý đó là vì:
1) Cha mẹ thương con quá, thương một cách mù quáng, nhẹ dạ.
Chúng hơi khó ở một chút ư, là ta cuống quýt lên, cuống quýt hiện ra mặt. “
Con đau ư, cưng? -Dạ -Đau đâu con – Con không biết- Chắc con đau đầu…
Con tôi nóng rồi … Cổ họng có khô không con? ”
Hỏi dồn dập như vậy, tất nhiên là cậu bé phải lo ngại, tự hỏi xem có
bệnh gì trong những bệnh ấy không, mà rồi bao giờ cũng tìm ra được một
bệnh hay nhiều bệnh nữa. – Chúng cứ giữ cái thói suy xét, tự phân tích ấy thì
rồi sau này, khi lớn lên, hễ thấy đau khổ là run lên, thấy khó nhọc là lùi lại.
2) Ở trường, người ta không săn sóc quá đến sức khỏe của chúng như
vậy, nhưng người ta lại để chúng ngồi yên học một mình, cho chúng dịp mơ
mộng hồi lâu, nhớ lại những vui khổ đã qua, khi ở với cha mẹ. Hay là người
ta bắt chúng giư kín nỗi lòng, không thổ lộ được với ai. Sau cùng, có nhiều
thầy học dạy chúng thưởng thức những tác phẩm hay, cảm phục những hành
vi đẹp mà tập cho chúng yêu phê bình, thích lý luận. Người ta trọng trí dục
hơn đức dục, trái hẳn với hồi xưa .
Ra khỏi trường, chúng tiếp xúc ngay với văn chương hiện đại, nhất là
những tiểu thuyết tâm lý ở trong đó tâm hồn người ta được moi móc cặn kẽ.
Dầu không muốn đi nữa, người ta cũng vô tình bắt chước những nhân vật
trong tiểu thuyết. Người ta cũng tự xét ngưòi ta, tự mổ xẻ người ta, rồi say
mê những nỗi đau khổ, cả những đau khổ tưởng tượng … và lấy thế làm tự